Văn Học & Nghệ Thuật

Một thế kỷ thơ trào phúng Việt Nam

Bước qua thế kỷ XXI, nhìn lại văn học trào phúng thế kỷ XX vẫn là điều cần thiết và cũng là yêu cầu chính đáng. Tiếng cười của thế kỷ đó tồn tại được là do sự xuất hiện

Một thế kỷ thơ trào phúng Việt Nam
Bước qua thế kỷ XXI, nhìn lại văn học trào phúng thế kỷ XX vẫn là điều cần thiết và cũng là yêu cầu chính đáng. Tiếng cười của thế kỷ đó tồn tại được là do sự xuất hiện của những cây bút trào phúng sáng giá. Thử hỏi, họ đã cười những gì trong thời đại mà họ đang sống?
Image result for thơ trào phúng
Trước hết, "kính lão đắc thọ", xin được mở đầu bằng nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909), quê ở Nam Định. Ông xứng đáng là bậc "tiên chỉ" trên vuông chiếu của nền văn học trào phúng thế kỷ XX. Tiếng cười của ông thâm trầm và kín đáo. Tưởng là cười cợt, bông lơn nhưng ẩn sau từng dòng chữ là những giọt nước mắt đau đời. Khi đất nước mất vào tay giặc Pháp, nhân cách lớn của Nguyễn Khuyến là không cộng tác với chúng, lấy cớ mắt lòa.

