Nhân Vật

HQ Đại Tá Bùi Hữu Thư: Tham Mưu Phó Quân Huấn BTL/HQ (1969-1973)

Cuối năm 1968 ông Dư Trí Hùng nói BTL muốn tôi trở về Hải Quân: “Cậu đi bên Hỏa Xa ba năm đủ rồi.

Cuối năm 1968 ông Dư Trí Hùng nói BTL muốn tôi trở về Hải Quân: “Cậu đi bên Hỏa Xa ba năm đủ rồi. Tôi về BTL HQ trình diện và được làm Trưởng Phòng Quân Huấn thay thế ông Nguyễn Ngọc Quỳnh được bổ nhiệm làm CHT Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc.
Tôi được về giữ chức trưởng phòng Quân Huấn Hải Quân. Phòng Quân Huấn lúc bấy giờ còn trực thuộc Khối Nhân Viên với Tham Mưu Phó Nhân Viên là Trung Tá Nguyễn Xuân Sơn. Khối Nhân Viên lúc ấy có Phòng Tổng Quản Trị do ông Phạm Văn Cổn làm Trưởng Phòng, Phòng Nhất do ông Nguyễn Văn Nhựt và Phòng Quân Huấn.
Tôi về Quân Huấn đúng lúc có sự bành trướng Quân Lực và Việt Nam hóa chiến tranh. Kế hoạch ACTOV (Accelerated Turn Over to Vietnam) đã được khởi sự với sự chuyển giao các PBR cho Hải Quân Việt Nam. Văn Phòng của Tham Mưu Phó Nhân Viên chăng đầy những sơ đồ tổ chức và trang bị nhân viên. Việc tuyển mộ phải được tăng cường song song với việc huấn luyện. Khi tôi nhận phòng Quân Huấn, quân số không quá 36 nhân viên, gồm có ban Điều Huấn và ban Du Học. Ngay sau đó có thể nói là chúng tôi và Trung Tá Sơn phải họp liên miên với nhân viên của Văn Phòng cố vấn trưởng. Thiếu tá Anderson được bổ nhiệm làm cố vấn của tôi, và cố vấn trưởng là một Đại tá và cuối cùng vào năm 1971-72 thì nâng lên cấp tướng đó là Admiral Rauch.
Trong hai năm rưỡi chúng tôi phải huấn luyện 27.000 sĩ quan và nhân viên để nhận lãnh hết mọi chiến hạm, chiến đỉnh, và căn cứ do Hoa Kỳ chuyển giao. Vì tướng Hải Quân Hoa Kỳ chỉ huy các lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc đó là Đô Đốc Elmo Zumwalt, một người lãnh đạo rất thương lính và có nhiều cải tiến cho quân chủng này. Đề Dốc Chơn cũng làm việc rất ăn khớp với ông ta.
Để có đủ quân số cho việc huấn luyện và trang bị, phòng tuyển mộ đã phải sang bộ binh để kiếm người. Các khóa sĩ quan Thủ Đức có người qua Hải Quân rất nhiều miễn là có bằng tú tài II, nhất là toán. Cũng cần nhớ rằng để được thụ huấn khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, điều kiện chỉ đòi hỏi ứng viên có bằng tú tài I. Các sĩ quan bộ binh có quan niệm sang Hải Quân có chữ thọ hơn nên việc tuyển mộ rất dễ dàng.
Về phần thủy thủ, quân trường Cam Ranh lúc đó đã nhận huấn luyện tất cả các khóa căn bản quân sự và sơ đẳng chuyên nghiệp. Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang chỉ đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan. Dần dần khả năng huấn luyện căn bản quân sự của Cam Ranh cũng không cung ứng nổi cho việc đào tạo thủy thủ và sĩ quan.
Các người bị động viên các lớp sau phải được gửi đi Quang Trung để huấn luyện quân sự, do đó mới nẩy ra danh từ "Các Khóa Lưu Đầy" là các khóa Hải Quân do bộ binh đào tạo Căn Bản Quân Sự.
Trường Hạ Sĩ Quan tại Nha Trang được thành lập, các hạ sĩ nhất được gửi đi học để ra trường với cấp bậc trung sĩ. Trường này cũng đào tạo các sĩ quan đòan viên là các thượng sĩ để trở thành các chuẩn úy đoàn viên.
Tại Saigon, bên trong vòng thành Hải Quân Công Xưởng, Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc được thành lập. Lúc đầu trung tâm này đảm trách việc huấn luyện bổ túc cho các chiến hạm sau khi đại kỳ và huấn luyện ngoài khơi với sự hợp tác của các toán UDT (Underwater Demolition Team) của Hoa Kỳ. Sau này Trường Chỉ Huy Tham Mưu Hải Quân được thành lập và cũng được đặt trực thuộc Trung Tâm này. Tại Cát Lái, Trung Tâm Huấn Luyện Cát Lái đuợc thành lập. Trung tâm này đặc trách huấn luyện về hải thuyền.
Đây là thời gian bành trướng các căn cứ hải thuyền, các ghe ferro ciment được đóng tại Hải Quân Công Xưởng và sau đó là các ghe Yabuta, ghe chủ lực.. Tại đây cũng có các khóa huấn luyện người nhái vì có bể xâu có kính chịu áp xuất để dạy về scuba diving.
Vì Trường Sinh Ngữ Quân Đội không cung ứng kịp thời cho nhu cầu đào tạo ứng viên du học cho Hải Quân, với sự tài trợ của Hải Quân Mỹ, chúng ta đã thành lập riêng biệt Trường Anh Ngữ Hải Quân tại đường Trần Tấn Phát. Tại đây các giáo sư Mỹ đã đào tạo mỗi 6 tháng một khóa Anh Ngữ du học. Các khóa sinh Hải Quân thường chỉ trong vòng 6 tháng là thi đủ điểm để du học.
Lúc đó hàng năm Quân Huấn Hải Quân gửi đi Hoa Kỳ khoảng 3,000 người. Ngoài một số sĩ quan học các khóa chỉ huy tham mưu cao cấp tại New Port Rhode Island, các khóa Line Officer, Engineering, Management, Operation Analysis tại Monterey, California, còn có một người học tại trường Hải Quân Hoa Kỳ Anapolis là anh Trần Văn Trực, con Đô Đốc Trần Văn Chơn.
Ngoài ra để cung ứng cấp tốc cho đủ sĩ quan trang bị cho các tầu bè mới các khóa sĩ quan OCS được thành hình sau khi tôi và phái đoàn Hải Quân đi công du năm 1969. Phái đoàn có Trung Tá Khương Hữu Bá và cố Thiếu tá Hà Ngọc Lương sau khi đi thăm các quân trường Hoa Kỳ đã về New Port Rhode Island để soạn thảo chương trình huấn luyện các Sĩ quan tại trường Officer Candidate School trong thời gian sáu tháng.
Sau khi tốt nghiệp ở đây các sĩ quan được gửi đi học về chiến tranh sông ngòi NIOTC (Naval Inshore Operations Training Center) tại Mare Island, California. Các chiến đỉnh sông ngòi được đóng ra mới nhất đã được mang ra thử nghiệm tại đây và các nhân viên Việt Nam đã được làm quen với các tầu này từ những Command, Monitor, đến LCVP, LCM, PCR, và cả các chiến đỉnh ngoài biển như PCF cũng được huấn luyện tại đây.
