Suốt tuần qua, vụ “cây đinh năm tấc” liên quan đến cuộc khai quật hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng ở Sài Gòn đã gây xôn xao trên mạng xã hội.
Nhưng đằng sau lời kể về cây đinh dài đến nửa mét ấy là câu hỏi đặt ra về tính trung thực của truyền thông nhà nước, trách nhiệm của chính quyền trong việc kiểm chứng thông tin và cách ký ức chiến tranh tiếp tục được chế độ khai thác để nuôi dưỡng lòng hận thù đen tối giữa những người Việt Nam.
…Một cây đinh dài nửa mét, được cho là găm vào đầu ngón tay của một người đã chết cách đây gần 60 năm, bỗng nhiên trở thành đề tài gây tranh cãi trên mạng xã hội Việt Nam sáu ngày nay. Câu chuyện xuất phát từ lời kể của bác sĩ quân y Trần Văn Bản, 82 tuổi, một cựu chiến binh tham gia tìm kiếm hài cốt tại công viên Lê Thị Riêng, Sài Gòn.
Trong cuộc phỏng vấn nhân lễ truy điệu 731 hài cốt ngày 14 tháng 10, ông Bản nghẹn ngào, nhiều lần rơi nước mắt khi nói về những dấu tích đau đớn được cho là tìm thấy trên hài cốt đồng đội. Đoạn phỏng vấn nhanh chóng được các cơ quan truyền thông trong nước phổ biến. Một tiêu đề của báo Tuổi Trẻ còn ghi rằng những hài cốt được tìm thấy có dấu tích “đinh 5 tấc ghim vào ngón tay”.
Năm tấc, theo cách đo thông thường, là 50 cm. Một chiếc đinh dài nửa mét găm vào đầu ngón tay người chết là chi tiết bất thường đến mức bất cứ phóng viên nào cũng sẽ phải đặt câu hỏi ngay khi nghe thấy. Nhưng câu chuyện được đưa đến công chúng trong không khí trang nghiêm của một lễ truy điệu, giữa những giọt nước mắt, những vòng hoa và những lời tưởng niệm. Người xem được mời gọi xúc động trước khi có cơ hội tìm hiểu sự thật.
Và bắt đầu từ đây, một câu chuyện ngỡ chỉ liên quan đến một lời nói nhầm lẫn bắt đầu đặt ra những câu hỏi sòng phẳng về trách nhiệm của báo chí, sự trung thực của thông tin lịch sử và cách chính quyền Việt Nam sử dụng ký ức chiến tranh trong đời sống chính trị hiện nay.
Trước hết cần trả lại cho những người đã chết hoàn cảnh lịch sử thực sự của họ. Công viên Lê Thị Riêng có diện tích 8 hecta được xây dựng trên một phần đất trước đây rộng khoảng 30 ha của nghĩa địa Chí Hòa, còn gọi là nghĩa trang Đô Thành Sài Gòn. Trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, các lực lượng cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam mở những cuộc tấn công ồ ạt vào thành phố Sài Gòn và nhiều đô thị miền Nam. Những trận giao tranh dữ dội khiến nhiều binh sĩ của cả hai phía cùng rất nhiều thường dân thiệt mạng.
Lực lượng cộng sản gánh chịu tổn thất lớn, bỏ lại nhiều thi thể trên chiến trường. Chính quyền Sài Gòn lúc đó tổ chức thu gom và chôn cất một phần những người tử trận tại các nghĩa địa, trong đó có khu Chí Hòa. Ngày 12 tháng 2 năm 1968, nhiếp ảnh gia Gautron của hãng thông tấn AP ghi lại cảnh những người đào huyệt lấp một rãnh chôn tập thể tại đây. Bức ảnh, với thủy đài và những dấu hiệu địa hình phía sau, đã trở thành một trong những tư liệu quan trọng giúp xác định lại vị trí các rãnh mộ sau gần sáu thập niên. Ngày 14 tháng 10 năm 2026, hãng tin AP công bố lại ảnh tư liệu ấy trong bài tường thuật lễ an táng tại TPHCM. Đây là một chứng cứ lịch sử cần được đặc biệt lưu ý.
