Thân Hữu Tiếp Tay...

"Người Bắc 1954 và Sau 1975" - by Trần Văn Giang.

xxx


1335q
Năm 1975, sau khi “cướp” được miền Nam thì người cộng sản Việt Nam từ miền Bắc đổi tên thành thành phố Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh.” – Một sự áp đặt cho thành phố Sài Gòn chứ chẳng có trưng cầu dân ý gì cả?  Nhưng sau năm 1975, người cộng sản vào Sài Gòn thì mọi thứ đổi khác, Những người đến sau này có lối phát ngôn bừa bãi, đối xử thô bạo của kẻ chiến thắng khác nhau rất xa người Bắc năm xưa.  Nếu quý vị từng sống đủ lâu ở Sài Gòn trước và sau 1975, thì quý vị sẽ hiểu.
Nhận định này không đơn giản là chống cộng hay ủng hộ chính quyền cs mà là một câu chuyện rất cũ nhưng đến nay vẫn chưa có ai nói đến cho đầy đủ.  Đó là:
“Người Bắc năm 1954 và người Bắc sau năm 1975 Sài Gòn có khác nhau không?”
Xin lưu ý rằng bài viết này không phải là để chia phe hay ném bùn mà để hy vọng sẽ cùng nhau tìm ra trả lời cho câu hỏi nêu trên. 
Nhiều người tự dưng thấy thành phố này không còn là thành phố của mình nữa khi đọc tên gọi “Thành phố Hồ Chí Minh.” Không ai tự nhiên lại nói lên những lời nặng nề nếu họ không mang trong lòng một điều gì ấm ức đã tích tụ từ rất lâu. Người từng nghĩ như vậy rất có thể là một người lớn tuổi. Họ từng sống trong một Sài Gòn trước năm 1975 hoặc từng là người Bắc di cư vào Nam năm 1954.  Họ từng chứng kiến sự thay đổi của một thành phố từ tên gọi, phong cách, cách sống cho tới cách con người đối xử với nhau.
Và trong ký ức của họ có một hình ảnh Sài Gòn rất rõ ràng. Một nơi cởi mở hòa nhã, một nơi dung chứa mọi miền. Không ai bị ép phải nói và nghĩ theo một chiều;  một nơi mà người Bắc năm 1954 dù là dân di cư vẫn được tôn trọng vì học thức, vì nếp sống, vì đạo đức gia đình.
Vâng!  Mọi thứ đã thay đổi sau năm 1975, khi cái tên Sài Gòn bị thay thế, khi những người chiến thắng bước vào không chỉ bằng vũ khí mà bằng cả nhân cách (?).   
Nhìn lại đợt di cư lớn của người miền Bắc vào năm 1954, sau hiệp định Geneve, gần 1 triệu người miền Bắc, chủ yếu là người Công giáo, giới trí thức, người làm việc trong bộ máy hành chính quốc gia, đã chọn di cư vào Nam thay vì ở lại miền Bắc do chính quyền cộng sản kiểm soát.
Họ không vào miền Nam với súng ống; cũng không mang theo quyền lực. Họ đến với với một ít hành lý, sách vở và cả những ám ảnh về sự tự do.  Nhiều người trong số đó là giáo viên, bác sĩ, nhà báo, nhà văn, công chức. Khi đến Sài Gòn, một thành phố sôi động nhưng còn thiếu tổ chức về hệ thống. Họ trở thành một bộ phận tích cực của bộ máy giáo dục, hành chính, y tế và báo chí của miền Nam thời bấy giờ.
Tại sao người Bắc năm 1954 lại được nhắc đến như một điểm son trong văn hóa Sài Gòn? Bởi vì họ không đến không phải để làm chủ mà để hòa nhập. Và chính trong quá trình hòa nhập đó, họ mang theo một thứ mà người Sài Gòn khi ấy rất tôn trọng là “Nề Nếp”:  Nề nếp từ giọng nói chuẩn, chậm rãi, lịch thiệp; Nề nếp từ cách ăn mặc, kín đáo, cẩn thận, không phô trương; Nề nếp trong cách nuôi dạy con, học hành đạo đức không ngông nghênh. Họ sống với tinh thần ở nhờ đất Sài Gòn phải giữ cho sạch. Nhờ vậy họ được yêu mến, được sự tin tưởng.
Dần dà họ trở thành một thành phần của bản sắc Sài Gòn. Không có ai xem họ là người miền Bắc nữa. Vì vậy phải nói là người Bắc di cư năm 1954 đã góp phần phát triển văn hóa, văn chương, nghệ thuật cho Sài Gòn. Không nói quá, đó là một giai đoạn mà sự khác biệt vùng miền không chia rẽ mà bổ sung cho nhau.
Vậy thì người miền Bắc sau năm 1975 là ai? Vì sao họ thường bị gắn nhãn là “áp đặt,” là “thô bạo?” Những người “cướp” Sài Gòn có áp dặt cái tên “Thành phố Hồ Chí Minh” hay không? Từ góc nhìn của người viết thì câu trả lời là:  “Vâng! Đúng vậy!”  Bởi vì cái tên Sài Gòn không chỉ là một địa danh.  Nó còn là ký ức, là bản sắc, là một phần linh hồn của thành phố. Việc đổi tên thành “Thành phố Hồ Chí Minh” mà không có một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” nào (?) khiến họ thấy mình không còn quyền giữ lại tên của chính nơi mình từng sống.
