Mỗi Ngày Một Chuyện

"Đừng Bắt Tô Phở Gà Gánh Cả Ngàn Năm Văn Hiến" - by Lữ Thị Đoan Trang / Trần Văn Giang (ghi lại).

xxx

ToPhoGaTô Phở Gà

*

Dạo gần đây, thỉnh thoảng tôi đọc được vài bài viết nghe rất “lên đời” về văn hóa, nghệ thuật và ẩm thực ở miền ngoài (miền Bắc!). Nào là ca sĩ miền Bắc có vẻ hợp với nhạc thính phòng hơn (miền Bắc làm gì mà có loại nhạc này hè?), còn ca sĩ miền Nam thì hình như chỉ chuyên trị “Bolero,” nhạc sến, nhạc mùi. Rồi lại có những lời quảng cáo nghe rất trang trọng, kiểu như “Phở gà Hà Nội - Nét di sản tinh tế của đất Kinh kỳ.” Thoáng đọc qua thì thấy chữ nghĩa rất có mùi văn hóa, bay lượn như khói trầm trong đình làng. Nhưng ngẫm kỹ, cũng nên thong thả một chút, kẻo tô phở gà chưa kịp nguội mà đã bị bắt đội mão “Di sản,” mặc áo “Ngàn năm văn hiến,” rồi đứng nghiêm chào lịch sử.

Nói cho ngay, gà thì ở đâu chẳng có. Phở gà cũng không phải món từ trời rơi xuống riêng cho một vùng đất nào. Món ăn ngon hay dở, phần lớn vẫn nằm ở tay nghề người nấu, kinh nghiệm nêm nếm nước dùng, và nhất là nguyên liệu có thật sự tươi, sạch, đúng chất hay không. Gà thả vườn, chạy bộ ngoài sân, thịt chắc, da giòn, thơm tự nhiên, dĩ nhiên khác xa với gà công nghiệp nuôi theo lịch trình tăng trưởng nhanh như cán bộ chạy chỉ tiêu mỗi cuối "tam cá nguyệt" (quý?). Mà giữa Hà thành thời nay, đất còn phải tính từng mét vuông, nhà còn chen nhau thở, thì chuyện nuôi gà thả vườn cho đúng nghĩa ngay đất Kinh kỳ nghe cũng hơi giống một thứ truyền thuyết dân gian hay chuyện hoang đường thời đô thị hóa.

Những ai từng sống ở Sài Gòn trước đây hẳn cũng dễ nhớ tới quán phở gà Hiền Vương ở Quận 3.  Đây là một quán phở gà nổi tiếng do người Bắc di cư lập nên sau 1954. Sài Gòn thuở đó vốn là đất mở, ai mang theo món ngon, nghề hay, cách nấu khéo, thì cứ tự nhiên góp vào cái nồi chung của thành phố. Người Bắc đem phở vào Nam, người Nam thêm cái rộng rãi, phóng khoáng của mình, rồi món ăn cứ vậy mà sống trong lòng thực khách, không có ai cần phải treo bảng “Ngàn Năm Văn Hiến” ở trước cửa.

Ngay cả Sài Gòn ngày xưa đâu có thiếu phở ngon. Có quán lớn, có quán nhỏ, có gánh phở đêm, có xe phở đầu hẻm, có tô phở ăn xong nhớ hoài mà chủ quán chẳng cần biết tới hai chữ “Di Sản” là gì. Họ chỉ biết nấu phở cho ngon, bán cho tử tế.  Khách ăn thấy vừa miệng thì hôm sau quay lại. Chỉ đơn giản vậy thôi mà bền. Cái hay của ẩm thực Sài Gòn là ở chỗ đó, không ồn ào xưng danh, không bắt tô phở phải gồng mình làm “Đại sứ Văn hóa,” càng không cần thổi nước dùng thành huyền thoại để chứng minh là mình “Thanh lịch” hơn ai (?).