Có lần, ông được mời vào trình diện công sứ Hà Nam, thực chất là để hắn kiểm tra thái độ chính trị. Cũng khăn áo chỉnh tề bước vào dinh, thay vì chào hắn, ông hướng vào mấy cây cột vái mấy cái rồi nói: "Lạy cụ lớn ạ!". Mọi người bật cười. Ông xin lỗi mắt lòa, không trông thấy gì rõ cả. Viên công sứ giận tím người, nhưng làm sao bắt bẻ được.
Khi chứng kiến Hội Tây được tổ chức hằng năm trên đất nước ta thuở ấy - nhằm mừng ngày cách mạng Pháp (14.7.1789) ông chỉ thấy: "Bà quan tênh nghếch xem bơi trải/ Thằng bé lom khom ghé hát chèo/ Cậy sức cây đu nhiều chị nhún/ Tham tiền cột mỡ lắm anh leo" (Hội Tây).
Những câu thơ trào lộng này khiến ai đọc cũng ngậm ngùi, cũng tủi nhục, cũng đớn đau khi nhìn lại một giai đoạn bi đát của lịch sử nước nhà. Phải thấm nỗi đau, nỗi nhục ấy, Nguyễn Khuyến mới có thể hạ những câu như từng đường gươm sắc bén.
Nhà thơ Tú Xương (1870-1907) là người đời truyền tụng: "Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn". Lời tiên đoán ấy không sai. Tú Xương nổi tiếng đến độ, người ta cho rằng đất Nam Định có hai đặc sản: "Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự". 
Tú Xương đã để lại một bản lĩnh thơ, một sự nghiệp văn học để tạo nên cốt cách trào phúng và trữ tình - sau này, nhiều người cũng bắt đầu sự nghiệp văn học bằng chữ "Tú" của Tú Xương. Có lẽ, ông là người có nhiều "môn đệ" nhất: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Tout seul: chỉ có một mình - Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Da... rồi Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Lơ Khơ (Nguyễn Nhật Ánh), Tú Hợi (Lê Minh Quốc)...
Nhà thơ Tú Xương.
Tiếng cười của Tú Xương sâu cay, phản ánh rõ nét những nhố nhăng của cái xã hội buổi giao thời Pháp-Việt. Chẳng hạn, đây là cảnh lễ xướng danh của khoa thi năm 1897: "Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ/ Ậm ọe quan trường miệng thét loa/ Cờ kéo rợp trời quan sứ đến/ Váy lê quét đất mụ đầm ra/ Nhân tài đất Bắc nào ai đó/ Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà". Nghe mà ứa nước mắt.
Trong số các "môn đệ" của Tú Xương, người nối danh không hổ danh thầy là Tú Mỡ (1900-1976). Tiếng cười độc đáo của ông là biết kế thừa cái hay của các sư phụ đi trước và từ ca dao, tục ngữ. Điều làm nên tên tuổi Tú Mỡ là ông đã cười rất ác vào cái ông nghị... gật mà trước và sau ông chưa có ai vượt qua nổi! Ông đã vẽ những bức chân dung bằng thơ với đường nét tiêu biểu nhất, không lẫn lộn với ai khác. 
Chẳng hạn, đây là một đoạn trong cảnh khuếch trương của các ông nghị trước khi ra bầu cử, ta thấy có giọng châm biếm hài hước của Tú Xương: "Lẳng lặng mà nghe họ diễn thuyết/ Công tâm, công ích, lời tâm huyết/ Phen này mở hiệu viết văn thuê/ Dẫu chẳng làm giàu cũng đỡ kiết/ Họ quẳng tiền ra để cạnh tranh/ Nghe đâu mỗi vé một "rồng xanh"/ Phen này có lẽ mưa ra bạc/ Mà nghị viên ta khỏi phỗng sành" (Bầu cử). "Rồng xanh": giấy bạc thời Pháp thuộc.
Không rõ, phong thổ của từng vùng đất có ảnh hưởng đến tâm tính hay không, chứ giáp tỉnh Nam Định ở phía Nam là huyện Lý Nhân (Hà Nam) lại có nhà thơ trào phúng nổi tiếng Kép Trà (1873-1923), tên thật Hoàng Thụy Phương, kém Tú Xương 3 tuổi. Hầu như không một quan tham nào ở Hà Nam thoát khỏi ngọn bút phê phán sắc bén của ông.
Sự kiện đáng kể nhất của Kép Trà là đã công khai tấn công bọn "áo mão" mị dân trong lễ kỷ niệm thi hào Nguyễn Du, tối ngày 10-8-1924 tại Hội Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội). Bài thơ được truyền tụng nhiều nhất của ông là thuật lại buổi lễ đó: "Mấy chị đào non cười khúc khích/ Một đoàn mặt trắng huýt lung tung/ Tiên Điền, cụ hỡi hay chăng tá?/ Giỗ cụ, hương trầm bỗng thối hung" (Hỏi cụ Tiên Điền).
Phan Điện (1874-1945) là cây cười tiêu biểu của Hà Tĩnh. Giống như đàn anh Tú Xương, dù ông văn hay chữ tốt, nhưng khoa thi nào cũng… rớt vì phạm trường quy! Người đầu tiên cười vua bù nhìn Bảo Đại có lẽ là Phan Điện. 
Khi nhà vua ra Bắc, đi ngang qua huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) cùng với Nam Phương hoàng hậu, quan lại địa phương cho nam thanh nữ tú xếp hàng đầu rồi giàn hương án để rước đón. Con nít trong làng rủ nhau đi xem "mặt rồng" ầm ĩ nên làm đổ một bức tường, đè chết mấy trẻ nhỏ. 
Trước sự kiện này, Phan Điện có bài thơ sâu cay: "Xiếc vùng Đức Thọ có vui không?/ Cóc nhái hôm nay được thấy rồng!/ Gái đạo phát tài cười tủm tỉm/ Trai lương phải tội chạy long đong/ Mề - đay xiết kể ơn hoàng thượng/ Tường đổ thương thay lũ tiểu đồng/ Đố biết vì ai nên nỗi thế?/ Vì quan sở tại khéo tâng công!" (Vì ai?).
 Đi du lịch miền Trung, đến xứ Huế mộng mơ, chắc hẳn chúng ta sẽ nhớ đến hai câu thơ viết về Huế thuở nước nhà còn nô lệ: "Núi Ngự không cây cu ngủ đất/ Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời!". 