Sự mất mát đó không phải là chuyện hình thức. Nó là biểu tượng của một cuộc chuyển quyền hoàn toàn không chỉ về chính trị mà về cả tinh thần. Khác với người miền Bắc năm 1954 vào Nam để tìm tự do; Người Bắc năm 1975 vào Nam là người chiến thắng. Họ không đến để hòa nhập mà là đến để quản lý. Họ không đến để xin việc mà để nhận nhiệm vụ. Và trong mắt người dân Sài Gòn vốn đã quen với cách sống tự do, văn minh đô thị thì những cán bộ mới từ vùng quê nghèo nói giọng địa phương nặng nề, thẳng thừng, cách làm việc hành chính khô khan cứng ngắc, thì dễ bị xem là thô lỗ, thiếu tinh tế và mang tư thế của kẻ áp đặt.
Nhưng có một sự thực cần nói rõ, không phải tất cả người Bắc sau năm 1975 đều y như vậy. Cũng có những cán bộ giỏi, có tâm tử tế được người dân quý mến. Cũng có những gia đình người Bắc năm 1975 đã đóng góp cho miền Nam không kém gì người Bắc năm 1954. Cũng có những người từ Bắc vào thấy choáng ngợp trước sự phát triển của Sài Gòn; rồi họ phải học cách thay đổi chính mình để hòa nhập. Vấn đề không nằm ở quê gốc mà nằm ở cách tiếp cận và thái độ tiếp quản. Sự chênh lệch về văn hóa, tốc độ đô thị hóa và cách hành xử sau chiến thắng mới là thứ khiến người Sài Gòn cảm thấy mình đang bị thay thế.
Tóm lại, người Bắc sau năm 1975 bị xem là áp đặt không phải vì họ là người Bắc mà vì họ đại diện cho một chế độ mới, một lối sống mới được khai triển bằng sức mạnh chứ không phải bằng sự đồng thuận. Điều đó đúng hay sai vẫn để lại trong lòng nhiều người một cảm giác là mình không còn thuộc về nơi mình đã từng yêu.
Vậy thì có sự khác nhau rất xa giữa người miền Bắc năm 1954 và người miền Bắc sau năm 1975.  Nghe thì rất có lý và đúng là có sự khác biệt thực. Nhưng nếu để câu đó đứng một mình, nó dễ trở thành một kiểu chụp mũ rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta cần mổ sẻ từng yếu tố để thấy khác nhau đến mức nào và vì sao.
-Thứ nhất, về giáo dục và học thức
Người Bắc năm 1954 hầu hết thuộc từng lớp trung lưu trở lên, có học hành đàng hoàng.  Nhiều người làm trong ngành giáo dục, công chức, văn hóa, y tế. Họ rời miền Bắc trong bối cảnh xã hội còn phân tán mạnh cho nên việc được học hành đầy đủ là một đặc quyền. Còn người Bắc sau năm 1975 thì ngược lại. Nhiều người đến từ nông thôn, vùng quê, vùng căn cứ kháng chiến phần lớn không được tiếp cận nền giáo dục dân sự căn bản kiểu cũ mà là giáo dục theo mô hình xã hội chủ nghĩa, chú trọng lý tưởng, đấu tranh giai cấp và lòng trung thành với đảng. Vậy nên sự khác biệt về trình độ, cách ứng xử trong môi trường đô thị, kỹ năng giao tiếp là có thật.
Người dân Sài Gòn vốn quen với lối sống tự do, thương mại không chỉ huy, tôn trọng quyền cá nhân, dễ cảm thấy bị đối xử không đúng mức bởi những người quản lý mới.
-Thứ hai, về ngôn ngữ và cách nói năng
Người Bắc năm 1954 thường nói giọng Bắc chuẩn, chậm rãi, giàu ngữ vựng, ảnh hưởng bởi sách vở và truyền thống gia đình. Họ vào Nam nhưng không áp đặt, cũng không phán xét người địa phương. Trong khi người Bắc sau năm 1975, nhiều người nói giọng vùng quê âm hưởng nặng, đôi khi nghe như ra lệnh.  Thêm vào đó là cách xưng hô theo kiểu đồng chí, báo cáo, quán triệt… khiến người dân cảm thấy xa lạ và cứng ngắc.  Sự khác biệt này không phải lỗi của cá nhân mà là do bối cảnh sống khác nhau.
Nếu một người sinh ra giữa chiến tranh trong điều kiện thiếu thốn, không thể yêu cầu họ nói năng mềm mỏng như người lớn lên đi học ở trường Gia Long, Pétrus Ký… đọc văn học Pháp, Mỹ mỗi tối.
-Thứ ba, về đạo đức và phong thái