Tôi không phủ nhận Hà Nội có nét ẩm thực riêng. Không ai rảnh tới mức đi cãi chuyện một tô phở ngon, một bát bún thang khéo, hay một chén nước dùng được nấu có tay nghề. Nhưng ngon là một chuyện, còn đem chữ những “Di sản,” “Tinh tế,” “Kinh kỳ” treo lên khắp nơi lại là chuyện khác. Có khi món ăn chưa kịp đi vào lòng người đã bị quảng cáo kéo lên sân khấu, bắt mặc áo gấm, đội khăn xếp, rồi đọc diễn văn về truyền thống. Tô phở lúc đó không còn là tô phở nữa, mà giống như một “Đại biểu Văn hóa” đang bị bắt phát biểu lúc quá giờ.

Chuyện nghệ thuật cũng vậy. Bây giờ nói ca sĩ miền Bắc hợp với nhạc thính phòng, ca sĩ miền Nam chỉ hợp với nhạc “Bolero,” nghe qua tưởng là nhận xét chuyên môn, nhưng thật ra dễ trượt qua kiểu phân chia văn hóa rất buồn cười. “Bolero” có cái hay của “Bolero,” thính phòng có cái khó của thính phòng. Người hát hay thì ở đâu cũng hay. Người hát dở thì có đứng giữa nhà hát lớn, đèn chùm sáng rực, “Micro” xịn tới đâu, khán giả cũng chỉ mong cho mau tới giờ nghỉ giải lao. Nghệ thuật không phải cứ khoác áo “Bác học” vào là tự nhiên cao hơn người khác, cũng không phải cứ hát về đời thường, tình nghèo, phận người là thấp hơn ai. Có khi một câu “Bolero” hát đúng nỗi đời còn thật hơn cả một buổi thính phòng mà người nghe chỉ dám vỗ tay vì sợ mình bị người chung quanh coi là thiếu trình độ.

Điều đáng nói là sự “lên đời” văn hóa hôm nay thật ra mới diễn ra trong vài mươi năm gần đây thôi. Trước đó, trong thời bao cấp, thử hỏi cả Hà thành có được bao nhiêu phòng nghe nhạc cho ra hồn, để người ta thong dong thưởng thức nhạc thính phòng, jazz, hay những dòng nhạc không phục vụ khẩu hiệu? Lúc ấy, muốn thoát ra khỏi kiểu “Tiếng hát át tiếng bom” cũng đâu phải dễ. Chỉ cần thích nghe, thích hát, thích mặc, thích sống hơi khác một chút thôi, người ta đã có thể bị chụp cho cái nón “Tiểu tư sản,” “Lai căng,” hay nặng hơn nữa là “Có vấn đề lập trường.” Cái nón đó hồi xưa không cần chọn “Size,” mà là “One size fits all”; Chụp lên đầu ai cũng vừa cả.

Ẩm thực cũng vậy. Bây giờ đi đâu cũng thấy bảng hiệu “Gia truyền,” “Truyền thống ba đời,” “Nấu theo lối xưa,” “Hương vị Kinh kỳ…” nghe cứ như nhà nào cũng từng có bếp than hồng, nồi nước lèo nghi ngút, gà đầy đàn thả ngoài vườn, chạy vòng vòng ngoài sân, gia vị tinh tuyển từ đời cụ cố. Nhưng mới đây thôi, trong thời bao cấp, nhiều gia đình củi còn không đủ để đun nồi nước sôi, gạo còn theo tem phiếu, thịt cá là chuyện phải tính từng lạng, nói gì tới chuyện ngày ngày nấu nướng tinh tế, truyền đời, thanh lịch như trong nội dung tờ quảng cáo. Không phải quá khứ không có cái hay, nhưng cũng không nên đem cái thiếu thốn, chật vật, kham khổ ngày xưa sơn phết lại thành một bức tranh vàng son để vừa mắt khách hàng hôm nay.

Điều buồn cười hơn nữa là bây giờ người ta rất thích nói tới “Di sản,” “Phố cổ,” “Tinh hoa Buôn bán,” “Văn hóa Hàng quán,” “Nghề gia truyền,” “Doanh nhân dân tộc…” nghe cứ như cái mạch thương nghiệp tư nhân ấy được nâng niu liên tục từ đời ông cố tới đời cháu nội. Nhưng lịch sử đâu có hiền như tờ quảng cáo. Đã có một thời, người buôn bán bị nhìn bằng con mắt nghi ngại; tiểu thương bị xếp vào diện "Phải đi cải tạo"; chủ tiệm, chủ xưởng, những người có chút vốn liếng, chút nghề nghiệp, chút cửa hàng riêng, đều có thể bị khoác lên người những nhãn hiệu rất nặng như “Tư sản,” “Tiểu tư sản,” “Tư sản mại bản...” Hồi đó mở tiệm thì bị coi là có vấn đề, còn bây giờ mở được một chuỗi nhà hàng thì được gọi là “Khởi nghiệp văn hóa.” Đúng là lịch sử cũng biết thay áo, chỉ có điều bẽ bàng là cái áo mới đôi khi che chưa hết các vết vá cũ.