Trên 1100 Sĩ quan tốt nghiệp các khóa OCS của Mỹ. Về phần đoàn viên, họ được gửi đi thụ huấn tại các trung tâm huấn luyện Hoa Kỳ ở Great Lakes, Michigan, và San Diego, California về các lớp B1 và B2 các ngành phòng tai, trọng pháo, thám xuất, giám lộ, cơ khí, v..v.. Để nhận lãnh các chiến hạm mới, lúc đầu các sĩ quan và đoàn viên được gửi đi học trước khi họ được đưa về San Diego hay Norfolk để lãnh tầu. Thời gian huấn luyện thay đổi tùy theo chuyên nghiệp, từ vài tháng đến một năm. Việc chuẩn bị lãnh tầu có thể chiếm tới 2 năm trời từ khi gửi đi cho đến khi tầu về cặp bến Saigon.
Ngoài hàng ngàn chiến đỉnh đủ loại chúng ta nhận lãnh rất nhiều chiến hạm mới và các chiếc cuối là các Tuần Dương Hạm WHEC do Lực Lượng Duyên Phòng Hoa Kỳ. Chúng ta đã bỏ ra cả hai năm để huấn luyện các Khu Trục Hạm DER HQ-1, HQ-4 như đã nói ở trên về thời gian huấn luyện tại bờ của sĩ quan và thủy thủ đoàn trước khi lãnh tầu. Vì nhu cầu trang bị khẩn trương, chúng ta đã bắt buộc phải huấn luyện theo phương pháp thực tập tại chỗ (OJT: On-the-job Training). Chúng tôi đã theo hai chiếc WHEC sang vùng biển Phi Luật Tân để huấn luyện Hải Pháo tác xạ bờ.
Theo chương trình chuyển giao theo cách thức OJT, các thành phần nồng cốt nhất của một chiến hạm được đưa xuống tầu đầu tiên, như hạm trưởng hạm phó, giám lộ, quản nội trưởng, sĩ quan hải pháo v..v... Mỗi khi nhân viên Việt Nam đã thông thạo phần vụ của mình thì nhân viên Mỹ được thuyên chuyển đi nơi khác. Và cứ tuần tự như tiến cho đến khi toàn thể thủy thủ đoàn không còn người Mỹ nào hết. Dĩ nhiên chúng ta cũng trang bị thành phần nồng cốt bằng các sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ có kinh ngiệm, đã được huấn luyện về ngành của mình và nhất là thông thạo Anh Ngữ để giúp cho việc huấn luyện được xúc tiến nhanh chóng.
Do đó vào những năm 1971 và 1972 chúng ta đã huấn luyện các thủy thủ đoàn các chiến hạm lớn trong vòng 2 đến 5 tháng. Đây thật là một kỷ lục khiến cho người Mỹ phải thán phục tài học nhanh của người Việt Nam.
Để đảm bảo cho việc điều hành huấn luyện được hiệu quả, phòng Quân Huấn được nâng lên thành Khối Quân Huấn và tách rời ra khỏi Khối Nhân Viên vào năm 1970. Trưởng Phòng Quân Huấn trở thành Tham Mưu Phó Quân Huấn Hải Quân với cấp số là một Phó Đề Đốc. Sau ba năm đi chiếc Nhật Lệ không được phê điểm và thăng thưởng, tôi được thăng cấp Trung Tá vào năm 1969, và Đại tá Nhiệm Chức vào năm 1970, Đại Tá Thực Thụ năm 1971.
Khối Quân Huấn được tổ chức lại thành ba phòng: Điều Huấn, Nghiên Huấn và Trợ Huấn. Phòng Điều Huấn, bận rộn nhất với các khóa học trong nước và ngoài nước. Để có thể gửi đi Mỹ cả 3.000 khóa sinh một năm, ban Du Học đã làm việc rất vất vả trong việc kiếm người có đủ vốn Anh Ngữ và lo sự vụ lệnh cho họ, trong đó có cả vấn đề ITO (Individual Travel Order), khám sức khỏe, may quần áo và đổi tiền.
Phòng Nghiên Huấn lo việc nghiên cứu các khóa học mới (Chỉ Huy Tham Mưu Hải Quân, Lãnh Đạo Chỉ Huy) các tài liệu huấn luyện mới, và các chương trình huấn luyện cho đúng tiêu chuẩn của mỗi ngành. Phòng cũng đề nghị các cơ cấu tổ chức các Quân Trường Hải Quân.
Phòng Trợ Huấn lo việc ấn hành Đặc San Quân Huấn và dịch thuật các tài liệu chiến thuật, kỹ thuật và huấn luyện cần thiết cho các chiến hạm, chiến đỉnh, và căn cứ. Trong 3 năm 1970-1973 trên 600 tài liệu khoảng 22 triệu chữ đã được một ban phiên dịch chuyển ngữ sang tiếng Việt. Tất cả các tài liệu này đã được phòng Trợ Huấn ấn loát và phát hành. Công tác này sở dĩ có thể thực hiện được vì khi Hải Quân Hoa Kỳ rút ra chúng ta đã vận động để được chuyển giao tất cả phương tiện ấn loát, phim ảnh của họ để lại. Hai chiếc Tạm Trú Hạm APL đậu tại cầu C, một chiếc đã được trang bị thành Trung Tâm Trợ Huấn với đầy đủ dụng cụ tối tân về ấn loát offset, phòng tối v..v..
Chỉ trong một năm, quân số của Khối Quân Huấn tăng gấp ba. Con số cố vấn Mỹ bổ nhiệm cho Khối cũng gia tăng. Vị cố vấn đầu tiên là Trung tá George Anderson,và kế tiếp là Trung Tá Arthur Ward. Vì con số nhân viên gia tăng, Khối Quân Huấn được dời sang lấu ba của tòa nhà chính diện. Tôi có văn phòng khang trang, và phòng họp có máy lạnh.
Trong thời gian huấn luyện tại chỗ trên các PBR và PCF đặc biệt là tại các căn cứ, sự xô xát giữa Mỹ Việt đã lên tới cao độ. Có chỗ thủy thủ Mỹ đã ném thủy thủ Việt Nam như bao cát chuyển tay. Tôi đã thuyết trình về tình trạng này cho Đô Đốc Zumwalt lúc đó là Tư Lệnh các Lực Lương Hải Quân tại Việt Nam (ComNavForV: Commander Naval Forces Vietnam) trước sự hiện diện của Đô Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam.
Sau khi nghe bài thuyết trình của tôi, Đô Đốc Zumwalt đã yêu cầu Đại Tá Nghiêm Văn Phú lúc đó là Tư Lệnh Lực Lượng Tuần Thám và tôi cùng với các sĩ quan Hoa Kỳ thực hiện một cuốn phim huấn luyện cho tất cả sĩ quan và đoàn viên Hoa Kỳ phải xem trước khi qua làm việc với Việt Nam. Cuốn phim này được thực hiện tại tư gia của ông giám đốc hãng Shell ở gần Trường Đại Học Luật Khoa Saigon. Cuốn phim nhấn mạnh đến phép xử thế và giới thiệu truyền thống văn hóa của Việt Nam.
Trong thời gian làm việc chung với Hoa Kỳ, tôi đã có cái may mắn là được họ tin tưởng tuyệt đối. Kế hoạch huấn luyện ACTOV (Accelerated Turn Over to Vietnam) đã được người Hoa Kỳ tán đồng nhất là giai đoạn huấn luyện OJT. Cố vấn trưởng Hải Quân, Đề Đốc Rauch, lúc đó đã buộc bộ tham mưu của ông đưa tôi thông qua các văn thư của ông trước khi ông ký. Chữ ký tắt của tôi đã có trên rất nhiều công văn của Hải Quân Hoa Kỳ.