Đây là điểm nhạy cảm nhất vì đạo đức không phải là thứ gắn liền với vùng miền;  mà là gắn với môi trường giáo dục và xã hội. Người Bắc năm 1954 được nuôi và dậy trong nền tảng gia đình truyền thống, coi trọng lễ nghĩa, phép tắc. Họ sống trong một xã hội đề cao văn hóa Tây Phương, tôn giáo và luật lệ. Còn người Bắc sau năm 1975 bước ra từ chiến tranh, nhiều người lớn lên không cha mẹ hoặc cả tuổi thơ chỉ ở trong rừng núi. trong bộ đội…  Họ được dạy rằng hòa bình là chiến thắng, chính trị là lẽ sống và phải tiêu diệt giai cấp bóc lột.
Không có gì khó hiểu khi thấy họ mang một khí chất khác, cứng rắn, quyết đoán, không ngại nói thẳng.  Nhưng điều đó không có nghĩa là họ thiếu đạo đức, chỉ là đạo đức được định nghĩa một cách khác đi.
Tóm lại, nếu  ta chỉ đứng ở một bên thì “Khác nhau thì có nhưng có rất xa nhau không?”  Câu trả lời là: “Vâng! Rất xa,” Còn nếu bước sang một bước để nhìn toàn cảnh thì lúc này quý vị sẽ thấy một bên là những con người mang theo nề nếp, học thức và nỗi đau di cư. Một bên là những con người vừa bước ra từ chiến tranh mang trong mình khát vọng xây dựng và lòng tin vào lý tưởng. Nếu chỉ so sánh về cái vẻ bề ngoài thì đúng, khác rất xa. Nhưng nếu nhìn vào hoàn cảnh, lý do và cả nỗi niềm bên trong thì có khi không xa như ta nghĩ.
Một người lớn tuổi từng nói với tôi:
- "Tôi sống ở Sài Gòn trước năm 1975 và tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh sau đó. Nhưng tôi không biết lúc nào mình ngừng cảm thấy đó là thành phố của mình.”
Đó là một lời nói buồn, không giận, không trách, chỉ là không còn thấy mình thuộc về nữa. Vì sao nhiều người dân Sài Gòn thấy mình bị thay thế? Không phải chỉ vì đổi tên thành phố, mà vì mọi thứ quen thuộc biến mất cùng một lúc. Tên Đường từ Thống Nhất, Công Lý, Cường Để… thành những tên ba bốn chữ rất xa lạ.
Về giọng nói.  Giọng Bắc “chính trị” đã thay thế cho giọng Nam “bình dân.”  Cách gọi nhau anh-chị thành đồng-chí đã mất đi sự gần gũi tự nhiên. Những bản nhạc cũ bị cấm, những tiệm sách cũ bị đóng, những từ ngữ quen dùng bị xem là phản động. Và điều đau nhất không ai hỏi ý kiến người dân, không ai xin phép họ trước khi xóa đi ký ức của họ. Họ không chống lại người mới. Họ chống lại cảm giác bị gạt ra khỏi chính quê hương của mình.
Thử tưởng tượng quý vị đang sống trong một ngôi nhà đã 30 năm rồi.  Một ngày có người lạ khác bước vào sơn lại tường, thay lại bàn thờ, đổi lại tên gọi và nói:
- “Từ bây giờ nhà này là nhà mới nha!  Đừng gọi tên cũ nữa."
Quý vị không thể đánh họ; cũng không thể đuổi được họ. Nhưng trong lòng quý vị vẫn có một điều gì đó bất mãn rất lớn lao. Điều bất mãn đó có chính đáng không? Rất chính đáng chứ nhỉ!  Vì nỗi đau không cần đúng-sai, chỉ cần đủ-lâu và đủ-thực. Người dân Sài Gòn buồn không phải vì họ thù hận. Họ buồn vì cái tên Sài Gòn là thứ cuối cùng họ còn giữ được mà cũng không thể giữ nổi. Thật không dễ gì trả lời. Nó đụng vào những cảm xúc sâu xa, rất thực. Nhưng có một điều chắc chắn, chỉ vì mình từng tổn thương không có nghĩa là mình có quyền làm người khác tổn thương lại.
Vậy thì liệu có đúng là người Bắc sau năm 1975 thô bạo, vô văn hóa, cư xử như kẻ chiến thắng?  Sau năm 1975 khi người cán bộ người Bắc theo chế độ mới vào vào Nam với tư thế của người chiến thắng tiếp quản miền Nam thật sự đã có những va chạm trên các khác biệt lớn, những cú “sốc” văn hóa.
Cần nói rõ là không thể lấy một nhóm người để đánh giá cho cả một tập thể. Có rất nhiều người Bắc sau năm 1975 vào Nam sống tử tế, hòa nhã, làm việc chăm chỉ, đóng góp thầm lặng. Họ không hung hăng, cũng không thô bạo, không đòi hỏi gì. Có người làm bác sĩ được người dân quý vì tận tâm; Có người làm thầy giáo cô giáo giúp học sinh nghèo vùng xa xôi biết chữ; Có cả những người từng đi bộ đội nhưng sau 1975 hòa bình về sống như bao người dân khác, không màng chức quyền. Họ không có tội. Họ chỉ sinh ra ở một miền đất khác và sống theo những gì họ đã được dạy.