Cho nên, khi thấy hôm nay người ta dựng lại những khu phố ẩm thực, những quán cà phê phong cách xưa, những bảng hiệu “Gia truyền ba đời,” những nhà hàng treo đèn lồng, bày bàn ghế gỗ, kể chuyện “Nét thanh lịch đất Kinh kỳ,” tôi chỉ thấy nên cười nhẹ một cái. Không phải vì những thứ đó không đẹp, mà vì cái đẹp ấy đã từng có lúc bị chính những khẩu hiệu ngày xưa xem là “Tàn dư của lối sống tư sản.” Ngày trước, một cái máy may, một tiệm tạp hóa, một quán ăn đông khách, một hiệu buôn nhỏ cũng có thể thành một “Lý lịch kinh tế đáng ngại.” Ngày nay, cũng y những thứ đó, nếu biết trang trí lại cho sang, gắn thêm chữ “Di sản,” “Bản sắc,” “Tinh hoa,” thì bỗng nhiên trở thành “Niềm tự hào văn hóa.” Cái bàn gỗ ngày xưa là dấu hiệu tiểu tư sản, hôm nay đem lau bóng lại thì thành "Phong cách hoài cổ (?)".  Tài tình thật!

Cái nghịch lý nằm ở chỗ đó. Một thời thì đánh tư sản, cải tạo thương nghiệp, xem kinh doanh tư nhân như thứ cần phải được uốn nắn. Một thời sau thì lại tôn vinh doanh nhân, cổ vũ kinh tế tư nhân, vỗ tay cho cửa hàng, quán xá, thương hiệu, nhà hàng, khách sạn mọc lên như nấm sau cơn mưa. “Lên đời” là chuyện đáng mừng, nhưng “Lên đời” mà quên mất cái thời từng đập phá cái thang để người khác không leo lên được, thì câu chuyện văn hóa nghe có vẻ hơi thiếu thành thật. Hôm qua còn cấm người ta buôn bán, hôm nay lại khen ai biết làm ăn là có “Tinh thần Dân tộc.” Nghe kể ra cũng vui, nhưng chỉ tiếc là nhiều người bị tịch thu bàn ghế ngày xưa không còn đủ sức ngồi lại để vỗ tay.

Nói vậy không phải để phủ nhận hiện tại. Đất nước khá hơn, người dân làm ăn được hơn, hàng quán đẹp hơn, món ăn phong phú hơn, đời sống có màu sắc hơn, đó là điều đáng quý. Nhưng nếu đã gọi là “Di sản” thì phải nhớ đủ cả hai mặt. “Di sản” không chỉ là “Tô phở gà” được bày trong cái tô sứ đẹp, với mấy lát lá chanh xắt nhuyễn nằm duyên dáng bên trên. “Di sản” còn có cả cái thời người ta phải xếp hàng mua gạo, phải đong dầu, phải tính từng bó củi, và phải giấu bớt sự tháo vát của mình vì sợ bị nhìn thành “Thành phần kinh tế có vấn đề.” “Di sản” không chỉ có mùi nước dùng, nó còn có mùi khói bếp, mùi tem phiếu, mùi mồ hôi của những người từng sống qua một thời nói thật cũng khó, nói ngon thì lại càng khó hơn.

Lên đời” là có thật. Kinh tế khá hơn, đời sống mở ra, người ta ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, nghe nhạc đa dạng hơn, đi nhà hàng nhiều hơn, có điều kiện chăm chút cho văn hóa hơn. Đó là điều đáng mừng. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Có cũ mới có mới. Có nghèo khó mới hiểu giá trị của no đủ. Có một thời tem phiếu, củi than, xếp hàng, thiếu thốn, thì hôm nay mới thấy một tô phở nóng, một ly cà phê ngon, một buổi hòa nhạc tử tế là điều quý. Nhưng quý không có nghĩa là phải dựng lại quá khứ theo kiểu lộng lẫy hóa, biến những năm tháng chưa mấy sáng sủa thành cái phông nền sang trọng để đánh bóng cái hào nhoáng hiện giờ. Nói nôm na, cái nồi từng thiếu củi thì đừng kể lại như thể lúc nào cũng hầm xương bằng lửa văn hiến.

