Thân Hữu Tiếp Tay...

ĐÃ 43 NĂM VỚI NIỀM QUỐC HẬN. ĐẾN LÚC TIẾN HÀNH QUỐC KHÁNG CHƯA ? - LÃO NGOAN ĐỒNG

( HNPD ) – Lịch sử Việt Nam những ngày xa xưa, không biết có ngày tháng nào mà dân tộc Việt Nam ghi vào lịch sử là ngày Quốc Hận


Tuổi trẻ Việt Nam, hỡi dòng bất khuất !

Nào, đứng lên, vì dân tộc, sơn hà !!

Độc ác phải tàn, chính nghĩa khai hoa

Mau xin dựng một Mùa Xuân Huyền Diệu !

(Trích Bài thơ viết riêng cho ngày Quốc Hận- Ngô Minh Hằng)

 

Lão Ngoan Đồng Lịch sử Việt Nam những ngày xa xưa, không biết có ngày tháng nào mà dân tộc Việt Nam ghi vào lịch sử là ngày Quốc Hận, nhưnggần nhứt dưới triều đại phong kiến, tháng 10 năm Mậu Thân 1788, để cứu nguy cho triều đại thối nát, vua Lê Chiêu Thống đã rước quân tàu Mãn Thanh vào, đặt nước Việt Nam dưới ách đô hộ của quân tàu thêm một lần nữa.

 

May mắn thay! Đã có một vị anh hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ, tập hợp những đồng bào yêu nước thành một lực lượng quyết tử, xả thân vì Tổ Quốc, đánh đuổi quân Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi nước Việt, dựng lại chủ quyền cho dòng dõi Hùng Vương. Bọn bán nước Lê Chiêu Thống theo chân tên tướng tàu Tôn Sĩ Nghị,hớt hải, mất hồn mất vía, chạy qua Tàu rồi bỏ thây ở đó. Theo thiển ý của người viết, có thể coi đây là một chiến công giải trừ Quốc Hận lần thứ nhứt cho dân tộc Việt Nam.

 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, dưới chiêu bài “giải phóng” xão trá, quân cộng sản Bắc Việt đã thừa lịnh của Nga-Hoa, xua quân đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hoà, đặt nền móng của chủ nghĩa cộng sản, với chính sách cai trị sắt máu bằng chế độ toàn trị, độc tài độc đảng, bằng dùi cui, bằng súng đạn của bầy lang sói tay sai Tàu cộng. Ngày đó, dân tộc Việt Nam không kể là dân Bắc hay Nam, đều ghi khắc là Ngày Quốc Hận thứ hai của toàn dân.

 

Cái nguồn gốc gây nên đau thương, thống hận, lệ thuộc ngoại bang phát xuất từ ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày mà tên tội đồ Hồ Chí Minh đã quỳ lụy bọn cộng sản quốc tế, mang cái chủ nghĩa cộng sản ác ôn, ngu xuẫn về nước để dựng nên cái nhà nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” do đảng cộng sản lảnh đạo, dẩn đến sự tàn sát dân tộc, tạo nên cảnh nồi da xáo thịt. Người dân còn sống sót sau các trận thảm sát bởi bọn đầu sỏ đảng và nhà nước việt cộng từ Bắc chí Nam, phải sống một đời nô lệ cho những tên có quyền có thế. Lảnh thổ đã bị bọn chúng dâng hiến cho tàu cộng từng phần từ biên cương phía bắc đến biển đảo ở phía Đông Nam. Dân đã kêu gào thảm thiết, thấu tận trời xanh, mà bọn bán nước buôn dân chẳng mảy may động não.

         

 

Trong 43 năm đã qua, mỗi năm người việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đã tổ chức những buổi lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng 4, trong khi người dân trong nước, dưới sự kềm kẹp của nguỵ quyền hán gian việt cộng, cũng đã có những buổi lễ tưởng niệm, nhưng phải tổ chức trong bí mật với mọi sự dè dặt.

 

Toàn thể nhân dân Việt Nam đều biết, sống dưới chế độ việt cộng, một chế độ tay sai của tàu cộng, không ai có quyền tự do căn bản của một con người, sống trong sự lo sợ triền miên, không có tương lai cho bản thân và con cháu, sống ngày nào hay ngày đó, trong khi bọn cầm quyền và tay sai, sống một đời sống vương giả, làm giàu trên xương máu, trên niềm thống khổ của người dân dưới sự cai trị dã man của bọn việt gian cộng sản.

 

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trải qua đời sống nghèo đói, tủi nhục, nhọc nhằn, người dân trong nước cũng có những cá nhân, những phong trào chống đối sự cai trị hà khắc của bọn cầm quyền bằng những cuộc biểu tình, những hành động phản kháng bằng tự thiêu, bằng “súng hoa cải”, bằng “bom bình ga”, bằng giết cán bộ việt cộng cướp đất cướp nhà...