Nguy hiểm nhất là mỗi khi đầu đã có sẵn định kiến và định kiến biến thành lời miệt thị. Chỉ vì một vài cán bộ từng thô bạo mà nói cả một thế hệ vô văn hóa. Chỉ vì vài người áp đặt mà nói cả một miền là kẻ cướp.  Đó là cách nhanh nhất để biến một cuộc đối thoại thành một cuộc chia rẽ. Và đó cũng là lý do vì sao suốt gần 50 năm qua người Việt vẫn chưa thể thực sự ngồi lại với nhau vì cứ mỗi lần vừa mở lời là đã có người bị quy kết tội rồi.
Phản biện không phải là kết tội mà là để gỡ từng lớp hiểu lầm. Quý vị có quyền chỉ ra những cái sai của bất kỳ ai ở bất kỳ bên nào, nhưng không ai có quyền nói cả một thế hệ là thô bạo, là kém văn hóa. Chỉ vì họ sinh ra ở miền Bắc và đến miền Nam sau chiến tranh.  Sự thực cần được nói nhưng cách nói cũng quan trọng như điều ta nói. Điều ta cần lúc này không phải là ai đúng ai sai?  Mà là ai còn đủ bình tĩnh để tránh nói ra sự thực đã làm tổn thương nhau thêm một lần nữa. Vậy thì sau tất cả những tổn thương, hiểu lầm, định kiến và ký ức chồng chất, liệu có còn cách nào để người Việt, đặc biệt là người miền Nam và miền Bắc hiểu nhau hơn không?
Quan trọng nhất là có còn cách nào để giữ được tinh thần Sài Gòn mà không phủ nhận thực tế “Thành phố Hồ Chí Minh” đang tồn tại hôm nay? Có người từng nói một câu rất đau đầu:
- “Sài Gòn không cần lấy lại bằng giấy tờ. Sài Gòn chỉ cần được gọi đúng tên trong tim những người còn thương nó.”
Câu đó nghe qua tưởng là hoài niệm nhưng thật ra là lối thoát cho rất nhiều mâu thuẫn kéo dài hàng chục năm. Vì thực tế “Thành phố Hồ Chí Minh” bây giờ là tên hành chính, là một phần của đất nước này là điều không thể phủ nhận. Nhưng điều đó không có nghĩa là người ta phải quên cái tên Sài Gòn.  Trên giấy tờ quý vị có thể viết “Thành phố Hồ Chí Minh” nhưng trong ký ức, trong văn chương, trong lời nói hàng ngày, nếu quý vị vẫn gọi đó là Sài Gòn thì Sài Gòn nó vẫn sống. Nó sống trong tiếng rao hàng vào mỗi buổi sáng. Nó sống trong những tấm bảng hiệu cũ. Nó sống trong cách người ta lái xe, bấm còi, nói tiếng “Dạ và Thưa” đầy thân tình.
Cái tên không quyết định hết, cách sống mới là thứ giữ lại một thành phố. Cũng như vậy, người Bắc năm 1954 và người Bắc sau năm 1975, người miền Nam, người hải ngoại, người trẻ sinh ra sau hòa bình không cần phải xóa ký ức của nhau để được tồn tại. Chúng ta chỉ cần một điều nhìn nhau mà không gạt bỏ nhau. Không ai phải thua cũng không ai cần phải thắng.  Chỉ cần biết rằng mỗi người đều có lý do để thấy đau và không ai có quyền độc quyền nỗi đau đó. Nếu hôm nay quý vị vẫn gọi là Sài Gòn bằng sự trân trọng thì thành phố đó vẫn chưa mất. Và nếu quý vị sống giữa “Thành phố Hồ Chí Minh” hôm nay, hãy sống sao cho người xưa nhìn lại, họ không thấy mình bị lãng quên.
Đó là cách Sài Gòn và “Thành phố Hồ Chí Minh” có thể cùng tồn tại trong lòng một dân tộc từng chia đôi và đang học cách ngồi lại bên nhau. Điều còn lại gì sau một cái tên có người gọi nơi này là Sài Gòn, có người chỉ gọi là “Thành phố Hồ Chí Minh.” chỉ là một cái tên nhưng với mỗi người nó gắn cả một phần đời. Người thì nhớ một thời áo dài trắng, người thì nhớ một thời hành quân qua rừng rậm. Người nhớ mẹ dắt đi chợ Bến Thành sáng sớm; người nhớ lần đầu đặt chân vào thành phố xa lạ mà mình được lệnh “tiếp quản.”  Không ai giống ai, không ai cần phải sống theo ký ức của người khác.
Nhưng nếu ta còn biết lắng nghe nhau thì có thể cái tên Sài Gòn dù không nằm trên bản đồ vẫn còn sống giữa lòng “Thành phố Hồ Chí Minh.” Không cần giành giật cũng không cần xóa bỏ. Chỉ cần một chút hiểu biết để bớt đau lòng và một chút thương tình để còn giữ lấy nhau.
Nếu quý vị vẫn còn thương Sài Gòn, dù gọi tên gì đi nữa thì tôi nghĩ quý vị vẫn đang sống cùng nó mỗi ngày.
Trần Văn Giang ( HNPD )