Lúc đó gần như tôi xin gì cũng được. Các khóa học OCS, việc chuyển giao vật liệu ấn loát cho chúng ta thay vì cho Trung Tâm ấn Loát của Tổng Tham Mưu, và nhất là ngân khoản huấn luyện vào năm chót, năm 1972 cả mấy chục triệu Mỹ Kim.
Cuối năm 1972 sau khi tổ chức huấn luyện 27.000 sĩ quan và thủy thủ để nhận lãnh tất cả tầu bè và căn cứ cho Hải Quân Hoa Kỳ trao lại. Quân số Hải Quân lúc đó đã gia tăng thành 47.000 người, và HQVN đã đứng thứ 9 về quân số trong tất cả các HQ trên thế giới. Tôi đã được gọi lên trình diện Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân. Khi vào văn phòng của Tư Lệnh tôi đã thấy có Đô Đốc Zumwalt hiện diện. Tư Lệnh Chơn đã bảo tôi: "Ông đã thi hành mỹ mãn nhiệm vụ giao phó. Nhờ ông mà Hải Quân Hoa Kỳ đã có thể rút ra khỏi Việt Nam trước kỳ hạn. Việc Việt Nam Hóa chiến tranh phía Hải Quân đã xong trước Không Quân và Lục Quân. Để tưởng thưởng cho ông, Đại tá Thư, ông muốn được thăng cấp hay muốn đi học theo đề nghị của Đô Đốc Zumwalt?" Tôi đã thưa ngay không cần suy nghĩ là tôi muốn đi học.
Tưởng cũng nên nói thêm là ngay từ năm 1971, chúng tôi đã đề nghị và đã được chấp thuận nghiên cứu dự án 10 năm thành lập Viện Đại Học Hải Dương tại Cam Ranh. Dự án này đã được sự chấp thuận của Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng Cục Quân Huấn, Bộ Quốc Phòng, Bộ Quốc Gia Giáo Dục và Hải Quân Hoa Ky, giới tài trợ ngân khoản.
Viện Đại Học Hải Dương sẽ gồm có nhiều trường hay phân khoa: Trường Sĩ Quan Hải Quân, Trường Hàng Hải Thương Thuyền, Trường Ngư Nghiệp, Trường Kiến Trúc Tầu Bè, và Viện Hải Dương Học. Cả 5 phân khoa này sẽ cùng sử dụng chung một thư viện và các phòng thí nghiệm về biển. Đại Học Hải Dương sẽ là Đại Học lớn nhất Đông Nam Á về các ngành liên quan đến biển. Trước đó về Hải Học chỉ có tại Phi Luật Tân mới có cơ sở dạy môn Marine Biology.
Do đó tôi đã xin đi học tiến sĩ về Quản Trị Giáo Dục để trở về điều hành đại học này. Cùng đi du học với tôi vào đầu năm 1973 có 20 sĩ quan cấp úy tuyển lựa trong các thủ khoa các khóa OCS. Họ được gửi đi học ở South Carolina để lấy các bằng BS và MA. Các sĩ quan này đã chiếm hàng đầu trong các sinh viên tại đại học này. Trước đó chỉ có người Trung Hoa học được straigth A’s. Khi có các sĩ quan Hải Quân Việt Nam qua thì họ đứng đầu lớp. Đa số chỉ học 28 tháng là xong bằng BS, và hai năm sau họ đều có bằng Masters.
Xưa kia đi du học chỉ có con nhà giầu có hay cha chú có piston. Còn vào Hải Quân nếu Anh Ngữ giỏi là được đi không có gì khó khăn, trừ khi có trở ngại về an ninh. Có cháu ông Sao cựu giám đốc hỏa xa là xếp cũ của tôi trong thời gian tôi đi chiếc Nhật Lệ đã đến nhà xin tôi cho cháu ông đi học Mỹ. Ông đem cho tôi hai ký giò lụa, nhưng khi ông ra về tôi mới biết ông kẹp mấy lượng vàng giữa hai ký giò. Tôi đã chạy theo ông ra đến cửa Cư Xá Cửu Long để trả ông. Kết quả là cháu ông thi dư điểm Anh Văn và ông không xin nó cũng được đi. Bà cô tôi cũng cho tôi hai chục soài tượng để xin cho người quen. Tôi đem trả và cô tôi giận tôi luôn. Thành thật là như vậy, việc đi Mỹ lúc đó quá dễ, đâu có cần phải chạy chọt. Có thể việc chạy để được đổi từ bộ binh sang Hải Quân còn khó hơn nhiều. Lúc đó Hải Quân có tiếng là có chữ "Thọ" nên thiên hạ ùa sang cả đống. Tuy nhiên chúng ta cũng giới hạn ở chỗ là các sĩ quan bộ binh muốn qua Hải Quân bắt buộc phải có bằng tú tài toán.
Vì các khóa sinh đi Mỹ nghèo không có nhiều tiền nên xẩy ra có vụ đổi tiền. Tức là một số người sẽ ứng trước tiền Việt Nam cho họ, và sau khi họ nhận được tiền dollar của Ngân Khố thì phải trả lại dollar cho người cho vay lấy lời. Một phu nhân sĩ quan cấp tá đã đến tận nhà tôi xin cho tiếp tục đổi tiền, tôi từ chối vì tôi bị An Ninh điều tra về vụ này. Tôi yêu cầu mỗi khóa OCS phải có một sĩ quan Mỹ đưa đi. Anh này sẽ cầm nguyên cái check cho cả khóa và đến Mỹ mới phát cho từng người. Kết quả là nhiều người cho vay không lấy lại được tiền dollar, có người còn chạy theo lên phi trường Tân Sơn Nhất để đòi tiền.
Khi tôi đi học Hoa Kỳ vào đầu năm 1973, khối Quân Huấn được trao lại cho Đại Tá Trịnh Xuân Phong. Trong biến cố 1975, chúng ta tự hào là Hạm Đội Việt Nam dã trật tự ra đi. Tất cả tầu bè khiển dụng đều đã lên đường chở theo cả 40.000 đồng bào tị nạn. Tất cả đoàn tầu ngoại trừ chiếc Lam Giang HQ 402 bị bắn chìm ngoài khơi Côn Sơn, tất cả đã cập bến Subic Bay và đã được trao về cho chủ cũ là Hải Quân Hoa Kỳ. Tôi đang ở Mỹ lúc đó nên không phải chứng kiến cảnh đau lòng khi toàn thể nhân viên Hải Quân Việt Nam đã tháo bỏ huy hiệu vứt xuống biển và hạ quốc kỳ lần cuối trên những con kình ngư một thời ngang dọc trên toàn lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi mượn tài liệu dưới đây về TTHL Nha Trang để trình bầy về sự bành trướng huấn luyện tại Nha Trang và các nơi khác:
Năm 1965 trong chương-trình viện-trợ và hiện-đại hóa Lực-Lượng Hải-Quân Việt-Nam. Hoa-Kỳ đã cho tu-bổ, nới rộng cơ-sở huấn-luyện nhằm đáp ứng và thích-nghi cho nhu-cầu. Hãng thầu xây-cất Hoa-Kỳ RMK đã trúng thầu thực-thi công-tác tại TTHL/HQ/NT và TTHL/CR. Quân-trường Nha-Trang được nới rộng ra cả hai phíạTừ Q1 nới rộng qua phía trái được xây cất thêm 4 dãy nhà song song có khả-năng làm chỗ ở cho trên 300 HSQ khoá-Sinh, Ðoàn-Viên chuyên-nghiệp.
Từ Q13 nới rộng qua phía phải được xây cất thêm 4 dãy nhà mới và một phạn-xá có khả năng làm nơi ăn ở cho trên 400 SVSQ. Ngoài ra các dãy nhà cũ đều được tân-trang, giảng-đường, lớp học được thiết-trí rộng rãi và tiện-nghi hơn. Ðường xá trong Trung-Tâm và Thao-Diễn-Trường được tráng nhựa mới. Toàn thể Trung-Tâm có 4 câu-lạc-bộ dành cho: SQ, SVSQ, HSQ và Ðoàn-Viên Khoá-Sinh Chuyên-Nghiệp. Một thư-viện lớn tại dãy G.