Đó là thơ của cây bút trào phúng đất Thần kinh: Nguyễn Khoa Vy (1881-1968), hiệu Thảo Am. Tương truyền, thuở nhỏ, có lần ông lẻn vào Tịnh tâm hái trộm trái cây, gặp lúc vua Thành Thái và thị vệ đang ngồi chơi. Biết đây là cậu học trò thuộc dòng khoa bảng Nguyễn Khoa nên nhà vua mới ra đề thử tài.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến.
Làm thơ xong, vua khen hay và thưởng cho vài chiếc kẹo, Nguyễn Khoa Vy nhận ngay rồi quay lưng chạy. Lính lệ bắt lại ghép vào tội vô lễ với Hoàng thượng, Nguyễn Khoa Vy liền đọc bài thơ tạ tội: "Đang nghịch không ngờ lại gặp vua/ Còng lưng mà chạy rớt càng cua/ Bây giờ lại được vua ban thưởng/ Cảm tạ đâu nào dám "bonjour"! (Không đề). 
Tiếng Pháp xen lẫn vào bài thơ tiếng Việt thật tự nhiên- cũng là phong cách cười kín đáo, tế nhị của người Huế vậy.
Vượt qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam, có lẽ ta nên dừng chân lại tâm tình với nhà thơ Tú Quỳ (1828-1926). Thơ trào phúng của ông khá nhiều, tựu trung là đả kích cường hào ác bá và bài trừ mê tín dị đoan... 
Chẳng hạn đối với những tên Việt gian, cộng tác với giặc Pháp thì ông chưởi xéo qua bài thơ Vịnh con bò khá độc đáo: "Vũ trụ không qua đồng cỏ tốt/ Sơn hà khó sánh miếng ăn no/ Thâm sơn ruộng thẳm dơ lưng cạch/ Cắm cổ lôi cày mặc kẻ lo".
Đi dần vào phương Nam, ta ắt gặp Phan Văn Trị (1830-1910) không chỉ là một nhà thơ bút chiến số một của Nam kỳ, ông còn là cây bút trào phúng có bản sắc độc đáo. Ông đả kích không khoan nhượng với cái xấu, sự lươn lẹo của bọn Việt gian ngoi lên bằng con đường nịnh nọt giặc Pháp. 
Hát bội là bài thơ tiêu biểu cho phong cách của ông: "Đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi/ Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi/ Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc/ Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi/ Trên đỉnh có nhà còn lợp lọng/ Dưới chơn không ngựa lại giơ roi/ Hèn chi chúng nói bội là bạc/ Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi".
Còn có cả Học Lạc (1842-1915) nữa, tên thật Nguyễn Văn Học. Dù học giỏi nhưng thi không đậu, lại gặp lúc Pháp thực hiện chế độ giáo dục Pháp - Việt nên ông không tha thiết gì đến việc tiến thân bằng khoa cử nữa, bỏ về Mỹ Tho học nghề làm thuốc Bắc kiếm sống. Ngòi bút của ông tấn công không trực diện bọn hương chức tham nhũng qua các bài thơ vịnh Con tôm, Con trâu, Con chó chết trôi... 
Và đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông, dù viết về Ông làng hát bội nhưng ai cũng biết là Học Lạc ám chỉ ai: "Trong bụng trống trơn, mang cổ giữa/ Trên đầu trọc lóc, bịt khăn ngang/ Vào buồng gọi tổ, châu đầu lạy/ Ra rạp rằng con, nịt thắt mang".
Hầu như xuyên suốt thế kỷ XX, ở vùng nào trên đất nước ta cũng có những cây cười tiêu biểu. Sau năm 1945 cho đến năm 1975 ở ngoài Bắc nổi lên những cây thơ trào phúng như Xích Điểu, Thợ Rèn, Nguyễn Đình, Sĩ Giang, Lã Vọng, Búa Đanh, Huyền Thanh, Chính Nghĩa, Búa Tạ, Đặc Công v.v... Tiếng cười của các cây bút này vẫn nặng về xây dựng lối sống  mới và chủ yếu là đánh kẻ thù xâm lược bằng những thủ pháp sắc sảo, có ấn tượng.
Xin giới thiệu một, hai cây bút tiêu biểu nhất, chẳng hạn, nhà thơ Xích Điểu (1913-2003), người Hà Nội. Ngòi bút của ông tập trung châm biếm kẻ thù và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. 
Bài thơ Chống tiêu cực làng ta, ông phê thẳng tay: "Tưởng đâu thuở trước bọn văn nô/ Rơi rớt thời nay vẫn sót lò/ Anh bảo bút đây vì tập thể/ Thật ra bút bợ cá nhân to/ Bút bic anh xài đỏ đỏ đen/ Tô màu thành tích nỏ cần xem/ Chỉ cần đối tượng anh tâng bốc/ Luôn nhớ anh bằng những tiếng khen"... 
Nhà thơ trào phúng Thợ Rèn, (1923-2008) tự nhận viết trào phúng để phục vụ nhiệm vụ chính trị kịp thời, phê phán cái xấu trong nội bộ. 
Một bài thơ tiêu biểu của Thợ Rèn là Tết Tây: "Chúc trước tết Tây để tết ta/ Các quan liêm chính bớt ăn quà/ Nể lòng cấp dưới nên khôn nỡ/ Lòng vả lòng sung ta với ta/ Gần tết ngược xuôi khắp mọi miền/ Xe hơi rầm rập phố Trường Yên/ Thời trân thức thức trên xe ấy/ Biết chở về đâu? Lẽ tất nhiên!". 
Ngoài ra còn có thể kể thêm các anh tài khác như Bút Châm, Hạt Tiêu, Ong Mật, Mực Đỏ, Dương Quân, Thiện Chí…
Về các cây bút trào phúng miền Nam (1954-1975), hầu như chưa có chuyên luận nào đề cập đến. Có thể kể đến Tú Trọc, Hà Thượng Nhân, Cả Tếu, Ch. Số Zách, Trạng Đớp, Tú Kếu, Cung Văn, Tú Ngang... Thơ trào phúng của họ có lúc dám cà khịa cả chính quyền Sài Gòn. Và tất nhiên đã thơ trào phúng thì họ không thể bỏ qua các sự kiện thời sự.
Lướt qua thế kỷ thơ trào phúng của thế kỷ XX dẫu do dung lượng một bài báo chưa giới thiệu được trọn vẹn nhưng cũng đủ thấy cái kho kiến văn, cái tầm ngạo nghễ của trí thức nước ta quả thật là rộng lớn vô biên.
Lê Bằng Hữu