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

"Người Bắc 1954 và Sau 1975" - by Trần Văn Giang.

xxx


1335q
Năm 1975, sau khi “cướp” được miền Nam thì người cộng sản Việt Nam từ miền Bắc đổi tên thành thành phố Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh.” – Một sự áp đặt cho thành phố Sài Gòn chứ chẳng có trưng cầu dân ý gì cả?  Nhưng sau năm 1975, người cộng sản vào Sài Gòn thì mọi thứ đổi khác, Những người đến sau này có lối phát ngôn bừa bãi, đối xử thô bạo của kẻ chiến thắng khác nhau rất xa người Bắc năm xưa.  Nếu quý vị từng sống đủ lâu ở Sài Gòn trước và sau 1975, thì quý vị sẽ hiểu.
Nhận định này không đơn giản là chống cộng hay ủng hộ chính quyền cs mà là một câu chuyện rất cũ nhưng đến nay vẫn chưa có ai nói đến cho đầy đủ.  Đó là:
“Người Bắc năm 1954 và người Bắc sau năm 1975 Sài Gòn có khác nhau không?”
Xin lưu ý rằng bài viết này không phải là để chia phe hay ném bùn mà để hy vọng sẽ cùng nhau tìm ra trả lời cho câu hỏi nêu trên. 
Nhiều người tự dưng thấy thành phố này không còn là thành phố của mình nữa khi đọc tên gọi “Thành phố Hồ Chí Minh.” Không ai tự nhiên lại nói lên những lời nặng nề nếu họ không mang trong lòng một điều gì ấm ức đã tích tụ từ rất lâu. Người từng nghĩ như vậy rất có thể là một người lớn tuổi. Họ từng sống trong một Sài Gòn trước năm 1975 hoặc từng là người Bắc di cư vào Nam năm 1954.  Họ từng chứng kiến sự thay đổi của một thành phố từ tên gọi, phong cách, cách sống cho tới cách con người đối xử với nhau.
Và trong ký ức của họ có một hình ảnh Sài Gòn rất rõ ràng. Một nơi cởi mở hòa nhã, một nơi dung chứa mọi miền. Không ai bị ép phải nói và nghĩ theo một chiều;  một nơi mà người Bắc năm 1954 dù là dân di cư vẫn được tôn trọng vì học thức, vì nếp sống, vì đạo đức gia đình.
Vâng!  Mọi thứ đã thay đổi sau năm 1975, khi cái tên Sài Gòn bị thay thế, khi những người chiến thắng bước vào không chỉ bằng vũ khí mà bằng cả nhân cách (?).   
Nhìn lại đợt di cư lớn của người miền Bắc vào năm 1954, sau hiệp định Geneve, gần 1 triệu người miền Bắc, chủ yếu là người Công giáo, giới trí thức, người làm việc trong bộ máy hành chính quốc gia, đã chọn di cư vào Nam thay vì ở lại miền Bắc do chính quyền cộng sản kiểm soát.
Họ không vào miền Nam với súng ống; cũng không mang theo quyền lực. Họ đến với với một ít hành lý, sách vở và cả những ám ảnh về sự tự do.  Nhiều người trong số đó là giáo viên, bác sĩ, nhà báo, nhà văn, công chức. Khi đến Sài Gòn, một thành phố sôi động nhưng còn thiếu tổ chức về hệ thống. Họ trở thành một bộ phận tích cực của bộ máy giáo dục, hành chính, y tế và báo chí của miền Nam thời bấy giờ.
Tại sao người Bắc năm 1954 lại được nhắc đến như một điểm son trong văn hóa Sài Gòn? Bởi vì họ không đến không phải để làm chủ mà để hòa nhập. Và chính trong quá trình hòa nhập đó, họ mang theo một thứ mà người Sài Gòn khi ấy rất tôn trọng là “Nề Nếp”:  Nề nếp từ giọng nói chuẩn, chậm rãi, lịch thiệp; Nề nếp từ cách ăn mặc, kín đáo, cẩn thận, không phô trương; Nề nếp trong cách nuôi dạy con, học hành đạo đức không ngông nghênh. Họ sống với tinh thần ở nhờ đất Sài Gòn phải giữ cho sạch. Nhờ vậy họ được yêu mến, được sự tin tưởng.
Dần dà họ trở thành một thành phần của bản sắc Sài Gòn. Không có ai xem họ là người miền Bắc nữa. Vì vậy phải nói là người Bắc di cư năm 1954 đã góp phần phát triển văn hóa, văn chương, nghệ thuật cho Sài Gòn. Không nói quá, đó là một giai đoạn mà sự khác biệt vùng miền không chia rẽ mà bổ sung cho nhau.
Vậy thì người miền Bắc sau năm 1975 là ai? Vì sao họ thường bị gắn nhãn là “áp đặt,” là “thô bạo?” Những người “cướp” Sài Gòn có áp dặt cái tên “Thành phố Hồ Chí Minh” hay không? Từ góc nhìn của người viết thì câu trả lời là:  “Vâng! Đúng vậy!”  Bởi vì cái tên Sài Gòn không chỉ là một địa danh.  Nó còn là ký ức, là bản sắc, là một phần linh hồn của thành phố. Việc đổi tên thành “Thành phố Hồ Chí Minh” mà không có một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” nào (?) khiến họ thấy mình không còn quyền giữ lại tên của chính nơi mình từng sống.
Sự mất mát đó không phải là chuyện hình thức. Nó là biểu tượng của một cuộc chuyển quyền hoàn toàn không chỉ về chính trị mà về cả tinh thần. Khác với người miền Bắc năm 1954 vào Nam để tìm tự do; Người Bắc năm 1975 vào Nam là người chiến thắng. Họ không đến để hòa nhập mà là đến để quản lý. Họ không đến để xin việc mà để nhận nhiệm vụ. Và trong mắt người dân Sài Gòn vốn đã quen với cách sống tự do, văn minh đô thị thì những cán bộ mới từ vùng quê nghèo nói giọng địa phương nặng nề, thẳng thừng, cách làm việc hành chính khô khan cứng ngắc, thì dễ bị xem là thô lỗ, thiếu tinh tế và mang tư thế của kẻ áp đặt.
Nhưng có một sự thực cần nói rõ, không phải tất cả người Bắc sau năm 1975 đều y như vậy. Cũng có những cán bộ giỏi, có tâm tử tế được người dân quý mến. Cũng có những gia đình người Bắc năm 1975 đã đóng góp cho miền Nam không kém gì người Bắc năm 1954. Cũng có những người từ Bắc vào thấy choáng ngợp trước sự phát triển của Sài Gòn; rồi họ phải học cách thay đổi chính mình để hòa nhập. Vấn đề không nằm ở quê gốc mà nằm ở cách tiếp cận và thái độ tiếp quản. Sự chênh lệch về văn hóa, tốc độ đô thị hóa và cách hành xử sau chiến thắng mới là thứ khiến người Sài Gòn cảm thấy mình đang bị thay thế.