Nói thật chẳng có gì khó. Khó là nói thật mà vẫn không làm mất vui. Phở gà ngon thì cứ khen ngon. Phở gà Hà Nội ngon thì cứ khen phở gà Hà Nội. Phở gà Hiền Vương ở Sài Gòn từng được nhiều người nhớ thì cứ ghi nhận là đáng nhớ. Ca sĩ hát hay thì cứ khen hát hay. Hà Nội có nét riêng thì cứ ghi nhận nét riêng. Miền Nam có nhạc “Bolero,” có cải lương, có giọng ca mùi mẫn, có cái hồn bình dân, thì cũng chẳng có gì phải xấu hổ. Văn hóa không phải cái thang máy để ai đó bấm nút lên tầng cao rồi nhìn xuống người khác. Văn hóa, nếu thật sự là văn hóa, thì phải đủ rộng để chứa cả nhà hát lớn lẫn quán cóc, cả thính phòng lẫn “Bolero,” cả phở gà Hà Nội lẫn tô hủ tiếu miền Tây lúc sáng sớm bên bờ sông.

Cho nên, xin cứ thưởng thức, cứ quảng bá, cứ tự hào, nhưng cũng nên chừa lại một khoảng trống cho sự thật. Bởi cái gì ngon thì tự nó có hương. Cái gì đẹp thì tự nó có dáng. Còn cái gì phải nhờ quá nhiều mỹ từ để đứng vững, thì đôi khi không phải vì nó quá tinh tế, mà vì nó đang hơi thiếu nước dùng. Phở ngon thì để người ăn nhớ, không cần bắt người ăn phải học sử trước khi húp nước lèo.

Nhìn thẳng vào đó thì câu chuyện văn hóa mới có chiều sâu. Còn chỉ đánh bóng cho sáng, rồi gọi đó là “Di sản,” thì e rằng không phải văn hóa đang lên đời, mà chỉ là cái bảng hiệu đang được thay phông chữ @.

Lữ Thị Đoan Trang

Trần Văn Giang (ghi lại)


Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

"Đừng Bắt Tô Phở Gà Gánh Cả Ngàn Năm Văn Hiến" - by Lữ Thị Đoan Trang / Trần Văn Giang (ghi lại).

xxx

ToPhoGaTô Phở Gà

*

Dạo gần đây, thỉnh thoảng tôi đọc được vài bài viết nghe rất “lên đời” về văn hóa, nghệ thuật và ẩm thực ở miền ngoài (miền Bắc!). Nào là ca sĩ miền Bắc có vẻ hợp với nhạc thính phòng hơn (miền Bắc làm gì mà có loại nhạc này hè?), còn ca sĩ miền Nam thì hình như chỉ chuyên trị “Bolero,” nhạc sến, nhạc mùi. Rồi lại có những lời quảng cáo nghe rất trang trọng, kiểu như “Phở gà Hà Nội - Nét di sản tinh tế của đất Kinh kỳ.” Thoáng đọc qua thì thấy chữ nghĩa rất có mùi văn hóa, bay lượn như khói trầm trong đình làng. Nhưng ngẫm kỹ, cũng nên thong thả một chút, kẻo tô phở gà chưa kịp nguội mà đã bị bắt đội mão “Di sản,” mặc áo “Ngàn năm văn hiến,” rồi đứng nghiêm chào lịch sử.