Những người nằm dưới lòng đất không phải đến năm 2026 mới được phát hiện là đã từng tồn tại. Việc chôn cất họ đã được ghi lại bằng ảnh báo chí ngay từ năm 1968. Và theo những tài liệu hiện có, hoạt động chôn cất ấy do phía chính quyền Sài Gòn thực hiện trong hoàn cảnh chiến sự ác liệt. Một hố chôn tập thể là bằng chứng về việc nhiều người được chôn tại cùng một địa điểm. Muốn xác định họ chết như thế nào, ai chịu trách nhiệm về cái chết của từng người, cần thêm những chứng cứ khác. Không thể biến sự tồn tại của hố chôn thành bằng chứng mặc nhiên về một cuộc thảm sát hay hành vi tra tấn.
Nhưng lịch sử khu nghĩa địa này còn đặt ra những câu hỏi mà chính quyền TPHCM phải có trách nhiệm trả lời. Sau năm 1975, nghĩa địa Chí Hòa được giải tỏa, san lấp để xây dựng công viên Lê Thị Riêng, chính thức đưa vào hoạt động năm 1988. Theo báo Thanh Niên, ngay từ năm 1995, nhà chức trách đã tiếp nhận thông tin nhân chứng về những rãnh mộ tập thể trong khu vực. Thế nhưng, phải đến tháng 11 năm 2018, nhóm nghiên cứu do kiến trúc sư Nguyễn Xuân Thắng chủ trì mới bắt đầu đối chiếu có hệ thống ảnh chiến trường, không ảnh, bản đồ quân sự, hồ sơ giải tỏa nghĩa địa và lời chứng nhân chứng.
Sau nhiều năm nghiên cứu, khảo sát địa vật lý và kiểm tra địa tầng, vị trí các rãnh mộ mới được xác định, để rồi công việc khai quật chính thức bắt đầu ngày 23 tháng 6 năm 2026, tức là hơn 30 năm sau khi chính quyền nhận được những thông tin đầu tiên. Nhà chức trách giải thích rằng địa hình thay đổi, thiếu bản đồ và các dấu mốc đối chiếu khiến việc xác định vị trí gặp nhiều khó khăn. Những trở ngại ấy cần được xem xét, nhưng liệu đã đủ giải thích cho ba thập niên chờ đợi? Từ năm 1995 đến năm 2018, những cơ quan nào được giao xác minh thông tin, đã thực hiện những cuộc khảo sát nào, dành bao nhiêu nguồn lực cho việc tìm kiếm? Tại sao đến tận năm 2026 mới tiến hành khai quật quy mô lớn? Và trước đó, trong quá trình giải tỏa nghĩa địa để xây dựng công viên, hồ sơ cất bốc, di dời mộ phần đã được quản lí ra sao?
Đó là những câu hỏi liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của bộ máy nhà nước qua nhiều nhiệm kỳ, nhưng đến nay vẫn chưa có một bản giải trình công khai đầy đủ. Điều khó chấp nhận là sau hàng chục năm, khi hài cốt được tìm thấy, chính quyền lại có thể tổ chức những lễ truy điệu hết sức long trọng, với đầy đủ nghi thức, diễn văn và những hình ảnh cố ý gây xúc động trên truyền hình. Trong khi trách nhiệm đối với sự chậm trễ kéo dài vẫn cố tình bị bỏ qua. Những người đã chết từ năm 1968 xứng đáng được an táng tử tế, nhưng sự trang trọng của một lễ truy điệu, dù được dàn dựng công phu rất sân khấu, cũng không thể thay thế trách nhiệm giải trình của những người đang nắm quyền.
Cần ghi nhận rằng cuộc khai quật năm 2026 đã đem lại những kết quả thực sự. Những hài cốt được tìm thấy cùng nhiều di vật, trong đó có giấy tờ quân sự mang tên Huỳnh Văn Quên, được xác định là tiểu đội phó thuộc Tiểu đoàn 1 Long An, đơn vị tham gia trận đánh cầu Chữ Y trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân. Việc phát hiện giấy tờ cùng các di vật quân trang, võng, đạn và vật dụng cá nhân đã giúp các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở nhận diện những người tử trận. Ngày 14 tháng 10, TP.HCM tổ chức truy điệu và an táng 731 bộ hài cốt tìm thấy trong đợt đầu.