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Một thế kỷ thơ trào phúng Việt Nam

Bước qua thế kỷ XXI, nhìn lại văn học trào phúng thế kỷ XX vẫn là điều cần thiết và cũng là yêu cầu chính đáng. Tiếng cười của thế kỷ đó tồn tại được là do sự xuất hiện

Một thế kỷ thơ trào phúng Việt Nam
Bước qua thế kỷ XXI, nhìn lại văn học trào phúng thế kỷ XX vẫn là điều cần thiết và cũng là yêu cầu chính đáng. Tiếng cười của thế kỷ đó tồn tại được là do sự xuất hiện của những cây bút trào phúng sáng giá. Thử hỏi, họ đã cười những gì trong thời đại mà họ đang sống?
Image result for thơ trào phúng
Trước hết, "kính lão đắc thọ", xin được mở đầu bằng nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909), quê ở Nam Định. Ông xứng đáng là bậc "tiên chỉ" trên vuông chiếu của nền văn học trào phúng thế kỷ XX. Tiếng cười của ông thâm trầm và kín đáo. Tưởng là cười cợt, bông lơn nhưng ẩn sau từng dòng chữ là những giọt nước mắt đau đời. Khi đất nước mất vào tay giặc Pháp, nhân cách lớn của Nguyễn Khuyến là không cộng tác với chúng, lấy cớ mắt lòa.