Thời-gian huấn-luyện cho các khóa Sĩ-Quan theo chương-trình bình thường là 2 năm. Tốt nghiệp với cấp-bậc Thiếu-Úy trừ-bị. Cuối năm 1962 vì nhu-cầu khẩn-thiết để tiếp-nhận các chiến-hạm. Chương trình được rút ngắn 6 tháng, do đó từ khóa 11 cho đến khoá 18 là áp-dụng chương-trình huấn-luyện 18 tháng. Số lượng Sinh-Viên Sĩ-Quan được thu-nhận cũng thay đổi. Từ năm 1957 đến 1960 mỗi khóa không quá 60 Sinh-Viên. Năm 1961 thu-nhận 82 Sinh-Viên.Từ khóa 12 đến khoá 18 là trên 100. Ðặc biệt tháng 5 năm 1963 khi khóa 13 nhập trường thì có 15 Th/Úy Hiện-Dịch tốt nghiệp khóa 16 trường Võ-Bị Quốc-Gia Ðà-Lạt nhập học để chuyển ngành qua Hải-Quân hiện-dịch. Tuy nhiên khi khai-giảng thì chỉ còn 7 Sĩ-Quan tham-dự khóa học. Ðầu năm 1969 do nhu-cầu chuẩn-bị chuyển-giao trách-nhiệm chiến-trường Sông-Biển cho Hải-Quân Việt-Nam đảm-trách, số lượng Sinh-Viên mỗi khoá bây giờ là trên 200.
Hoa-Kỳ cũng nới rộng việc huấn-luyện các Sinh-Viên Sĩ-Quan tại quân-trường Mỹ NewPort Tiểu-Bang Rhode Island gọi là OCS ( Officer Candidate School ). Các Sinh-Viên Sĩ-Quan được BTL/HQ chấp-thuận theo học các khóa OCS phải qua các giai-đoạn như sau:
– Phải có văn-bằng Tú-Tài 2.
– Phải hoàn tất 12 tuần huấn-luyện Căn-Bản Quân-Sự tại TTHL/Quang-Trung hoặc tốt nghiệp trường Bộ-Binh Thủ-Ðức.
– Thi trắc-nghiệm anh ngữ phải đạt từ 70% trở lên.
Trường OCS nằm trên một hòn đảo lớn của Tiểu-Bang Rhode Island, gần trường Naval War College và Căn-Cứ Hải-Quân Ðệ-Lục Hoa-Kỳ. Trường có diện-tích rộng lớn hơn TTHL/HQ/NT, có khả-năng cung-cấp nơi ăn chỗ ở cho trên 1300 khóa-sinh.
Chương-trình huấn-luyện các Sĩ-Quan OCS là 6 tháng, gồm các môn học chú-trọng nhiều về thực-hành như sau: Vận-Chuyển,Vận-Chuyển Chiến-Thuật, Hàng-Hải, Phòng-Tai, Cứu Tàu Lâm-Nạn, Hải-Pháo, Lý-Thuyết Thuyền-Bè, Căn-Bản Quân-Sự, Lãnh-Ðạo Chỉ-Huy và Hành-Quân tập-trận đổ-bộ.
Sau 26 tuần lễ thi tốt nghiệp, rồi tiếp-tục học về Chiến-Tranh Sông-Ngòi ( Brown Water Navy Operation ) tại Mare Island, Vallejo,Californiạ Khoảng 2 tuần lễ thực-tập trên các Giang-Ðĩnh các loại như: Command,Monitor, ASPB, Tango, LCVP, LCM, PBR, kể cả các Duyên-Tốc-Ðĩnh ngoài biển như PCF. Trong thời gian này có 3 ngày đêm tập-trận hành-quân Thủy-Bộ tại Mare Island Calfornia, địa-hình và dàn-cảnh giống chiến-trường VN, bị phục-kích và Chiến-Ðĩnh đánh trả bằng vũ-khí đủ loại như thật, người Mỹ đóng vai Việt-Cộng.
Sau khi hồi-hương lễ gắn cấp-bậc Ch/Uý được tổ-chức trọng thể tại BTL/Hạm-Ðội. Một năm sau thì có Quyết-Ðịnh thăng-cấp Th/Uý trừ-bị. Sĩ-Quan OCS được huấn-luyện mỗi khóa số lượng Sinh-Viên là khoảng 60. Khóa cuối cùng là OCS 12 gồm có cả các Sĩ-Quan Bộ-Binh từ Th/Uý đến Tr/Uý cũng được tham-dự, sau khi mãn khóa thì về phục-vụ tại các đơn-vị Hải-Quân.
Khóa OCS đầu tiên vào tháng 02 năm 1970, khóa 2 vào giữa tháng 03, cứ thế mỗi khóa cách nhau 6 tuần. Khóa OCS 12 hoàn tất vào tháng 09 năm 1971. Sau chương-trình OCS thì Hoa-Kỳ chuyển qua huấn-luyện IOCS ( International Officer Candidate School ), khóa đầu tiên gồm 197 Sinh-Viên trong số đó có: 22 SVHQVN, 1 Sĩ-Quan Ba-Tư, 7 Sĩ-Quan Thổ-Nhỉ-Kỳ, 8 Sĩ-Quan Á-Căn-Ðình, 2 Sĩ-Quan Campuchia, số còn lại là Sinh-Viên và Sĩ-Quan Hoa-Kỳ. Tổng cộng khoảng trên 750 Sinh-Viên Việt-Nam đã thụ-huấn các khóa Trần-Hưng-Ðạo tại Hoa-Kỳ.
Ngoài ra tại Úc cũng có phụ-giúp huấn-luyện 2 khóa OCS với số lượng tổng-cộng khoảng trên 10 SVHQ/VN.
Tại quân-trường Nha-Trang kể từ khoá 19 đến khóa 23 thời-gian huấn luyện là 1 năm. Về văn-hoá vẫn dạy theo chương-trình đại-học như các khóa đàn anh. Về quân-sự được tổ-chức và điều-hành theo hệ-thống tự-chỉ-huy. Sau khi thụ-huấn một năm, các Sinh-Viên tốt-nghiệp với cấp-bậc Chuẩn-Uý. Ðược đi thực-tập thời-gian một năm theo chương-trình OJT ( On the Job Training ). Khi hoàn tất mang cấp-bậc Thiếu-Úy trừ-bị.
Từ khóa 24 về sau việc huấn-luyện trở lại áp-dụng chương-trình 2 năm và tốt nghiệp với cấp-bậc Thiếu-Uý trừ-bị.
Cuối năm 1971, sau khi khóa 22 ra trường thì Trung-Tâm chuẩn-bị tiếp-nhận thêm các Sĩ-Quan khóa-sinh, được gọi là khóa Sĩ-Quan Ðặc-Biệt. Ðó là những Sĩ- Quan có cấp-bậc từ Chuẩn-Úy đến Thiếu-Tá đã tốt nghiệp tại các quân-trường Bộ-Binh và đang làm việc tại các đơn-vị bờ của Hải-Quân, kể cả các Sĩ-Quan ngành Cảnh-Sát thuộc các Lực-Lượng Giang-Cảnh.Thời-gian thụ-huấn là 6 tháng lý-thuyết, chương-trình thuần-túy về hải-nghiệp, khi tốt nghiệp thì vẫn mang cấp-bậc như cũ nhưng danh xưng bây giờ là HQ. Ðược chỉ-định phục-vụ trên các chiến-hạm.
Khóa 1 Sĩ-Quan Ðặc-Biệt có sự tham-dự của Tr/Uý Trần-Minh-Chánh là con của Ðề-Ðốc Trần-Văn-Chơn đương kim Tư-lệnh Hải-Quân lúc bấy giờ. Ðồng thời Trung-Tâm còn huấn-luyện 3 tháng chuyên-nghiệp cho các khoá-sinh trường Võ-Bị Quốc-Gia Ðà-Lạt trong mùa văn-hóạ Ðầu năm 1973 có 30 Sinh-Viên Sĩ-Quan Ðà-Lạt thuộc 2 khóa 25 và 26 đến thụ-huấn 3 tháng lý-thuyết.
Tháng 09 năm 1974 khóa 25 Sinh-Viên Hải-Quân Nha-Trang mãn khóa Quân-trường Nha-Trang chỉ còn lại khóa 26 là khóa cuối cùng của Trung-Tâm. Cho đến cuối tháng 3 năm 1975, thành-phố Nha-Trang được lệnh di-tản. Từ ngày thành-lập cho đến 30-04-1975 Trung-Tâm đã đào-tạo được trên 3000 sĩ-quan chung cho ngành Chỉ-Huy và Cơ-Khí. Riêng về trường Sơ-Ðẳng chuyên-nghiệp thì đã đào-tạo được 15.050 Hạ-Sĩ-Quan và Ðoàn-Viên.
NN Kien Nguyen chuyen
Image may contain: John ThuBui, standing