Theo báo cáo của Bộ Tư lệnh TP.HCM công bố sáng hôm qua, 21 tháng 10, tổng số hài cốt được quy tập đã lên đến 800, trong đó 324 bộ có di vật kèm theo. Trong tổng số này, 767 bộ được tìm thấy riêng lẻ và 33 bộ tại 8 vị trí mộ tập thể. Phần lớn danh tính cá nhân vẫn chưa được xác định bằng giám định ADN. Những kết quả ấy là thành quả của công việc nghiên cứu, khai quật và tìm kiếm rất vất vả, có sự đóng góp của nhiều người, từ các nhà chuyên môn đến những người lính trực tiếp đào tìm. Không có lý do gì để phủ nhận công sức của họ.
Nhưng cũng chính vì đây là một công việc nghiêm túc, liên quan đến những người đã chết và những gia đình mất thân nhân, mọi thông tin được công bố càng phải tuân thủ những tiêu chuẩn kiểm chứng nghiêm ngặt. Lòng biết ơn không thể thay thế phương pháp nghiên cứu lịch sử. Sự kính trọng dành cho người chết cũng không cho phép người sống tùy tiện thêm thắt những tình tiết chưa được chứng minh vào câu chuyện về cái chết của họ.
Trở lại với bác sĩ Trần Văn Bản. Ông sinh năm 1944 tại Hải Phòng, nhập ngũ năm 1967, từng phục vụ trong ngành quân y tại chiến trường Sài Gòn - Gia Định, trong Chiến tranh Việt Nam. Những phóng sự đăng từ tháng 7 năm 2026 ghi nhận ông từng tham gia công việc tìm kiếm, phân loại xương cốt và di vật tại hiện trường. Riêng câu chuyện về những chiếc đinh không phải đến tháng 10 mới xuất hiện.
Ngày 29 tháng 7, Đài Tiếng nói Nhân dân TPHCM đăng một bài về ông Bản, trong đó thuật lại việc ông cho biết đã phát hiện những hài cốt còn dây trói ở tay, cổ, dây truyền dịch, những dấu tích bất thường ở xương vai và một trường hợp hộp sọ có ba chiếc đinh lớn. Bài viết liên hệ những dấu tích này với sự tra tấn mà các chiến sĩ được cho là đã phải chịu đựng trước khi chết.
Gần 3 tháng sau, trong cuộc phỏng vấn được truyền thông phổ biến nhân lễ truy điệu ngày 14 tháng 10, lại xuất hiện câu chuyện những chiếc đinh găm vào đầu ngón tay, cùng chi tiết gây tranh cãi về kích thước năm tấc. Có thể đó là những trường hợp khác nhau. Cũng có thể lời kể đã bị ghi chép, biên tập hoặc diễn giải sai. Nhưng chính những nghi vấn ấy càng khiến việc kiểm chứng trở thành yêu cầu bắt buộc. Một chiếc đinh trong hộp sọ và một chiếc đinh găm vào ngón tay là hai phát hiện khác nhau về mặt giải phẫu và pháp y. Nếu thực sự có những vật chứng như vậy, phải xác định chúng được tìm thấy tại vị trí nào, thuộc bộ hài cốt nào, kích thước bao nhiêu, trạng thái của xương ra sao, và quan trọng hơn, có cơ sở gì để kết luận chúng từng được sử dụng để tra tấn người đang sống.
Tuổi tác, quá trình phục vụ trong quân đội hay kinh nghiệm tìm kiếm hài cốt của ông Bản không thể trả lời thay những câu hỏi ấy. Dĩ nhiên, chúng ta cũng không thể căn cứ vào một lời nói bất thường để quy kết ông ấy cố ý bịa đặt. Trách nhiệm xác minh thuộc về cả người đưa ra lời chứng, những người quản lí vật chứng và cơ quan báo chí quyết định phổ biến thông tin.
Chi tiết 5 tấc đã khiến câu chuyện trở thành đề tài chế giễu, nhưng điều cần quan tâm không chỉ là chuyện hoán đổi đơn vị đo lường. Có ý kiến cho rằng ông Bản nói nhầm 5 phân thành 5 tấc, tức 5 cm thành 50 cm. Một số người khác tìm cách giải thích bằng những đơn vị đo cổ truyền. Những giả thuyết ấy đều cần được đối chiếu với bản ghi âm gốc. Đáng chú ý, video đăng ngày 14 tháng 10 trên báo Tuổi Trẻ ghi rõ nguồn HTV từng được giới thiệu bằng tiêu đề có cụm từ “đinh 5 tấc”, trong khi tiêu đề hiện đang hiển thị trên trang này giờ đã gỡ bỏ chi tiết kích thước. Nhật báo Người Việt California cũng ghi nhận nội dung liên quan được trang Thời Sự VTV phổ biến trên mạng xã hội.