Nói cho ngay, gà thì ở đâu chẳng có. Phở gà cũng không phải món từ trời rơi xuống riêng cho một vùng đất nào. Món ăn ngon hay dở, phần lớn vẫn nằm ở tay nghề người nấu, kinh nghiệm nêm nếm nước dùng, và nhất là nguyên liệu có thật sự tươi, sạch, đúng chất hay không. Gà thả vườn, chạy bộ ngoài sân, thịt chắc, da giòn, thơm tự nhiên, dĩ nhiên khác xa với gà công nghiệp nuôi theo lịch trình tăng trưởng nhanh như cán bộ chạy chỉ tiêu mỗi cuối "tam cá nguyệt" (quý?). Mà giữa Hà thành thời nay, đất còn phải tính từng mét vuông, nhà còn chen nhau thở, thì chuyện nuôi gà thả vườn cho đúng nghĩa ngay đất Kinh kỳ nghe cũng hơi giống một thứ truyền thuyết dân gian hay chuyện hoang đường thời đô thị hóa.

Những ai từng sống ở Sài Gòn trước đây hẳn cũng dễ nhớ tới quán phở gà Hiền Vương ở Quận 3.  Đây là một quán phở gà nổi tiếng do người Bắc di cư lập nên sau 1954. Sài Gòn thuở đó vốn là đất mở, ai mang theo món ngon, nghề hay, cách nấu khéo, thì cứ tự nhiên góp vào cái nồi chung của thành phố. Người Bắc đem phở vào Nam, người Nam thêm cái rộng rãi, phóng khoáng của mình, rồi món ăn cứ vậy mà sống trong lòng thực khách, không có ai cần phải treo bảng “Ngàn Năm Văn Hiến” ở trước cửa.

Ngay cả Sài Gòn ngày xưa đâu có thiếu phở ngon. Có quán lớn, có quán nhỏ, có gánh phở đêm, có xe phở đầu hẻm, có tô phở ăn xong nhớ hoài mà chủ quán chẳng cần biết tới hai chữ “Di Sản” là gì. Họ chỉ biết nấu phở cho ngon, bán cho tử tế.  Khách ăn thấy vừa miệng thì hôm sau quay lại. Chỉ đơn giản vậy thôi mà bền. Cái hay của ẩm thực Sài Gòn là ở chỗ đó, không ồn ào xưng danh, không bắt tô phở phải gồng mình làm “Đại sứ Văn hóa,” càng không cần thổi nước dùng thành huyền thoại để chứng minh là mình “Thanh lịch” hơn ai (?).

Tôi không phủ nhận Hà Nội có nét ẩm thực riêng. Không ai rảnh tới mức đi cãi chuyện một tô phở ngon, một bát bún thang khéo, hay một chén nước dùng được nấu có tay nghề. Nhưng ngon là một chuyện, còn đem chữ những “Di sản,” “Tinh tế,” “Kinh kỳ” treo lên khắp nơi lại là chuyện khác. Có khi món ăn chưa kịp đi vào lòng người đã bị quảng cáo kéo lên sân khấu, bắt mặc áo gấm, đội khăn xếp, rồi đọc diễn văn về truyền thống. Tô phở lúc đó không còn là tô phở nữa, mà giống như một “Đại biểu Văn hóa” đang bị bắt phát biểu lúc quá giờ.

Chuyện nghệ thuật cũng vậy. Bây giờ nói ca sĩ miền Bắc hợp với nhạc thính phòng, ca sĩ miền Nam chỉ hợp với nhạc “Bolero,” nghe qua tưởng là nhận xét chuyên môn, nhưng thật ra dễ trượt qua kiểu phân chia văn hóa rất buồn cười. “Bolero” có cái hay của “Bolero,” thính phòng có cái khó của thính phòng. Người hát hay thì ở đâu cũng hay. Người hát dở thì có đứng giữa nhà hát lớn, đèn chùm sáng rực, “Micro” xịn tới đâu, khán giả cũng chỉ mong cho mau tới giờ nghỉ giải lao. Nghệ thuật không phải cứ khoác áo “Bác học” vào là tự nhiên cao hơn người khác, cũng không phải cứ hát về đời thường, tình nghèo, phận người là thấp hơn ai. Có khi một câu “Bolero” hát đúng nỗi đời còn thật hơn cả một buổi thính phòng mà người nghe chỉ dám vỗ tay vì sợ mình bị người chung quanh coi là thiếu trình độ.