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

HQ Đại Tá Bùi Hữu Thư: Tham Mưu Phó Quân Huấn BTL/HQ (1969-1973)

Cuối năm 1968 ông Dư Trí Hùng nói BTL muốn tôi trở về Hải Quân: “Cậu đi bên Hỏa Xa ba năm đủ rồi.

Cuối năm 1968 ông Dư Trí Hùng nói BTL muốn tôi trở về Hải Quân: “Cậu đi bên Hỏa Xa ba năm đủ rồi. Tôi về BTL HQ trình diện và được làm Trưởng Phòng Quân Huấn thay thế ông Nguyễn Ngọc Quỳnh được bổ nhiệm làm CHT Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc.
Tôi được về giữ chức trưởng phòng Quân Huấn Hải Quân. Phòng Quân Huấn lúc bấy giờ còn trực thuộc Khối Nhân Viên với Tham Mưu Phó Nhân Viên là Trung Tá Nguyễn Xuân Sơn. Khối Nhân Viên lúc ấy có Phòng Tổng Quản Trị do ông Phạm Văn Cổn làm Trưởng Phòng, Phòng Nhất do ông Nguyễn Văn Nhựt và Phòng Quân Huấn.
Tôi về Quân Huấn đúng lúc có sự bành trướng Quân Lực và Việt Nam hóa chiến tranh. Kế hoạch ACTOV (Accelerated Turn Over to Vietnam) đã được khởi sự với sự chuyển giao các PBR cho Hải Quân Việt Nam. Văn Phòng của Tham Mưu Phó Nhân Viên chăng đầy những sơ đồ tổ chức và trang bị nhân viên. Việc tuyển mộ phải được tăng cường song song với việc huấn luyện. Khi tôi nhận phòng Quân Huấn, quân số không quá 36 nhân viên, gồm có ban Điều Huấn và ban Du Học. Ngay sau đó có thể nói là chúng tôi và Trung Tá Sơn phải họp liên miên với nhân viên của Văn Phòng cố vấn trưởng. Thiếu tá Anderson được bổ nhiệm làm cố vấn của tôi, và cố vấn trưởng là một Đại tá và cuối cùng vào năm 1971-72 thì nâng lên cấp tướng đó là Admiral Rauch.
Trong hai năm rưỡi chúng tôi phải huấn luyện 27.000 sĩ quan và nhân viên để nhận lãnh hết mọi chiến hạm, chiến đỉnh, và căn cứ do Hoa Kỳ chuyển giao. Vì tướng Hải Quân Hoa Kỳ chỉ huy các lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc đó là Đô Đốc Elmo Zumwalt, một người lãnh đạo rất thương lính và có nhiều cải tiến cho quân chủng này. Đề Dốc Chơn cũng làm việc rất ăn khớp với ông ta.
Để có đủ quân số cho việc huấn luyện và trang bị, phòng tuyển mộ đã phải sang bộ binh để kiếm người. Các khóa sĩ quan Thủ Đức có người qua Hải Quân rất nhiều miễn là có bằng tú tài II, nhất là toán. Cũng cần nhớ rằng để được thụ huấn khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, điều kiện chỉ đòi hỏi ứng viên có bằng tú tài I. Các sĩ quan bộ binh có quan niệm sang Hải Quân có chữ thọ hơn nên việc tuyển mộ rất dễ dàng.
Về phần thủy thủ, quân trường Cam Ranh lúc đó đã nhận huấn luyện tất cả các khóa căn bản quân sự và sơ đẳng chuyên nghiệp. Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang chỉ đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan. Dần dần khả năng huấn luyện căn bản quân sự của Cam Ranh cũng không cung ứng nổi cho việc đào tạo thủy thủ và sĩ quan.
Các người bị động viên các lớp sau phải được gửi đi Quang Trung để huấn luyện quân sự, do đó mới nẩy ra danh từ "Các Khóa Lưu Đầy" là các khóa Hải Quân do bộ binh đào tạo Căn Bản Quân Sự.
Trường Hạ Sĩ Quan tại Nha Trang được thành lập, các hạ sĩ nhất được gửi đi học để ra trường với cấp bậc trung sĩ. Trường này cũng đào tạo các sĩ quan đòan viên là các thượng sĩ để trở thành các chuẩn úy đoàn viên.
Tại Saigon, bên trong vòng thành Hải Quân Công Xưởng, Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc được thành lập. Lúc đầu trung tâm này đảm trách việc huấn luyện bổ túc cho các chiến hạm sau khi đại kỳ và huấn luyện ngoài khơi với sự hợp tác của các toán UDT (Underwater Demolition Team) của Hoa Kỳ. Sau này Trường Chỉ Huy Tham Mưu Hải Quân được thành lập và cũng được đặt trực thuộc Trung Tâm này. Tại Cát Lái, Trung Tâm Huấn Luyện Cát Lái đuợc thành lập. Trung tâm này đặc trách huấn luyện về hải thuyền.
Đây là thời gian bành trướng các căn cứ hải thuyền, các ghe ferro ciment được đóng tại Hải Quân Công Xưởng và sau đó là các ghe Yabuta, ghe chủ lực.. Tại đây cũng có các khóa huấn luyện người nhái vì có bể xâu có kính chịu áp xuất để dạy về scuba diving.
Vì Trường Sinh Ngữ Quân Đội không cung ứng kịp thời cho nhu cầu đào tạo ứng viên du học cho Hải Quân, với sự tài trợ của Hải Quân Mỹ, chúng ta đã thành lập riêng biệt Trường Anh Ngữ Hải Quân tại đường Trần Tấn Phát. Tại đây các giáo sư Mỹ đã đào tạo mỗi 6 tháng một khóa Anh Ngữ du học. Các khóa sinh Hải Quân thường chỉ trong vòng 6 tháng là thi đủ điểm để du học.
Lúc đó hàng năm Quân Huấn Hải Quân gửi đi Hoa Kỳ khoảng 3,000 người. Ngoài một số sĩ quan học các khóa chỉ huy tham mưu cao cấp tại New Port Rhode Island, các khóa Line Officer, Engineering, Management, Operation Analysis tại Monterey, California, còn có một người học tại trường Hải Quân Hoa Kỳ Anapolis là anh Trần Văn Trực, con Đô Đốc Trần Văn Chơn.
Ngoài ra để cung ứng cấp tốc cho đủ sĩ quan trang bị cho các tầu bè mới các khóa sĩ quan OCS được thành hình sau khi tôi và phái đoàn Hải Quân đi công du năm 1969. Phái đoàn có Trung Tá Khương Hữu Bá và cố Thiếu tá Hà Ngọc Lương sau khi đi thăm các quân trường Hoa Kỳ đã về New Port Rhode Island để soạn thảo chương trình huấn luyện các Sĩ quan tại trường Officer Candidate School trong thời gian sáu tháng.
Sau khi tốt nghiệp ở đây các sĩ quan được gửi đi học về chiến tranh sông ngòi NIOTC (Naval Inshore Operations Training Center) tại Mare Island, California. Các chiến đỉnh sông ngòi được đóng ra mới nhất đã được mang ra thử nghiệm tại đây và các nhân viên Việt Nam đã được làm quen với các tầu này từ những Command, Monitor, đến LCVP, LCM, PCR, và cả các chiến đỉnh ngoài biển như PCF cũng được huấn luyện tại đây.
Trên 1100 Sĩ quan tốt nghiệp các khóa OCS của Mỹ. Về phần đoàn viên, họ được gửi đi thụ huấn tại các trung tâm huấn luyện Hoa Kỳ ở Great Lakes, Michigan, và San Diego, California về các lớp B1 và B2 các ngành phòng tai, trọng pháo, thám xuất, giám lộ, cơ khí, v..v.. Để nhận lãnh các chiến hạm mới, lúc đầu các sĩ quan và đoàn viên được gửi đi học trước khi họ được đưa về San Diego hay Norfolk để lãnh tầu. Thời gian huấn luyện thay đổi tùy theo chuyên nghiệp, từ vài tháng đến một năm. Việc chuẩn bị lãnh tầu có thể chiếm tới 2 năm trời từ khi gửi đi cho đến khi tầu về cặp bến Saigon.
Ngoài hàng ngàn chiến đỉnh đủ loại chúng ta nhận lãnh rất nhiều chiến hạm mới và các chiếc cuối là các Tuần Dương Hạm WHEC do Lực Lượng Duyên Phòng Hoa Kỳ. Chúng ta đã bỏ ra cả hai năm để huấn luyện các Khu Trục Hạm DER HQ-1, HQ-4 như đã nói ở trên về thời gian huấn luyện tại bờ của sĩ quan và thủy thủ đoàn trước khi lãnh tầu. Vì nhu cầu trang bị khẩn trương, chúng ta đã bắt buộc phải huấn luyện theo phương pháp thực tập tại chỗ (OJT: On-the-job Training). Chúng tôi đã theo hai chiếc WHEC sang vùng biển Phi Luật Tân để huấn luyện Hải Pháo tác xạ bờ.
Theo chương trình chuyển giao theo cách thức OJT, các thành phần nồng cốt nhất của một chiến hạm được đưa xuống tầu đầu tiên, như hạm trưởng hạm phó, giám lộ, quản nội trưởng, sĩ quan hải pháo v..v... Mỗi khi nhân viên Việt Nam đã thông thạo phần vụ của mình thì nhân viên Mỹ được thuyên chuyển đi nơi khác. Và cứ tuần tự như tiến cho đến khi toàn thể thủy thủ đoàn không còn người Mỹ nào hết. Dĩ nhiên chúng ta cũng trang bị thành phần nồng cốt bằng các sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ có kinh ngiệm, đã được huấn luyện về ngành của mình và nhất là thông thạo Anh Ngữ để giúp cho việc huấn luyện được xúc tiến nhanh chóng.