Như vậy, vấn đề không phải ở câu nói của một ông lão 82 tuổi trong lúc xúc động mà còn ở những khâu sản xuất, biên tập và phát hành thông tin của các cơ quan truyền thông. Ai đã kiểm tra kích thước chiếc đinh trước khi đưa chi tiết ấy lên tiêu đề? Ai quyết định sử dụng lời kể này như một bằng chứng về sự tàn bạo của đối phương? Vì sao một cáo buộc nghiêm trọng lại được công bố mà không kèm theo hồ sơ hiện vật hoặc kết quả giám định? Nếu đã phát hiện sai sót và sửa tiêu đề, vì sao không giải thích công khai cho độc giả? Thậm chí, nếu chiếc đinh thực sự chỉ dài 5 cm, câu chuyện vẫn chưa thể được xác nhận.
Một vật kim loại nằm cạnh xương, một vật xuyên qua xương và một tổn thương được gây ra lúc nạn nhân còn sống là những tình huống khác nhau. Sau gần 60 năm chôn dưới đất, sự phân hủy, biến đổi địa tầng và quá trình cất bốc có thể ảnh hưởng đến vị trí, trạng thái của hài cốt và di vật. Cần có hình ảnh hiện trường, biên bản thu giữ, kết quả đo đạc, phân tích tổn thương và giám định pháp y để xác định điều gì đã xảy ra. Kim loại có thể tồn tại rất lâu trong đất, cũng như các xương nhỏ vẫn có thể được bảo tồn trong những điều kiện nhất định.
Bởi vậy, những lời khẳng định rằng chiếc đinh nhất thiết phải tiêu biến sau 58 năm là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng khả năng một hiện vật được bảo tồn không tự nó chứng minh được câu chuyện gắn với hiện vật ấy là đúng. Sự thật phải được xác lập bằng chứng cứ chứ không phải bằng trí tưởng tượng vu vơ, càng không thể bị nhào nặn cho phù hợp với những mục đích tuyên truyền.
Khía cạnh nghiêm trọng nhất của sự việc nằm ở chỗ những suy luận về hành vi tra tấn đã được đưa vào một chiến dịch tuyên truyền, thông qua hoạt động tưởng niệm mang thông điệp chính trị rất rõ. Trong một cuộc phỏng vấn với báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 14 tháng 10, thiếu tướng Nguyễn Thanh Trung, người trực tiếp tham gia chỉ đạo công việc tìm kiếm, cho biết một số dấu tích và tư thế hài cốt cần tiếp tục được nghiên cứu để làm rõ hoàn cảnh tử vong. Đây là một nhận định thận trọng, phù hợp với yêu cầu chuyên môn. Nhưng cùng thời điểm ấy, công chúng lại được tiếp nhận những lời kể giàu cảm xúc về dây trói, xương bị bẻ quặt và đinh đóng vào cơ thể người chết, kèm theo suy luận rằng các nạn nhân đã bị tra tấn dã man. Một lối kể đầy dã tâm.
Từ những dấu tích cần nghiên cứu đến kết luận về hành vi tra tấn là cả một quá trình xác minh mà báo chí đứng đắn phải có trách nhiệm giải thích. Khi quá trình ấy bị bỏ qua, một giả thuyết có thể được tiếp nhận như sự thật lịch sử. Và khi giả thuyết liên quan đến tội ác chiến tranh, sự phẫn nộ đối với phía bị cáo buộc sẽ xuất hiện trước cả khi chứng cứ được kiểm tra. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong một xã hội mà ký ức chiến tranh vẫn được sử dụng thường xuyên để giáo dục lòng yêu nước, củng cố tính chính danh của nhà nước đương nhiệm và phân biệt những người được xem là thuộc về phía chính nghĩa với những người từng đứng bên kia chiến tuyến.
Không khó để nhận ra phương thức trình bày ấy trong cách nhiều cơ quan truyền thông Việt Nam đưa tin về lễ truy điệu tại công viên Lê Thị Riêng hôm thứ Tư tuần trước. Những hàng quan tài, vòng hoa trắng, những người lính già khóc thương đồng đội, đoàn xe đưa hài cốt về nghĩa trang và sự hiện diện của các nhà lãnh đạo Việt Nam được ghi hình, phát sóng liên tục.