 

Tuy nhiên những đòi hỏi đó chưa triệt để, đa số chỉ yêu cầu bọn cầm quyền hãy nới tay, sửa đổi vài điều luật phản dân chủ phản nhân quyền, nhưng chưa có quyết tâm lật đổ bọn ngụy quyền việt cộng. Những đòi hỏi dù chính đáng, nhưng chỉ là những tiếng vang trong sa mạc mà thôi. Bọn cầm quyền còn chẳng cần nghe theo lời phản kháng của nhiều nước trên thế giới về sự cai trị độc tài độc đảng, về vấn đề vi phạm thô bỉ nhân quyền, thì xá chi tiếng kêu gào thảm thiết của người dân mà chúng coi là nô lệ của chúng.

 

Hoài niệm nỗi tủi nhục, căm hờn trong im lặng suốt 43 năm, chế độ cộng sản độc đảng, độc tài vẫn còn đó, bọn cầm quyền tàn ác với dân, hèn hạ với kẻ thù truyền kiếp vẫn còn ngất ngưởng trên địa vị cai trị nước theo ý muốn của chúng, không màng gì đến đời sống của người dân, không kể gì đến sự phê phán của thế giới về chính sách cai trị tàn ác của chúng. Tất cả vẫn còn nguyên nếu không muốn nói là ngày càng bi thảm, tàn ác hơn.

 

Hơn thế nữa, sự giành giựt quyền thế ngôi vị trong đảng, trong bộ máy nhà nước,  giữa bọn chúng với nhau như bọn cướp, tranh quyền, tranh ăn, tranh lảnh địa để hà hiếp dân với tham vọng làm giàu hơn, khiến cho người dân càng ngày càng sống trong tột cùng khốn khổ, chưa biết đến ngày nào gia đình bị cướp nhà, cướp đất, và còn có thể bị cướp đi sinh mạng khi bị “mời” vào đồn công an để bị tra khảo, cưỡng ép giao nhà giao đất cho bọn chúa trùm quan chức việt cộng, và khi ra khỏi đồn công an, đôi khi đã biến thành xác chết vì đã “tự tử bằng dâythung lưng quần”, hoặc “dùng dao rọc giấy của các quan công an để tự cắt cổ chết”.

 

Đồng bào Việt Nam không những đã đau đớn với niềm đau Quốc Hận, mà còn mang nỗi nhục nhã khôn cùng:

 

Trước hết là Quốc nhục

 

Bọn chóp bu việt cộng, trong bộ chánh trị trung ương đảng, trong các bộ phận nhà nước XHCN, mỗi lần đi ra nước ngoài để “ăn mày bọn tư sản giảy chết”, đã để lộ cái bộ mặt dốt nát ngu đần, qua các hành động, cử chỉ và lời nói làm nhục Quốc Thể, khiến cho  báo chí, truyền thanh, truyền hình của nước sở tại có những chương trình hài hước chửi xéo cái “trò diển hề” của chúng, làm cho dân tộc Việt Nam phải bị nhục lây.

 

Chưa hết, bọn chúng còn tỏ vẻ khúm núm , vâng vâng dạ dạ với “chỉ thị của tàu cộng” mỗi khi chúng qua tàu hay tàu đến nước Việt. Điều nầy chứng tỏ chúng đã đội tàu cộng lên đầu, cúc cung thần phục nước tàu cộng, trong khi miệng nói láoleo lẻo với người dân Việt là đảng và nhà nước tuyệt đối “bảo vệ chủ quyền của tổ Quốc”.

 

Kế đến là cá nhân của người Việt tự thấy nhục

 

- Nhục là vì bị bọn đảng và nhà nước gạt gẫm hết lần nầy đến lần khác, mà không đủ lý trí để nhận xét;

 

- Nhục là vì bị đàn áp, bị gông cùm mà không dám phản kháng do lòng sợ hải đè bẹp chí quật cường của tiền nhân tryền lại cho dân tộc;

 

- Nhục là vì vô cảm, thấy người bị hà hiếp áp bức mà lòng vẫn dửng dưng;

 

- Nhục là vì bả vinh hoa, danh lợi bán linh hồn cho quỷ, tiếp tay với kẻ thù của dân tộc, mà ngày trước đã liều mạng vượt biên để chạy trốn chúng, nay quay lại về phe với chúng đàn áp dân mình;

 

- Nhục là vì không dám tham gia, chỉ biết đùn đẩy người khác tranh đấu cho tự do, cho quyền làm người của toàn dân thay cho mình, làm kẻ bàng quan vô tâm;

 

- Nhục là vì dân mình bị bán ra ngoại quốc làm nô lệ tình dục, làm kẻ tôi đòi cho ngoại nhân qua cái chủ trương “xuất cảng lao động”;

 

- Nhục là vì đã phản bội lời thề “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm” mà ngày nào đã cùng tuyên thệ với đồng đội trước Bàn Thờ Tổ Quốc, trước Anh Linh của Tiền Nhân.

 

- Nhục là vì Quốc Thể bị chà đạp do bọn cầm quyền ươn hèn, lì lợm, mù quáng, làm tay sai cho một chủ nghĩa vô luân, không tưởng, bị cả thế giới khinh rẻ, mà vẫn cúi đầu cam chịu;…

 

Toàn dân Việt Nam đã chịu nhẫn nhục để sống qua hơn 70 năm cho người miền Bắc, và 43 năm của người miền Nam. Thời gian chịu đựng và nhẫn nhục nầy đã quá dài, Quốc Hận tiến thêm một bước khác là Quốc Nhục.