Do đó vào những năm 1971 và 1972 chúng ta đã huấn luyện các thủy thủ đoàn các chiến hạm lớn trong vòng 2 đến 5 tháng. Đây thật là một kỷ lục khiến cho người Mỹ phải thán phục tài học nhanh của người Việt Nam.
Để đảm bảo cho việc điều hành huấn luyện được hiệu quả, phòng Quân Huấn được nâng lên thành Khối Quân Huấn và tách rời ra khỏi Khối Nhân Viên vào năm 1970. Trưởng Phòng Quân Huấn trở thành Tham Mưu Phó Quân Huấn Hải Quân với cấp số là một Phó Đề Đốc. Sau ba năm đi chiếc Nhật Lệ không được phê điểm và thăng thưởng, tôi được thăng cấp Trung Tá vào năm 1969, và Đại tá Nhiệm Chức vào năm 1970, Đại Tá Thực Thụ năm 1971.
Khối Quân Huấn được tổ chức lại thành ba phòng: Điều Huấn, Nghiên Huấn và Trợ Huấn. Phòng Điều Huấn, bận rộn nhất với các khóa học trong nước và ngoài nước. Để có thể gửi đi Mỹ cả 3.000 khóa sinh một năm, ban Du Học đã làm việc rất vất vả trong việc kiếm người có đủ vốn Anh Ngữ và lo sự vụ lệnh cho họ, trong đó có cả vấn đề ITO (Individual Travel Order), khám sức khỏe, may quần áo và đổi tiền.
Phòng Nghiên Huấn lo việc nghiên cứu các khóa học mới (Chỉ Huy Tham Mưu Hải Quân, Lãnh Đạo Chỉ Huy) các tài liệu huấn luyện mới, và các chương trình huấn luyện cho đúng tiêu chuẩn của mỗi ngành. Phòng cũng đề nghị các cơ cấu tổ chức các Quân Trường Hải Quân.
Phòng Trợ Huấn lo việc ấn hành Đặc San Quân Huấn và dịch thuật các tài liệu chiến thuật, kỹ thuật và huấn luyện cần thiết cho các chiến hạm, chiến đỉnh, và căn cứ. Trong 3 năm 1970-1973 trên 600 tài liệu khoảng 22 triệu chữ đã được một ban phiên dịch chuyển ngữ sang tiếng Việt. Tất cả các tài liệu này đã được phòng Trợ Huấn ấn loát và phát hành. Công tác này sở dĩ có thể thực hiện được vì khi Hải Quân Hoa Kỳ rút ra chúng ta đã vận động để được chuyển giao tất cả phương tiện ấn loát, phim ảnh của họ để lại. Hai chiếc Tạm Trú Hạm APL đậu tại cầu C, một chiếc đã được trang bị thành Trung Tâm Trợ Huấn với đầy đủ dụng cụ tối tân về ấn loát offset, phòng tối v..v..
Chỉ trong một năm, quân số của Khối Quân Huấn tăng gấp ba. Con số cố vấn Mỹ bổ nhiệm cho Khối cũng gia tăng. Vị cố vấn đầu tiên là Trung tá George Anderson,và kế tiếp là Trung Tá Arthur Ward. Vì con số nhân viên gia tăng, Khối Quân Huấn được dời sang lấu ba của tòa nhà chính diện. Tôi có văn phòng khang trang, và phòng họp có máy lạnh.
Trong thời gian huấn luyện tại chỗ trên các PBR và PCF đặc biệt là tại các căn cứ, sự xô xát giữa Mỹ Việt đã lên tới cao độ. Có chỗ thủy thủ Mỹ đã ném thủy thủ Việt Nam như bao cát chuyển tay. Tôi đã thuyết trình về tình trạng này cho Đô Đốc Zumwalt lúc đó là Tư Lệnh các Lực Lương Hải Quân tại Việt Nam (ComNavForV: Commander Naval Forces Vietnam) trước sự hiện diện của Đô Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam.
Sau khi nghe bài thuyết trình của tôi, Đô Đốc Zumwalt đã yêu cầu Đại Tá Nghiêm Văn Phú lúc đó là Tư Lệnh Lực Lượng Tuần Thám và tôi cùng với các sĩ quan Hoa Kỳ thực hiện một cuốn phim huấn luyện cho tất cả sĩ quan và đoàn viên Hoa Kỳ phải xem trước khi qua làm việc với Việt Nam. Cuốn phim này được thực hiện tại tư gia của ông giám đốc hãng Shell ở gần Trường Đại Học Luật Khoa Saigon. Cuốn phim nhấn mạnh đến phép xử thế và giới thiệu truyền thống văn hóa của Việt Nam.
Trong thời gian làm việc chung với Hoa Kỳ, tôi đã có cái may mắn là được họ tin tưởng tuyệt đối. Kế hoạch huấn luyện ACTOV (Accelerated Turn Over to Vietnam) đã được người Hoa Kỳ tán đồng nhất là giai đoạn huấn luyện OJT. Cố vấn trưởng Hải Quân, Đề Đốc Rauch, lúc đó đã buộc bộ tham mưu của ông đưa tôi thông qua các văn thư của ông trước khi ông ký. Chữ ký tắt của tôi đã có trên rất nhiều công văn của Hải Quân Hoa Kỳ.
Lúc đó gần như tôi xin gì cũng được. Các khóa học OCS, việc chuyển giao vật liệu ấn loát cho chúng ta thay vì cho Trung Tâm ấn Loát của Tổng Tham Mưu, và nhất là ngân khoản huấn luyện vào năm chót, năm 1972 cả mấy chục triệu Mỹ Kim.
Cuối năm 1972 sau khi tổ chức huấn luyện 27.000 sĩ quan và thủy thủ để nhận lãnh tất cả tầu bè và căn cứ cho Hải Quân Hoa Kỳ trao lại. Quân số Hải Quân lúc đó đã gia tăng thành 47.000 người, và HQVN đã đứng thứ 9 về quân số trong tất cả các HQ trên thế giới. Tôi đã được gọi lên trình diện Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân. Khi vào văn phòng của Tư Lệnh tôi đã thấy có Đô Đốc Zumwalt hiện diện. Tư Lệnh Chơn đã bảo tôi: "Ông đã thi hành mỹ mãn nhiệm vụ giao phó. Nhờ ông mà Hải Quân Hoa Kỳ đã có thể rút ra khỏi Việt Nam trước kỳ hạn. Việc Việt Nam Hóa chiến tranh phía Hải Quân đã xong trước Không Quân và Lục Quân. Để tưởng thưởng cho ông, Đại tá Thư, ông muốn được thăng cấp hay muốn đi học theo đề nghị của Đô Đốc Zumwalt?" Tôi đã thưa ngay không cần suy nghĩ là tôi muốn đi học.
Tưởng cũng nên nói thêm là ngay từ năm 1971, chúng tôi đã đề nghị và đã được chấp thuận nghiên cứu dự án 10 năm thành lập Viện Đại Học Hải Dương tại Cam Ranh. Dự án này đã được sự chấp thuận của Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng Cục Quân Huấn, Bộ Quốc Phòng, Bộ Quốc Gia Giáo Dục và Hải Quân Hoa Ky, giới tài trợ ngân khoản.
Viện Đại Học Hải Dương sẽ gồm có nhiều trường hay phân khoa: Trường Sĩ Quan Hải Quân, Trường Hàng Hải Thương Thuyền, Trường Ngư Nghiệp, Trường Kiến Trúc Tầu Bè, và Viện Hải Dương Học. Cả 5 phân khoa này sẽ cùng sử dụng chung một thư viện và các phòng thí nghiệm về biển. Đại Học Hải Dương sẽ là Đại Học lớn nhất Đông Nam Á về các ngành liên quan đến biển. Trước đó về Hải Học chỉ có tại Phi Luật Tân mới có cơ sở dạy môn Marine Biology.
Do đó tôi đã xin đi học tiến sĩ về Quản Trị Giáo Dục để trở về điều hành đại học này. Cùng đi du học với tôi vào đầu năm 1973 có 20 sĩ quan cấp úy tuyển lựa trong các thủ khoa các khóa OCS. Họ được gửi đi học ở South Carolina để lấy các bằng BS và MA. Các sĩ quan này đã chiếm hàng đầu trong các sinh viên tại đại học này. Trước đó chỉ có người Trung Hoa học được straigth A’s. Khi có các sĩ quan Hải Quân Việt Nam qua thì họ đứng đầu lớp. Đa số chỉ học 28 tháng là xong bằng BS, và hai năm sau họ đều có bằng Masters.
Xưa kia đi du học chỉ có con nhà giầu có hay cha chú có piston. Còn vào Hải Quân nếu Anh Ngữ giỏi là được đi không có gì khó khăn, trừ khi có trở ngại về an ninh. Có cháu ông Sao cựu giám đốc hỏa xa là xếp cũ của tôi trong thời gian tôi đi chiếc Nhật Lệ đã đến nhà xin tôi cho cháu ông đi học Mỹ. Ông đem cho tôi hai ký giò lụa, nhưng khi ông ra về tôi mới biết ông kẹp mấy lượng vàng giữa hai ký giò. Tôi đã chạy theo ông ra đến cửa Cư Xá Cửu Long để trả ông. Kết quả là cháu ông thi dư điểm Anh Văn và ông không xin nó cũng được đi. Bà cô tôi cũng cho tôi hai chục soài tượng để xin cho người quen. Tôi đem trả và cô tôi giận tôi luôn. Thành thật là như vậy, việc đi Mỹ lúc đó quá dễ, đâu có cần phải chạy chọt. Có thể việc chạy để được đổi từ bộ binh sang Hải Quân còn khó hơn nhiều. Lúc đó Hải Quân có tiếng là có chữ "Thọ" nên thiên hạ ùa sang cả đống. Tuy nhiên chúng ta cũng giới hạn ở chỗ là các sĩ quan bộ binh muốn qua Hải Quân bắt buộc phải có bằng tú tài toán.