Điều đáng nói là sự “lên đời” văn hóa hôm nay thật ra mới diễn ra trong vài mươi năm gần đây thôi. Trước đó, trong thời bao cấp, thử hỏi cả Hà thành có được bao nhiêu phòng nghe nhạc cho ra hồn, để người ta thong dong thưởng thức nhạc thính phòng, jazz, hay những dòng nhạc không phục vụ khẩu hiệu? Lúc ấy, muốn thoát ra khỏi kiểu “Tiếng hát át tiếng bom” cũng đâu phải dễ. Chỉ cần thích nghe, thích hát, thích mặc, thích sống hơi khác một chút thôi, người ta đã có thể bị chụp cho cái nón “Tiểu tư sản,” “Lai căng,” hay nặng hơn nữa là “Có vấn đề lập trường.” Cái nón đó hồi xưa không cần chọn “Size,” mà là “One size fits all”; Chụp lên đầu ai cũng vừa cả.

Ẩm thực cũng vậy. Bây giờ đi đâu cũng thấy bảng hiệu “Gia truyền,” “Truyền thống ba đời,” “Nấu theo lối xưa,” “Hương vị Kinh kỳ…” nghe cứ như nhà nào cũng từng có bếp than hồng, nồi nước lèo nghi ngút, gà đầy đàn thả ngoài vườn, chạy vòng vòng ngoài sân, gia vị tinh tuyển từ đời cụ cố. Nhưng mới đây thôi, trong thời bao cấp, nhiều gia đình củi còn không đủ để đun nồi nước sôi, gạo còn theo tem phiếu, thịt cá là chuyện phải tính từng lạng, nói gì tới chuyện ngày ngày nấu nướng tinh tế, truyền đời, thanh lịch như trong nội dung tờ quảng cáo. Không phải quá khứ không có cái hay, nhưng cũng không nên đem cái thiếu thốn, chật vật, kham khổ ngày xưa sơn phết lại thành một bức tranh vàng son để vừa mắt khách hàng hôm nay.

Điều buồn cười hơn nữa là bây giờ người ta rất thích nói tới “Di sản,” “Phố cổ,” “Tinh hoa Buôn bán,” “Văn hóa Hàng quán,” “Nghề gia truyền,” “Doanh nhân dân tộc…” nghe cứ như cái mạch thương nghiệp tư nhân ấy được nâng niu liên tục từ đời ông cố tới đời cháu nội. Nhưng lịch sử đâu có hiền như tờ quảng cáo. Đã có một thời, người buôn bán bị nhìn bằng con mắt nghi ngại; tiểu thương bị xếp vào diện "Phải đi cải tạo"; chủ tiệm, chủ xưởng, những người có chút vốn liếng, chút nghề nghiệp, chút cửa hàng riêng, đều có thể bị khoác lên người những nhãn hiệu rất nặng như “Tư sản,” “Tiểu tư sản,” “Tư sản mại bản...” Hồi đó mở tiệm thì bị coi là có vấn đề, còn bây giờ mở được một chuỗi nhà hàng thì được gọi là “Khởi nghiệp văn hóa.” Đúng là lịch sử cũng biết thay áo, chỉ có điều bẽ bàng là cái áo mới đôi khi che chưa hết các vết vá cũ.

Cho nên, khi thấy hôm nay người ta dựng lại những khu phố ẩm thực, những quán cà phê phong cách xưa, những bảng hiệu “Gia truyền ba đời,” những nhà hàng treo đèn lồng, bày bàn ghế gỗ, kể chuyện “Nét thanh lịch đất Kinh kỳ,” tôi chỉ thấy nên cười nhẹ một cái. Không phải vì những thứ đó không đẹp, mà vì cái đẹp ấy đã từng có lúc bị chính những khẩu hiệu ngày xưa xem là “Tàn dư của lối sống tư sản.” Ngày trước, một cái máy may, một tiệm tạp hóa, một quán ăn đông khách, một hiệu buôn nhỏ cũng có thể thành một “Lý lịch kinh tế đáng ngại.” Ngày nay, cũng y những thứ đó, nếu biết trang trí lại cho sang, gắn thêm chữ “Di sản,” “Bản sắc,” “Tinh hoa,” thì bỗng nhiên trở thành “Niềm tự hào văn hóa.” Cái bàn gỗ ngày xưa là dấu hiệu tiểu tư sản, hôm nay đem lau bóng lại thì thành "Phong cách hoài cổ (?)".  Tài tình thật!