Tóm lại, người Bắc sau năm 1975 bị xem là áp đặt không phải vì họ là người Bắc mà vì họ đại diện cho một chế độ mới, một lối sống mới được khai triển bằng sức mạnh chứ không phải bằng sự đồng thuận. Điều đó đúng hay sai vẫn để lại trong lòng nhiều người một cảm giác là mình không còn thuộc về nơi mình đã từng yêu.
Vậy thì có sự khác nhau rất xa giữa người miền Bắc năm 1954 và người miền Bắc sau năm 1975.  Nghe thì rất có lý và đúng là có sự khác biệt thực. Nhưng nếu để câu đó đứng một mình, nó dễ trở thành một kiểu chụp mũ rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta cần mổ sẻ từng yếu tố để thấy khác nhau đến mức nào và vì sao.
-Thứ nhất, về giáo dục và học thức
Người Bắc năm 1954 hầu hết thuộc từng lớp trung lưu trở lên, có học hành đàng hoàng.  Nhiều người làm trong ngành giáo dục, công chức, văn hóa, y tế. Họ rời miền Bắc trong bối cảnh xã hội còn phân tán mạnh cho nên việc được học hành đầy đủ là một đặc quyền. Còn người Bắc sau năm 1975 thì ngược lại. Nhiều người đến từ nông thôn, vùng quê, vùng căn cứ kháng chiến phần lớn không được tiếp cận nền giáo dục dân sự căn bản kiểu cũ mà là giáo dục theo mô hình xã hội chủ nghĩa, chú trọng lý tưởng, đấu tranh giai cấp và lòng trung thành với đảng. Vậy nên sự khác biệt về trình độ, cách ứng xử trong môi trường đô thị, kỹ năng giao tiếp là có thật.
Người dân Sài Gòn vốn quen với lối sống tự do, thương mại không chỉ huy, tôn trọng quyền cá nhân, dễ cảm thấy bị đối xử không đúng mức bởi những người quản lý mới.
-Thứ hai, về ngôn ngữ và cách nói năng
Người Bắc năm 1954 thường nói giọng Bắc chuẩn, chậm rãi, giàu ngữ vựng, ảnh hưởng bởi sách vở và truyền thống gia đình. Họ vào Nam nhưng không áp đặt, cũng không phán xét người địa phương. Trong khi người Bắc sau năm 1975, nhiều người nói giọng vùng quê âm hưởng nặng, đôi khi nghe như ra lệnh.  Thêm vào đó là cách xưng hô theo kiểu đồng chí, báo cáo, quán triệt… khiến người dân cảm thấy xa lạ và cứng ngắc.  Sự khác biệt này không phải lỗi của cá nhân mà là do bối cảnh sống khác nhau.
Nếu một người sinh ra giữa chiến tranh trong điều kiện thiếu thốn, không thể yêu cầu họ nói năng mềm mỏng như người lớn lên đi học ở trường Gia Long, Pétrus Ký… đọc văn học Pháp, Mỹ mỗi tối.
-Thứ ba, về đạo đức và phong thái
Đây là điểm nhạy cảm nhất vì đạo đức không phải là thứ gắn liền với vùng miền;  mà là gắn với môi trường giáo dục và xã hội. Người Bắc năm 1954 được nuôi và dậy trong nền tảng gia đình truyền thống, coi trọng lễ nghĩa, phép tắc. Họ sống trong một xã hội đề cao văn hóa Tây Phương, tôn giáo và luật lệ. Còn người Bắc sau năm 1975 bước ra từ chiến tranh, nhiều người lớn lên không cha mẹ hoặc cả tuổi thơ chỉ ở trong rừng núi. trong bộ đội…  Họ được dạy rằng hòa bình là chiến thắng, chính trị là lẽ sống và phải tiêu diệt giai cấp bóc lột.
Không có gì khó hiểu khi thấy họ mang một khí chất khác, cứng rắn, quyết đoán, không ngại nói thẳng.  Nhưng điều đó không có nghĩa là họ thiếu đạo đức, chỉ là đạo đức được định nghĩa một cách khác đi.
Tóm lại, nếu  ta chỉ đứng ở một bên thì “Khác nhau thì có nhưng có rất xa nhau không?”  Câu trả lời là: “Vâng! Rất xa,” Còn nếu bước sang một bước để nhìn toàn cảnh thì lúc này quý vị sẽ thấy một bên là những con người mang theo nề nếp, học thức và nỗi đau di cư. Một bên là những con người vừa bước ra từ chiến tranh mang trong mình khát vọng xây dựng và lòng tin vào lý tưởng. Nếu chỉ so sánh về cái vẻ bề ngoài thì đúng, khác rất xa. Nhưng nếu nhìn vào hoàn cảnh, lý do và cả nỗi niềm bên trong thì có khi không xa như ta nghĩ.
Một người lớn tuổi từng nói với tôi:
- "Tôi sống ở Sài Gòn trước năm 1975 và tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh sau đó. Nhưng tôi không biết lúc nào mình ngừng cảm thấy đó là thành phố của mình.”
Đó là một lời nói buồn, không giận, không trách, chỉ là không còn thấy mình thuộc về nữa. Vì sao nhiều người dân Sài Gòn thấy mình bị thay thế? Không phải chỉ vì đổi tên thành phố, mà vì mọi thứ quen thuộc biến mất cùng một lúc. Tên Đường từ Thống Nhất, Công Lý, Cường Để… thành những tên ba bốn chữ rất xa lạ.
Về giọng nói.  Giọng Bắc “chính trị” đã thay thế cho giọng Nam “bình dân.”  Cách gọi nhau anh-chị thành đồng-chí đã mất đi sự gần gũi tự nhiên. Những bản nhạc cũ bị cấm, những tiệm sách cũ bị đóng, những từ ngữ quen dùng bị xem là phản động. Và điều đau nhất không ai hỏi ý kiến người dân, không ai xin phép họ trước khi xóa đi ký ức của họ. Họ không chống lại người mới. Họ chống lại cảm giác bị gạt ra khỏi chính quê hương của mình.
Thử tưởng tượng quý vị đang sống trong một ngôi nhà đã 30 năm rồi.  Một ngày có người lạ khác bước vào sơn lại tường, thay lại bàn thờ, đổi lại tên gọi và nói:
- “Từ bây giờ nhà này là nhà mới nha!  Đừng gọi tên cũ nữa."