Vì các khóa sinh đi Mỹ nghèo không có nhiều tiền nên xẩy ra có vụ đổi tiền. Tức là một số người sẽ ứng trước tiền Việt Nam cho họ, và sau khi họ nhận được tiền dollar của Ngân Khố thì phải trả lại dollar cho người cho vay lấy lời. Một phu nhân sĩ quan cấp tá đã đến tận nhà tôi xin cho tiếp tục đổi tiền, tôi từ chối vì tôi bị An Ninh điều tra về vụ này. Tôi yêu cầu mỗi khóa OCS phải có một sĩ quan Mỹ đưa đi. Anh này sẽ cầm nguyên cái check cho cả khóa và đến Mỹ mới phát cho từng người. Kết quả là nhiều người cho vay không lấy lại được tiền dollar, có người còn chạy theo lên phi trường Tân Sơn Nhất để đòi tiền.
Khi tôi đi học Hoa Kỳ vào đầu năm 1973, khối Quân Huấn được trao lại cho Đại Tá Trịnh Xuân Phong. Trong biến cố 1975, chúng ta tự hào là Hạm Đội Việt Nam dã trật tự ra đi. Tất cả tầu bè khiển dụng đều đã lên đường chở theo cả 40.000 đồng bào tị nạn. Tất cả đoàn tầu ngoại trừ chiếc Lam Giang HQ 402 bị bắn chìm ngoài khơi Côn Sơn, tất cả đã cập bến Subic Bay và đã được trao về cho chủ cũ là Hải Quân Hoa Kỳ. Tôi đang ở Mỹ lúc đó nên không phải chứng kiến cảnh đau lòng khi toàn thể nhân viên Hải Quân Việt Nam đã tháo bỏ huy hiệu vứt xuống biển và hạ quốc kỳ lần cuối trên những con kình ngư một thời ngang dọc trên toàn lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi mượn tài liệu dưới đây về TTHL Nha Trang để trình bầy về sự bành trướng huấn luyện tại Nha Trang và các nơi khác:
Năm 1965 trong chương-trình viện-trợ và hiện-đại hóa Lực-Lượng Hải-Quân Việt-Nam. Hoa-Kỳ đã cho tu-bổ, nới rộng cơ-sở huấn-luyện nhằm đáp ứng và thích-nghi cho nhu-cầu. Hãng thầu xây-cất Hoa-Kỳ RMK đã trúng thầu thực-thi công-tác tại TTHL/HQ/NT và TTHL/CR. Quân-trường Nha-Trang được nới rộng ra cả hai phíạTừ Q1 nới rộng qua phía trái được xây cất thêm 4 dãy nhà song song có khả-năng làm chỗ ở cho trên 300 HSQ khoá-Sinh, Ðoàn-Viên chuyên-nghiệp.
Từ Q13 nới rộng qua phía phải được xây cất thêm 4 dãy nhà mới và một phạn-xá có khả năng làm nơi ăn ở cho trên 400 SVSQ. Ngoài ra các dãy nhà cũ đều được tân-trang, giảng-đường, lớp học được thiết-trí rộng rãi và tiện-nghi hơn. Ðường xá trong Trung-Tâm và Thao-Diễn-Trường được tráng nhựa mới. Toàn thể Trung-Tâm có 4 câu-lạc-bộ dành cho: SQ, SVSQ, HSQ và Ðoàn-Viên Khoá-Sinh Chuyên-Nghiệp. Một thư-viện lớn tại dãy G.
Thời-gian huấn-luyện cho các khóa Sĩ-Quan theo chương-trình bình thường là 2 năm. Tốt nghiệp với cấp-bậc Thiếu-Úy trừ-bị. Cuối năm 1962 vì nhu-cầu khẩn-thiết để tiếp-nhận các chiến-hạm. Chương trình được rút ngắn 6 tháng, do đó từ khóa 11 cho đến khoá 18 là áp-dụng chương-trình huấn-luyện 18 tháng. Số lượng Sinh-Viên Sĩ-Quan được thu-nhận cũng thay đổi. Từ năm 1957 đến 1960 mỗi khóa không quá 60 Sinh-Viên. Năm 1961 thu-nhận 82 Sinh-Viên.Từ khóa 12 đến khoá 18 là trên 100. Ðặc biệt tháng 5 năm 1963 khi khóa 13 nhập trường thì có 15 Th/Úy Hiện-Dịch tốt nghiệp khóa 16 trường Võ-Bị Quốc-Gia Ðà-Lạt nhập học để chuyển ngành qua Hải-Quân hiện-dịch. Tuy nhiên khi khai-giảng thì chỉ còn 7 Sĩ-Quan tham-dự khóa học. Ðầu năm 1969 do nhu-cầu chuẩn-bị chuyển-giao trách-nhiệm chiến-trường Sông-Biển cho Hải-Quân Việt-Nam đảm-trách, số lượng Sinh-Viên mỗi khoá bây giờ là trên 200.
Hoa-Kỳ cũng nới rộng việc huấn-luyện các Sinh-Viên Sĩ-Quan tại quân-trường Mỹ NewPort Tiểu-Bang Rhode Island gọi là OCS ( Officer Candidate School ). Các Sinh-Viên Sĩ-Quan được BTL/HQ chấp-thuận theo học các khóa OCS phải qua các giai-đoạn như sau:
– Phải có văn-bằng Tú-Tài 2.
– Phải hoàn tất 12 tuần huấn-luyện Căn-Bản Quân-Sự tại TTHL/Quang-Trung hoặc tốt nghiệp trường Bộ-Binh Thủ-Ðức.
– Thi trắc-nghiệm anh ngữ phải đạt từ 70% trở lên.
Trường OCS nằm trên một hòn đảo lớn của Tiểu-Bang Rhode Island, gần trường Naval War College và Căn-Cứ Hải-Quân Ðệ-Lục Hoa-Kỳ. Trường có diện-tích rộng lớn hơn TTHL/HQ/NT, có khả-năng cung-cấp nơi ăn chỗ ở cho trên 1300 khóa-sinh.
Chương-trình huấn-luyện các Sĩ-Quan OCS là 6 tháng, gồm các môn học chú-trọng nhiều về thực-hành như sau: Vận-Chuyển,Vận-Chuyển Chiến-Thuật, Hàng-Hải, Phòng-Tai, Cứu Tàu Lâm-Nạn, Hải-Pháo, Lý-Thuyết Thuyền-Bè, Căn-Bản Quân-Sự, Lãnh-Ðạo Chỉ-Huy và Hành-Quân tập-trận đổ-bộ.
Sau 26 tuần lễ thi tốt nghiệp, rồi tiếp-tục học về Chiến-Tranh Sông-Ngòi ( Brown Water Navy Operation ) tại Mare Island, Vallejo,Californiạ Khoảng 2 tuần lễ thực-tập trên các Giang-Ðĩnh các loại như: Command,Monitor, ASPB, Tango, LCVP, LCM, PBR, kể cả các Duyên-Tốc-Ðĩnh ngoài biển như PCF. Trong thời gian này có 3 ngày đêm tập-trận hành-quân Thủy-Bộ tại Mare Island Calfornia, địa-hình và dàn-cảnh giống chiến-trường VN, bị phục-kích và Chiến-Ðĩnh đánh trả bằng vũ-khí đủ loại như thật, người Mỹ đóng vai Việt-Cộng.
Sau khi hồi-hương lễ gắn cấp-bậc Ch/Uý được tổ-chức trọng thể tại BTL/Hạm-Ðội. Một năm sau thì có Quyết-Ðịnh thăng-cấp Th/Uý trừ-bị. Sĩ-Quan OCS được huấn-luyện mỗi khóa số lượng Sinh-Viên là khoảng 60. Khóa cuối cùng là OCS 12 gồm có cả các Sĩ-Quan Bộ-Binh từ Th/Uý đến Tr/Uý cũng được tham-dự, sau khi mãn khóa thì về phục-vụ tại các đơn-vị Hải-Quân.
Khóa OCS đầu tiên vào tháng 02 năm 1970, khóa 2 vào giữa tháng 03, cứ thế mỗi khóa cách nhau 6 tuần. Khóa OCS 12 hoàn tất vào tháng 09 năm 1971. Sau chương-trình OCS thì Hoa-Kỳ chuyển qua huấn-luyện IOCS ( International Officer Candidate School ), khóa đầu tiên gồm 197 Sinh-Viên trong số đó có: 22 SVHQVN, 1 Sĩ-Quan Ba-Tư, 7 Sĩ-Quan Thổ-Nhỉ-Kỳ, 8 Sĩ-Quan Á-Căn-Ðình, 2 Sĩ-Quan Campuchia, số còn lại là Sinh-Viên và Sĩ-Quan Hoa-Kỳ. Tổng cộng khoảng trên 750 Sinh-Viên Việt-Nam đã thụ-huấn các khóa Trần-Hưng-Ðạo tại Hoa-Kỳ.
Ngoài ra tại Úc cũng có phụ-giúp huấn-luyện 2 khóa OCS với số lượng tổng-cộng khoảng trên 10 SVHQ/VN.
Tại quân-trường Nha-Trang kể từ khoá 19 đến khóa 23 thời-gian huấn luyện là 1 năm. Về văn-hoá vẫn dạy theo chương-trình đại-học như các khóa đàn anh. Về quân-sự được tổ-chức và điều-hành theo hệ-thống tự-chỉ-huy. Sau khi thụ-huấn một năm, các Sinh-Viên tốt-nghiệp với cấp-bậc Chuẩn-Uý. Ðược đi thực-tập thời-gian một năm theo chương-trình OJT ( On the Job Training ). Khi hoàn tất mang cấp-bậc Thiếu-Úy trừ-bị.
Từ khóa 24 về sau việc huấn-luyện trở lại áp-dụng chương-trình 2 năm và tốt nghiệp với cấp-bậc Thiếu-Uý trừ-bị.
Cuối năm 1971, sau khi khóa 22 ra trường thì Trung-Tâm chuẩn-bị tiếp-nhận thêm các Sĩ-Quan khóa-sinh, được gọi là khóa Sĩ-Quan Ðặc-Biệt. Ðó là những Sĩ- Quan có cấp-bậc từ Chuẩn-Úy đến Thiếu-Tá đã tốt nghiệp tại các quân-trường Bộ-Binh và đang làm việc tại các đơn-vị bờ của Hải-Quân, kể cả các Sĩ-Quan ngành Cảnh-Sát thuộc các Lực-Lượng Giang-Cảnh.Thời-gian thụ-huấn là 6 tháng lý-thuyết, chương-trình thuần-túy về hải-nghiệp, khi tốt nghiệp thì vẫn mang cấp-bậc như cũ nhưng danh xưng bây giờ là HQ. Ðược chỉ-định phục-vụ trên các chiến-hạm.
Khóa 1 Sĩ-Quan Ðặc-Biệt có sự tham-dự của Tr/Uý Trần-Minh-Chánh là con của Ðề-Ðốc Trần-Văn-Chơn đương kim Tư-lệnh Hải-Quân lúc bấy giờ. Ðồng thời Trung-Tâm còn huấn-luyện 3 tháng chuyên-nghiệp cho các khoá-sinh trường Võ-Bị Quốc-Gia Ðà-Lạt trong mùa văn-hóạ Ðầu năm 1973 có 30 Sinh-Viên Sĩ-Quan Ðà-Lạt thuộc 2 khóa 25 và 26 đến thụ-huấn 3 tháng lý-thuyết.
Tháng 09 năm 1974 khóa 25 Sinh-Viên Hải-Quân Nha-Trang mãn khóa Quân-trường Nha-Trang chỉ còn lại khóa 26 là khóa cuối cùng của Trung-Tâm. Cho đến cuối tháng 3 năm 1975, thành-phố Nha-Trang được lệnh di-tản. Từ ngày thành-lập cho đến 30-04-1975 Trung-Tâm đã đào-tạo được trên 3000 sĩ-quan chung cho ngành Chỉ-Huy và Cơ-Khí. Riêng về trường Sơ-Ðẳng chuyên-nghiệp thì đã đào-tạo được 15.050 Hạ-Sĩ-Quan và Ðoàn-Viên.
NN Kien Nguyen chuyen
Image may contain: John ThuBui, standing