Có lần, ông được mời vào trình diện công sứ Hà Nam, thực chất là để hắn kiểm tra thái độ chính trị. Cũng khăn áo chỉnh tề bước vào dinh, thay vì chào hắn, ông hướng vào mấy cây cột vái mấy cái rồi nói: "Lạy cụ lớn ạ!". Mọi người bật cười. Ông xin lỗi mắt lòa, không trông thấy gì rõ cả. Viên công sứ giận tím người, nhưng làm sao bắt bẻ được.
Khi chứng kiến Hội Tây được tổ chức hằng năm trên đất nước ta thuở ấy - nhằm mừng ngày cách mạng Pháp (14.7.1789) ông chỉ thấy: "Bà quan tênh nghếch xem bơi trải/ Thằng bé lom khom ghé hát chèo/ Cậy sức cây đu nhiều chị nhún/ Tham tiền cột mỡ lắm anh leo" (Hội Tây).
Những câu thơ trào lộng này khiến ai đọc cũng ngậm ngùi, cũng tủi nhục, cũng đớn đau khi nhìn lại một giai đoạn bi đát của lịch sử nước nhà. Phải thấm nỗi đau, nỗi nhục ấy, Nguyễn Khuyến mới có thể hạ những câu như từng đường gươm sắc bén.
Nhà thơ Tú Xương (1870-1907) là người đời truyền tụng: "Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn". Lời tiên đoán ấy không sai. Tú Xương nổi tiếng đến độ, người ta cho rằng đất Nam Định có hai đặc sản: "Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự". 
Tú Xương đã để lại một bản lĩnh thơ, một sự nghiệp văn học để tạo nên cốt cách trào phúng và trữ tình - sau này, nhiều người cũng bắt đầu sự nghiệp văn học bằng chữ "Tú" của Tú Xương. Có lẽ, ông là người có nhiều "môn đệ" nhất: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Tout seul: chỉ có một mình - Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Da... rồi Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Lơ Khơ (Nguyễn Nhật Ánh), Tú Hợi (Lê Minh Quốc)...
Nhà thơ Tú Xương.
Tiếng cười của Tú Xương sâu cay, phản ánh rõ nét những nhố nhăng của cái xã hội buổi giao thời Pháp-Việt. Chẳng hạn, đây là cảnh lễ xướng danh của khoa thi năm 1897: "Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ/ Ậm ọe quan trường miệng thét loa/ Cờ kéo rợp trời quan sứ đến/ Váy lê quét đất mụ đầm ra/ Nhân tài đất Bắc nào ai đó/ Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà". Nghe mà ứa nước mắt.
Trong số các "môn đệ" của Tú Xương, người nối danh không hổ danh thầy là Tú Mỡ (1900-1976). Tiếng cười độc đáo của ông là biết kế thừa cái hay của các sư phụ đi trước và từ ca dao, tục ngữ. Điều làm nên tên tuổi Tú Mỡ là ông đã cười rất ác vào cái ông nghị... gật mà trước và sau ông chưa có ai vượt qua nổi! Ông đã vẽ những bức chân dung bằng thơ với đường nét tiêu biểu nhất, không lẫn lộn với ai khác. 
Chẳng hạn, đây là một đoạn trong cảnh khuếch trương của các ông nghị trước khi ra bầu cử, ta thấy có giọng châm biếm hài hước của Tú Xương: "Lẳng lặng mà nghe họ diễn thuyết/ Công tâm, công ích, lời tâm huyết/ Phen này mở hiệu viết văn thuê/ Dẫu chẳng làm giàu cũng đỡ kiết/ Họ quẳng tiền ra để cạnh tranh/ Nghe đâu mỗi vé một "rồng xanh"/ Phen này có lẽ mưa ra bạc/ Mà nghị viên ta khỏi phỗng sành" (Bầu cử). "Rồng xanh": giấy bạc thời Pháp thuộc.
Không rõ, phong thổ của từng vùng đất có ảnh hưởng đến tâm tính hay không, chứ giáp tỉnh Nam Định ở phía Nam là huyện Lý Nhân (Hà Nam) lại có nhà thơ trào phúng nổi tiếng Kép Trà (1873-1923), tên thật Hoàng Thụy Phương, kém Tú Xương 3 tuổi. Hầu như không một quan tham nào ở Hà Nam thoát khỏi ngọn bút phê phán sắc bén của ông.