Bản thân những hình ảnh này có thể phản ánh tình cảm chân thành của người dân tham dự. Một gia đình tìm thấy người thân sau gần 60 năm hoàn toàn có quyền khóc thương. Một cựu chiến binh có thể xúc động khi nhìn thấy hài cốt đồng đội của mình. Một nghi lễ truy điệu có thể được tổ chức trang trọng để bày tỏ lòng tri ân của tổ quốc. Nhưng khi nhà nước sử dụng toàn bộ hệ thống truyền thông để trình bày một sự kiện tưởng niệm, trách nhiệm bảo đảm tính chính xác của các thông tin đi kèm thuộc về chính nhà nước.
Cảm xúc cá nhân không thể được sử dụng làm bằng chứng lịch sử. Càng không thể lấy sự trang nghiêm của nghi lễ để khiến người xem ngần ngại chất vấn những lời kể vô căn cứ. Nguy cơ lạm dụng xuất hiện khi những giọt nước mắt có khả năng khiến một cáo buộc chưa được kiểm chứng được công chúng tiếp nhận như một sự thật thiêng liêng. Những ai đặt câu hỏi khi ấy bị xem là thiếu lòng trắc ẩn, xúc phạm người chết hoặc phủ nhận lịch sử. Một nền văn hóa chính trị như vậy sẽ khiến việc kiểm tra sự thật trở thành hành vi bị nghi ngờ, trong khi những câu chuyện phù hợp với thông điệp chính thống lại được hưởng sự tin cậy gần như mặc nhiên.
Tôi muốn đặt câu hỏi về cách chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục sử dụng lịch sử chiến tranh để phục vụ những mục tiêu chính trị hiện tại. Suốt nhiều thập niên, lịch sử ấy được giảng dạy và phổ biến chủ yếu qua ngôn từ có chủ ý của bên chiến thắng, với những hy sinh được tôn vinh, những tội ác được lên án, và những phán xét gần như không bao giờ cho phép người ta đặt câu hỏi. Trong cách nói về lịch sử ấy, số phận của hàng triệu người Việt Nam từng sống và chết dưới lá cờ Việt Nam Cộng Hòa hầu như không bao giờ được nhìn nhận bằng sự công bằng và lương thiện tối thiểu.
Việc những người lính Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu và hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 từng không được ghi nhận đàng hoàng là một ví dụ quá rõ ràng, dù những năm gần đây báo chí trong nước đã có chút ít thay đổi giọng điệu. Câu chuyện ở công viên Lê Thị Riêng là một trường hợp cần được bạch hóa.
Tư liệu báo chí năm 1968 cho thấy chính quyền miền Nam đã tổ chức thu gom, chôn cất thi thể những người cộng sản tử trận trong cuộc chiến Mậu Thân 1968. Họ là đối phương trên chiến trường, nhưng khi cuộc giao tranh chấm dứt, thi thể của họ vẫn được đưa đi an táng đàng hoàng. Đó là một sự thật lịch sử, bất kể người ta đánh giá chính quyền ấy xấu tốt thế nào. Những bức ảnh ấy dĩ nhiên không thể cho biết từng người đã chết trong hoàn cảnh ra sao, nhưng cũng không cho phép ai tùy tiện lấy chúng làm căn cứ để suy diễn rằng họ đã bị tra tấn hoặc sát hại.
Nếu có chứng cứ về tội ác, hãy công bố để lịch sử được ghi nhận đúng sự thật. Còn nếu không, đừng lấy những lời kể chưa được kiểm chứng để khơi thêm lòng thù hận đối với những người bên kia chiến tuyến. Sau hơn nửa thế kỷ, đất nước này đã chịu đựng quá nhiều đau thương vì chiến tranh và những chia rẽ kéo dài suốt thời hậu chiến. Một chính quyền luôn nói về hòa giải, hòa hợp dân tộc thì càng phải có trách nhiệm chấm dứt cách khai thác ký ức chiến tranh đầy ác ý để duy trì những định kiến chính trị cũ kỹ, thậm chí phi nhân.
Những người đã chết năm 1968 cần được tìm lại danh tính, được an táng tử tế và được đối xử bằng sự trung thực công bằng của lịch sử. Họ không còn khả năng lên tiếng để bảo vệ sự thật về cuộc đời và cái chết của họ. Đừng bắt họ phải tiếp tục phục vụ thêm một cuộc chiến tuyên truyền của những người đang sống.