Quý vị không thể đánh họ; cũng không thể đuổi được họ. Nhưng trong lòng quý vị vẫn có một điều gì đó bất mãn rất lớn lao. Điều bất mãn đó có chính đáng không? Rất chính đáng chứ nhỉ!  Vì nỗi đau không cần đúng-sai, chỉ cần đủ-lâu và đủ-thực. Người dân Sài Gòn buồn không phải vì họ thù hận. Họ buồn vì cái tên Sài Gòn là thứ cuối cùng họ còn giữ được mà cũng không thể giữ nổi. Thật không dễ gì trả lời. Nó đụng vào những cảm xúc sâu xa, rất thực. Nhưng có một điều chắc chắn, chỉ vì mình từng tổn thương không có nghĩa là mình có quyền làm người khác tổn thương lại.
Vậy thì liệu có đúng là người Bắc sau năm 1975 thô bạo, vô văn hóa, cư xử như kẻ chiến thắng?  Sau năm 1975 khi người cán bộ người Bắc theo chế độ mới vào vào Nam với tư thế của người chiến thắng tiếp quản miền Nam thật sự đã có những va chạm trên các khác biệt lớn, những cú “sốc” văn hóa.
Cần nói rõ là không thể lấy một nhóm người để đánh giá cho cả một tập thể. Có rất nhiều người Bắc sau năm 1975 vào Nam sống tử tế, hòa nhã, làm việc chăm chỉ, đóng góp thầm lặng. Họ không hung hăng, cũng không thô bạo, không đòi hỏi gì. Có người làm bác sĩ được người dân quý vì tận tâm; Có người làm thầy giáo cô giáo giúp học sinh nghèo vùng xa xôi biết chữ; Có cả những người từng đi bộ đội nhưng sau 1975 hòa bình về sống như bao người dân khác, không màng chức quyền. Họ không có tội. Họ chỉ sinh ra ở một miền đất khác và sống theo những gì họ đã được dạy.
Nguy hiểm nhất là mỗi khi đầu đã có sẵn định kiến và định kiến biến thành lời miệt thị. Chỉ vì một vài cán bộ từng thô bạo mà nói cả một thế hệ vô văn hóa. Chỉ vì vài người áp đặt mà nói cả một miền là kẻ cướp.  Đó là cách nhanh nhất để biến một cuộc đối thoại thành một cuộc chia rẽ. Và đó cũng là lý do vì sao suốt gần 50 năm qua người Việt vẫn chưa thể thực sự ngồi lại với nhau vì cứ mỗi lần vừa mở lời là đã có người bị quy kết tội rồi.
Phản biện không phải là kết tội mà là để gỡ từng lớp hiểu lầm. Quý vị có quyền chỉ ra những cái sai của bất kỳ ai ở bất kỳ bên nào, nhưng không ai có quyền nói cả một thế hệ là thô bạo, là kém văn hóa. Chỉ vì họ sinh ra ở miền Bắc và đến miền Nam sau chiến tranh.  Sự thực cần được nói nhưng cách nói cũng quan trọng như điều ta nói. Điều ta cần lúc này không phải là ai đúng ai sai?  Mà là ai còn đủ bình tĩnh để tránh nói ra sự thực đã làm tổn thương nhau thêm một lần nữa. Vậy thì sau tất cả những tổn thương, hiểu lầm, định kiến và ký ức chồng chất, liệu có còn cách nào để người Việt, đặc biệt là người miền Nam và miền Bắc hiểu nhau hơn không?
Quan trọng nhất là có còn cách nào để giữ được tinh thần Sài Gòn mà không phủ nhận thực tế “Thành phố Hồ Chí Minh” đang tồn tại hôm nay? Có người từng nói một câu rất đau đầu:
- “Sài Gòn không cần lấy lại bằng giấy tờ. Sài Gòn chỉ cần được gọi đúng tên trong tim những người còn thương nó.”
Câu đó nghe qua tưởng là hoài niệm nhưng thật ra là lối thoát cho rất nhiều mâu thuẫn kéo dài hàng chục năm. Vì thực tế “Thành phố Hồ Chí Minh” bây giờ là tên hành chính, là một phần của đất nước này là điều không thể phủ nhận. Nhưng điều đó không có nghĩa là người ta phải quên cái tên Sài Gòn.  Trên giấy tờ quý vị có thể viết “Thành phố Hồ Chí Minh” nhưng trong ký ức, trong văn chương, trong lời nói hàng ngày, nếu quý vị vẫn gọi đó là Sài Gòn thì Sài Gòn nó vẫn sống. Nó sống trong tiếng rao hàng vào mỗi buổi sáng. Nó sống trong những tấm bảng hiệu cũ. Nó sống trong cách người ta lái xe, bấm còi, nói tiếng “Dạ và Thưa” đầy thân tình.
Cái tên không quyết định hết, cách sống mới là thứ giữ lại một thành phố. Cũng như vậy, người Bắc năm 1954 và người Bắc sau năm 1975, người miền Nam, người hải ngoại, người trẻ sinh ra sau hòa bình không cần phải xóa ký ức của nhau để được tồn tại. Chúng ta chỉ cần một điều nhìn nhau mà không gạt bỏ nhau. Không ai phải thua cũng không ai cần phải thắng.  Chỉ cần biết rằng mỗi người đều có lý do để thấy đau và không ai có quyền độc quyền nỗi đau đó. Nếu hôm nay quý vị vẫn gọi là Sài Gòn bằng sự trân trọng thì thành phố đó vẫn chưa mất. Và nếu quý vị sống giữa “Thành phố Hồ Chí Minh” hôm nay, hãy sống sao cho người xưa nhìn lại, họ không thấy mình bị lãng quên.
Đó là cách Sài Gòn và “Thành phố Hồ Chí Minh” có thể cùng tồn tại trong lòng một dân tộc từng chia đôi và đang học cách ngồi lại bên nhau. Điều còn lại gì sau một cái tên có người gọi nơi này là Sài Gòn, có người chỉ gọi là “Thành phố Hồ Chí Minh.” chỉ là một cái tên nhưng với mỗi người nó gắn cả một phần đời. Người thì nhớ một thời áo dài trắng, người thì nhớ một thời hành quân qua rừng rậm. Người nhớ mẹ dắt đi chợ Bến Thành sáng sớm; người nhớ lần đầu đặt chân vào thành phố xa lạ mà mình được lệnh “tiếp quản.”  Không ai giống ai, không ai cần phải sống theo ký ức của người khác.
Nhưng nếu ta còn biết lắng nghe nhau thì có thể cái tên Sài Gòn dù không nằm trên bản đồ vẫn còn sống giữa lòng “Thành phố Hồ Chí Minh.” Không cần giành giật cũng không cần xóa bỏ. Chỉ cần một chút hiểu biết để bớt đau lòng và một chút thương tình để còn giữ lấy nhau.
Nếu quý vị vẫn còn thương Sài Gòn, dù gọi tên gì đi nữa thì tôi nghĩ quý vị vẫn đang sống cùng nó mỗi ngày.
Trần Văn Giang ( HNPD )