Sự kiện đáng kể nhất của Kép Trà là đã công khai tấn công bọn "áo mão" mị dân trong lễ kỷ niệm thi hào Nguyễn Du, tối ngày 10-8-1924 tại Hội Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội). Bài thơ được truyền tụng nhiều nhất của ông là thuật lại buổi lễ đó: "Mấy chị đào non cười khúc khích/ Một đoàn mặt trắng huýt lung tung/ Tiên Điền, cụ hỡi hay chăng tá?/ Giỗ cụ, hương trầm bỗng thối hung" (Hỏi cụ Tiên Điền).
Phan Điện (1874-1945) là cây cười tiêu biểu của Hà Tĩnh. Giống như đàn anh Tú Xương, dù ông văn hay chữ tốt, nhưng khoa thi nào cũng… rớt vì phạm trường quy! Người đầu tiên cười vua bù nhìn Bảo Đại có lẽ là Phan Điện. 
Khi nhà vua ra Bắc, đi ngang qua huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) cùng với Nam Phương hoàng hậu, quan lại địa phương cho nam thanh nữ tú xếp hàng đầu rồi giàn hương án để rước đón. Con nít trong làng rủ nhau đi xem "mặt rồng" ầm ĩ nên làm đổ một bức tường, đè chết mấy trẻ nhỏ. 
Trước sự kiện này, Phan Điện có bài thơ sâu cay: "Xiếc vùng Đức Thọ có vui không?/ Cóc nhái hôm nay được thấy rồng!/ Gái đạo phát tài cười tủm tỉm/ Trai lương phải tội chạy long đong/ Mề - đay xiết kể ơn hoàng thượng/ Tường đổ thương thay lũ tiểu đồng/ Đố biết vì ai nên nỗi thế?/ Vì quan sở tại khéo tâng công!" (Vì ai?).
 Đi du lịch miền Trung, đến xứ Huế mộng mơ, chắc hẳn chúng ta sẽ nhớ đến hai câu thơ viết về Huế thuở nước nhà còn nô lệ: "Núi Ngự không cây cu ngủ đất/ Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời!". 
Đó là thơ của cây bút trào phúng đất Thần kinh: Nguyễn Khoa Vy (1881-1968), hiệu Thảo Am. Tương truyền, thuở nhỏ, có lần ông lẻn vào Tịnh tâm hái trộm trái cây, gặp lúc vua Thành Thái và thị vệ đang ngồi chơi. Biết đây là cậu học trò thuộc dòng khoa bảng Nguyễn Khoa nên nhà vua mới ra đề thử tài.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến.
Làm thơ xong, vua khen hay và thưởng cho vài chiếc kẹo, Nguyễn Khoa Vy nhận ngay rồi quay lưng chạy. Lính lệ bắt lại ghép vào tội vô lễ với Hoàng thượng, Nguyễn Khoa Vy liền đọc bài thơ tạ tội: "Đang nghịch không ngờ lại gặp vua/ Còng lưng mà chạy rớt càng cua/ Bây giờ lại được vua ban thưởng/ Cảm tạ đâu nào dám "bonjour"! (Không đề). 
Tiếng Pháp xen lẫn vào bài thơ tiếng Việt thật tự nhiên- cũng là phong cách cười kín đáo, tế nhị của người Huế vậy.
Vượt qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam, có lẽ ta nên dừng chân lại tâm tình với nhà thơ Tú Quỳ (1828-1926). Thơ trào phúng của ông khá nhiều, tựu trung là đả kích cường hào ác bá và bài trừ mê tín dị đoan... 
Chẳng hạn đối với những tên Việt gian, cộng tác với giặc Pháp thì ông chưởi xéo qua bài thơ Vịnh con bò khá độc đáo: "Vũ trụ không qua đồng cỏ tốt/ Sơn hà khó sánh miếng ăn no/ Thâm sơn ruộng thẳm dơ lưng cạch/ Cắm cổ lôi cày mặc kẻ lo".
Đi dần vào phương Nam, ta ắt gặp Phan Văn Trị (1830-1910) không chỉ là một nhà thơ bút chiến số một của Nam kỳ, ông còn là cây bút trào phúng có bản sắc độc đáo. Ông đả kích không khoan nhượng với cái xấu, sự lươn lẹo của bọn Việt gian ngoi lên bằng con đường nịnh nọt giặc Pháp. 