Cái nghịch lý nằm ở chỗ đó. Một thời thì đánh tư sản, cải tạo thương nghiệp, xem kinh doanh tư nhân như thứ cần phải được uốn nắn. Một thời sau thì lại tôn vinh doanh nhân, cổ vũ kinh tế tư nhân, vỗ tay cho cửa hàng, quán xá, thương hiệu, nhà hàng, khách sạn mọc lên như nấm sau cơn mưa. “Lên đời” là chuyện đáng mừng, nhưng “Lên đời” mà quên mất cái thời từng đập phá cái thang để người khác không leo lên được, thì câu chuyện văn hóa nghe có vẻ hơi thiếu thành thật. Hôm qua còn cấm người ta buôn bán, hôm nay lại khen ai biết làm ăn là có “Tinh thần Dân tộc.” Nghe kể ra cũng vui, nhưng chỉ tiếc là nhiều người bị tịch thu bàn ghế ngày xưa không còn đủ sức ngồi lại để vỗ tay.

Nói vậy không phải để phủ nhận hiện tại. Đất nước khá hơn, người dân làm ăn được hơn, hàng quán đẹp hơn, món ăn phong phú hơn, đời sống có màu sắc hơn, đó là điều đáng quý. Nhưng nếu đã gọi là “Di sản” thì phải nhớ đủ cả hai mặt. “Di sản” không chỉ là “Tô phở gà” được bày trong cái tô sứ đẹp, với mấy lát lá chanh xắt nhuyễn nằm duyên dáng bên trên. “Di sản” còn có cả cái thời người ta phải xếp hàng mua gạo, phải đong dầu, phải tính từng bó củi, và phải giấu bớt sự tháo vát của mình vì sợ bị nhìn thành “Thành phần kinh tế có vấn đề.” “Di sản” không chỉ có mùi nước dùng, nó còn có mùi khói bếp, mùi tem phiếu, mùi mồ hôi của những người từng sống qua một thời nói thật cũng khó, nói ngon thì lại càng khó hơn.

Lên đời” là có thật. Kinh tế khá hơn, đời sống mở ra, người ta ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, nghe nhạc đa dạng hơn, đi nhà hàng nhiều hơn, có điều kiện chăm chút cho văn hóa hơn. Đó là điều đáng mừng. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Có cũ mới có mới. Có nghèo khó mới hiểu giá trị của no đủ. Có một thời tem phiếu, củi than, xếp hàng, thiếu thốn, thì hôm nay mới thấy một tô phở nóng, một ly cà phê ngon, một buổi hòa nhạc tử tế là điều quý. Nhưng quý không có nghĩa là phải dựng lại quá khứ theo kiểu lộng lẫy hóa, biến những năm tháng chưa mấy sáng sủa thành cái phông nền sang trọng để đánh bóng cái hào nhoáng hiện giờ. Nói nôm na, cái nồi từng thiếu củi thì đừng kể lại như thể lúc nào cũng hầm xương bằng lửa văn hiến.

Nói thật chẳng có gì khó. Khó là nói thật mà vẫn không làm mất vui. Phở gà ngon thì cứ khen ngon. Phở gà Hà Nội ngon thì cứ khen phở gà Hà Nội. Phở gà Hiền Vương ở Sài Gòn từng được nhiều người nhớ thì cứ ghi nhận là đáng nhớ. Ca sĩ hát hay thì cứ khen hát hay. Hà Nội có nét riêng thì cứ ghi nhận nét riêng. Miền Nam có nhạc “Bolero,” có cải lương, có giọng ca mùi mẫn, có cái hồn bình dân, thì cũng chẳng có gì phải xấu hổ. Văn hóa không phải cái thang máy để ai đó bấm nút lên tầng cao rồi nhìn xuống người khác. Văn hóa, nếu thật sự là văn hóa, thì phải đủ rộng để chứa cả nhà hát lớn lẫn quán cóc, cả thính phòng lẫn “Bolero,” cả phở gà Hà Nội lẫn tô hủ tiếu miền Tây lúc sáng sớm bên bờ sông.