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Tin Tức ngày 07 tháng 03 -2025:

tờ bao nay co phải anh em voi SBTN ?

Xem Thêm

Đề bài :Tin Tức ngày 18 - 02 -2025:

tơ bào này toàn dich tin tưc tui liberal AU CHAU khong à chỉ đung 1/2tụi AU CHAU cư sưvoi nươc MY kong băng và dân AU CHAU lười biêng , tôi đả đi choi AU CHAU mừoi ngày ròi thừ bay chăng cò cửa tiệm mở ...dân AU CHAU lười như hủi .

Xem Thêm

Đề bài :Chuyện “Phố Vải” - by Phạm Thành Nhân / Trần Văn Giang (ghi lại).

Đây là một bài viết thú vị nêu bật tầm quan trọng của việc bảo tồn bản sắc văn hóa thông qua ngôn ngữ. Sự thay đổi về thuật ngữ có thể mang tính tích cực nếu chúng vẫn giữ được mối liên hệ với truyền thống và lịch sử địa phương. Văn bản này cũng gợi lên những cảm xúc và suy nghĩ tương tự như những gì bạn trải qua khi mua bất động sản. Quá trình này cũng tràn đầy sự phấn khích và niềm vui. Điều này đặc biệt đúng đối với các dự án mới của Al Sharq Investment https://dubai-new-developments.com/al-sharq-investment, cung cấp các lựa chọn nhà ở hiện đại và tiện lợi để giúp bạn tìm được ngôi nhà lý tưởng.

Xem Thêm

Đề bài :"Tiếng Việt, yêu & ghét" - Lê Hữu ( Trần Văn Giang ghi lại )

'vô hình trung' là nghĩa gì vậy, sao cứ thích dùng, hình như có nghĩa là 'vô tình'

Xem Thêm

Đề bài :TIN CHIẾN SỰ MỚI NHẤT[ CẬP NHẬT NGÀY 20 -5 - 2022 ]

Suu cao,thue nang,nhu yeu pham tang gia.Kinh te eo seo...Vay ma dang Lua van lay tien cua dan tro giup linh tinh.Mo cua bien gioi.Ung ho toi ac truc tiep khi sua luat cho phep trom cuop o muc do <1.000 dollars thi vo toi....Neu vao thoi diem Trump,bon Lua da ho hoan nhu the nao ??? Nhung nguoi bau ban vi chut tu loi ,nghi gi ve dat nuoc ??? Phai chang day khong phai la dat nuoc minh ??? bat qua,lai tro ve que huong cu...Neu vay,ban la thang cho chet ! mien ban !

Xem Thêm

Đề bài :Tin Mới Nhất Về Chiến Sư Ucraina [ CẬP NHẬT NGÀY 14-5-2022 ]

Chung nao moi vet nho cua ho nha Dan da duoc tay xoa trang boc,thi Uk moi co hy vong...ngung chien.Cung vay,ngay nao ma cac cong ty ,co goc gac tu cac dang bac nu luu-anh hao cua khoi tu do va ong chief police va dang Lua thi moi giai xong phuong trinh tau cong !

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Hình cũ - Hà Thượng Thủ

Ngắm lại hình xưa chịu mấy ông Những Linh, Tùng, Duẫn với Mười, Đồng Mặt mày ai lại đi hồ hởi Phấn khởi khi Tàu cướp Biển Đông Phải chăng “quý” mặt đã thành mông Con mắt nay đà có nhưng không Nên mới chổng khu vào hải đảo Gia tài gấm vóc của tổ tông?

Xem Thêm