Hát bội là bài thơ tiêu biểu cho phong cách của ông: "Đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi/ Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi/ Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc/ Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi/ Trên đỉnh có nhà còn lợp lọng/ Dưới chơn không ngựa lại giơ roi/ Hèn chi chúng nói bội là bạc/ Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi".
Còn có cả Học Lạc (1842-1915) nữa, tên thật Nguyễn Văn Học. Dù học giỏi nhưng thi không đậu, lại gặp lúc Pháp thực hiện chế độ giáo dục Pháp - Việt nên ông không tha thiết gì đến việc tiến thân bằng khoa cử nữa, bỏ về Mỹ Tho học nghề làm thuốc Bắc kiếm sống. Ngòi bút của ông tấn công không trực diện bọn hương chức tham nhũng qua các bài thơ vịnh Con tôm, Con trâu, Con chó chết trôi... 
Và đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông, dù viết về Ông làng hát bội nhưng ai cũng biết là Học Lạc ám chỉ ai: "Trong bụng trống trơn, mang cổ giữa/ Trên đầu trọc lóc, bịt khăn ngang/ Vào buồng gọi tổ, châu đầu lạy/ Ra rạp rằng con, nịt thắt mang".
Hầu như xuyên suốt thế kỷ XX, ở vùng nào trên đất nước ta cũng có những cây cười tiêu biểu. Sau năm 1945 cho đến năm 1975 ở ngoài Bắc nổi lên những cây thơ trào phúng như Xích Điểu, Thợ Rèn, Nguyễn Đình, Sĩ Giang, Lã Vọng, Búa Đanh, Huyền Thanh, Chính Nghĩa, Búa Tạ, Đặc Công v.v... Tiếng cười của các cây bút này vẫn nặng về xây dựng lối sống  mới và chủ yếu là đánh kẻ thù xâm lược bằng những thủ pháp sắc sảo, có ấn tượng.
Xin giới thiệu một, hai cây bút tiêu biểu nhất, chẳng hạn, nhà thơ Xích Điểu (1913-2003), người Hà Nội. Ngòi bút của ông tập trung châm biếm kẻ thù và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. 
Bài thơ Chống tiêu cực làng ta, ông phê thẳng tay: "Tưởng đâu thuở trước bọn văn nô/ Rơi rớt thời nay vẫn sót lò/ Anh bảo bút đây vì tập thể/ Thật ra bút bợ cá nhân to/ Bút bic anh xài đỏ đỏ đen/ Tô màu thành tích nỏ cần xem/ Chỉ cần đối tượng anh tâng bốc/ Luôn nhớ anh bằng những tiếng khen"... 
Nhà thơ trào phúng Thợ Rèn, (1923-2008) tự nhận viết trào phúng để phục vụ nhiệm vụ chính trị kịp thời, phê phán cái xấu trong nội bộ. 
Một bài thơ tiêu biểu của Thợ Rèn là Tết Tây: "Chúc trước tết Tây để tết ta/ Các quan liêm chính bớt ăn quà/ Nể lòng cấp dưới nên khôn nỡ/ Lòng vả lòng sung ta với ta/ Gần tết ngược xuôi khắp mọi miền/ Xe hơi rầm rập phố Trường Yên/ Thời trân thức thức trên xe ấy/ Biết chở về đâu? Lẽ tất nhiên!". 
Ngoài ra còn có thể kể thêm các anh tài khác như Bút Châm, Hạt Tiêu, Ong Mật, Mực Đỏ, Dương Quân, Thiện Chí…
Về các cây bút trào phúng miền Nam (1954-1975), hầu như chưa có chuyên luận nào đề cập đến. Có thể kể đến Tú Trọc, Hà Thượng Nhân, Cả Tếu, Ch. Số Zách, Trạng Đớp, Tú Kếu, Cung Văn, Tú Ngang... Thơ trào phúng của họ có lúc dám cà khịa cả chính quyền Sài Gòn. Và tất nhiên đã thơ trào phúng thì họ không thể bỏ qua các sự kiện thời sự.
Lướt qua thế kỷ thơ trào phúng của thế kỷ XX dẫu do dung lượng một bài báo chưa giới thiệu được trọn vẹn nhưng cũng đủ thấy cái kho kiến văn, cái tầm ngạo nghễ của trí thức nước ta quả thật là rộng lớn vô biên.
Lê Bằng Hữu