Cho nên, xin cứ thưởng thức, cứ quảng bá, cứ tự hào, nhưng cũng nên chừa lại một khoảng trống cho sự thật. Bởi cái gì ngon thì tự nó có hương. Cái gì đẹp thì tự nó có dáng. Còn cái gì phải nhờ quá nhiều mỹ từ để đứng vững, thì đôi khi không phải vì nó quá tinh tế, mà vì nó đang hơi thiếu nước dùng. Phở ngon thì để người ăn nhớ, không cần bắt người ăn phải học sử trước khi húp nước lèo.

Nhìn thẳng vào đó thì câu chuyện văn hóa mới có chiều sâu. Còn chỉ đánh bóng cho sáng, rồi gọi đó là “Di sản,” thì e rằng không phải văn hóa đang lên đời, mà chỉ là cái bảng hiệu đang được thay phông chữ @.

Lữ Thị Đoan Trang

Trần Văn Giang (ghi lại)


BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Tin Tức ngày 07 tháng 03 -2025:

tờ bao nay co phải anh em voi SBTN ?

Xem Thêm

Đề bài :Tin Tức ngày 18 - 02 -2025:

tơ bào này toàn dich tin tưc tui liberal AU CHAU khong à chỉ đung 1/2tụi AU CHAU cư sưvoi nươc MY kong băng và dân AU CHAU lười biêng , tôi đả đi choi AU CHAU mừoi ngày ròi thừ bay chăng cò cửa tiệm mở ...dân AU CHAU lười như hủi .

Xem Thêm

Đề bài :Chuyện “Phố Vải” - by Phạm Thành Nhân / Trần Văn Giang (ghi lại).

Đây là một bài viết thú vị nêu bật tầm quan trọng của việc bảo tồn bản sắc văn hóa thông qua ngôn ngữ. Sự thay đổi về thuật ngữ có thể mang tính tích cực nếu chúng vẫn giữ được mối liên hệ với truyền thống và lịch sử địa phương. Văn bản này cũng gợi lên những cảm xúc và suy nghĩ tương tự như những gì bạn trải qua khi mua bất động sản. Quá trình này cũng tràn đầy sự phấn khích và niềm vui. Điều này đặc biệt đúng đối với các dự án mới của Al Sharq Investment https://dubai-new-developments.com/al-sharq-investment, cung cấp các lựa chọn nhà ở hiện đại và tiện lợi để giúp bạn tìm được ngôi nhà lý tưởng.

Xem Thêm

Đề bài :"Tiếng Việt, yêu & ghét" - Lê Hữu ( Trần Văn Giang ghi lại )

'vô hình trung' là nghĩa gì vậy, sao cứ thích dùng, hình như có nghĩa là 'vô tình'

Xem Thêm

Đề bài :TIN CHIẾN SỰ MỚI NHẤT[ CẬP NHẬT NGÀY 20 -5 - 2022 ]

Suu cao,thue nang,nhu yeu pham tang gia.Kinh te eo seo...Vay ma dang Lua van lay tien cua dan tro giup linh tinh.Mo cua bien gioi.Ung ho toi ac truc tiep khi sua luat cho phep trom cuop o muc do <1.000 dollars thi vo toi....Neu vao thoi diem Trump,bon Lua da ho hoan nhu the nao ??? Nhung nguoi bau ban vi chut tu loi ,nghi gi ve dat nuoc ??? Phai chang day khong phai la dat nuoc minh ??? bat qua,lai tro ve que huong cu...Neu vay,ban la thang cho chet ! mien ban !

Xem Thêm

Đề bài :Tin Mới Nhất Về Chiến Sư Ucraina [ CẬP NHẬT NGÀY 14-5-2022 ]

Chung nao moi vet nho cua ho nha Dan da duoc tay xoa trang boc,thi Uk moi co hy vong...ngung chien.Cung vay,ngay nao ma cac cong ty ,co goc gac tu cac dang bac nu luu-anh hao cua khoi tu do va ong chief police va dang Lua thi moi giai xong phuong trinh tau cong !

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Hình cũ - Hà Thượng Thủ

Ngắm lại hình xưa chịu mấy ông Những Linh, Tùng, Duẫn với Mười, Đồng Mặt mày ai lại đi hồ hởi Phấn khởi khi Tàu cướp Biển Đông Phải chăng “quý” mặt đã thành mông Con mắt nay đà có nhưng không Nên mới chổng khu vào hải đảo Gia tài gấm vóc của tổ tông?

Xem Thêm