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :"Tiếng Việt, yêu & ghét" - Lê Hữu ( Trần Văn Giang ghi lại )

'vô hình trung' là nghĩa gì vậy, sao cứ thích dùng, hình như có nghĩa là 'vô tình'

Xem Thêm

Đề bài :TIN CHIẾN SỰ MỚI NHẤT[ CẬP NHẬT NGÀY 20 -5 - 2022 ]

Suu cao,thue nang,nhu yeu pham tang gia.Kinh te eo seo...Vay ma dang Lua van lay tien cua dan tro giup linh tinh.Mo cua bien gioi.Ung ho toi ac truc tiep khi sua luat cho phep trom cuop o muc do <1.000 dollars thi vo toi....Neu vao thoi diem Trump,bon Lua da ho hoan nhu the nao ??? Nhung nguoi bau ban vi chut tu loi ,nghi gi ve dat nuoc ??? Phai chang day khong phai la dat nuoc minh ??? bat qua,lai tro ve que huong cu...Neu vay,ban la thang cho chet ! mien ban !

Xem Thêm

Đề bài :Tin Mới Nhất Về Chiến Sư Ucraina [ CẬP NHẬT NGÀY 14-5-2022 ]

Chung nao moi vet nho cua ho nha Dan da duoc tay xoa trang boc,thi Uk moi co hy vong...ngung chien.Cung vay,ngay nao ma cac cong ty ,co goc gac tu cac dang bac nu luu-anh hao cua khoi tu do va ong chief police va dang Lua thi moi giai xong phuong trinh tau cong !

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Hình cũ - Hà Thượng Thủ

Ngắm lại hình xưa chịu mấy ông Những Linh, Tùng, Duẫn với Mười, Đồng Mặt mày ai lại đi hồ hởi Phấn khởi khi Tàu cướp Biển Đông Phải chăng “quý” mặt đã thành mông Con mắt nay đà có nhưng không Nên mới chổng khu vào hải đảo Gia tài gấm vóc của tổ tông?

Xem Thêm

Đề bài :Nói thật - Hà Thượng Thủ

Loi tuyen bo cua Bo truong han la phai dung ! Vay ra tu truoc toi nay,bang gia- hoc gia- tu nghiep gia...tat ca deu gia. Vay cai gi la that ?chang phai duoi che do CS,tat ca deu la gia tra,.gian doi,lua dao...Tat ca deu da duoc dao tao bang lao toet ngay tu khi con la thieu nhi .

Xem Thêm

Đề bài :Nói thật - Hà Thượng Thủ

Loi tuyen bo cua Bo truong han la phai dung ! Vay ra tu truoc toi nay,bang gia- hoc gia- tu nghiep gia...tat ca deu gia. Vay cai gi la that ?chang phai duoi che do CS,tat ca deu la gia tra,.gian doi,lua dao...Tat ca deu da duoc dao tao bang lao toet ngay tu khi con la thieu nhi .

Xem Thêm

Đề bài :Nói thật - Hà Thượng Thủ

Loi tuyen bo cua Bo truong han la phai dung ! Vay ra tu truoc toi nay,bang gia- hoc gia- tu nghiep gia...tat ca deu gia. Vay cai gi la that ?chang phai duoi che do CS,tat ca deu la gia tra,.gian doi,lua dao...Tat ca deu da duoc dao tao bang lao toet ngay tu khi con la thieu nhi .

Xem Thêm