BẢN TIN MỚI NHẤT

Phương Pháp Diệt Khuẩn Chinese Virus Hay Nhất !

được em Ủn áp dụng tại Triểu Tiên.

Xem Thêm

CHÂN TƯỚNG CỦA PHE DÂN CHỦ và CỘNG HOÀ - Tác giả: Wayne Nguyen

Kể từ năm 1984 đến nay, các ứng cử viên tổng thống Mỹ của đảng DC đều học trướng luật, mặc dù chỉ có Al Gore là không tốt nghiệp .

Xem Thêm

TÓC VƯƠNG ÁO TRÀNG. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Khăn lam che khổ não Tiền thân chốn hoang đàng

Xem Thêm

Thái Anh Văn. Người phụ nữ khắc tinh của Tập Cận Bình.

Trong một tuyên bố mới đây của bà Thái Anh Văn tại Đài Loan rằng Đài Loan sẽ cung cấp hầu hết thuốc men dụng cụ y tế supplier mà thế giới đang cần

Xem Thêm

CÓ NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM GÓP PHẦN LÀM CHO NƯỚC MỸ VĨ ĐẠI!!!

Các nhân viên và tình nguyện viên của Zen Nails đến nay đã làm được 2.000 khẩu trang, đồ che mặt và áo choàng y tế. Và tất cả đã được trao tặng lại.

Xem Thêm

Thế giới hôm nay: 02/04/2020

Thị trường chứng khoán toàn cầu rung lắc trong ngày đầu của quý mới sau khi Tổng thống Donald Trump cảnh báo ảm đạm rằng có tới 240.000 người Mỹ có thể chết vì covid-19. S&P 500

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài : Lộ thẻ đảng viên của ca sĩ Thu Phương

Chung ta,nhung nguoi Viet ty nan cong san,nhung nguoi viet tu do con mai bi lua cho den bao gio ???Chong cong ! chong cong ! nhung lai ca tin,mui long va ham ho loi nhuan de bi loi dung va sau do than troi ! Trong don nhap tich My co cau hoi : co la dang vien cs khong ? hay lat lai ho so va toi boi the de tong co nhung thang-nhung con can sang my va quay lai chiu My,pha roi cong dong.Chan nan voi nhung tay co chut truyen thong,mac suc tung hoanh sai su that va le phai.

Xem Thêm

Đề bài :Bánh Quy LU Của Pháp, 4 Góc, 52 Khứa, 24 Lỗ

Hình dáng chiếc bánh quy này đã trở nên quen thuộc với người Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 .

Xem Thêm

Đề bài :Thêm 25 thủy thủ nhiễm Covid-19 trên hàng không mẫu hạm Mỹ vừa thăm VN

Them mot bai hoc vo long cay dang cho nguoi quan tu(?) nghe bon no tuyen bo cu tuong bo.Hay chiu kho hoc bai ban cua chung toi VNCH da dang cay toi muc do mat luon dat nuoc vao tay quan thu ma quan binh tuong si con ngan ngo…..Vay do, nhung nguoi hung da tan tinh giup do chung toi bang vat chat-tien cua va ca hon 58.000 quan binh tuong si,den nay,sau nhung bai hoc,nhung nhan thuc sai lam,lieu rang co giup chung toi cach thiet thuc hay lai noi rang :" trang su da lat qua ???"Bai hoc to lon cua tap xap xinh,do dau ma bon no doi thong tri co hoa ?bai hoc nho be nhung thuc tien :" DUNG NGHE NHUNG GI CONG SAN NOI-NHUNG HAY NHIN NHUNG GI CONG SAN LAM " Voi bon cong,phai lam theo loi mao xech xang :" SUC MANH TREN DAU SUNG" the la tiet giong trom v cuop.hoac hay lam theo hoi giao:trom cuop:chat tay.Noi lao-lua dao:" treo co " tuy co tan nhan va di nguoc voi cai RAN CHU ma qui vi tu hao nhung no lai vo cung rut ngan xuong mau.

Xem Thêm

Đề bài :Thế giới hướng về nước Mỹ, còn người Mỹ hướng về Thiên Chúa!

Thiên Chúa đã phán:" Phước cho kẻ nào không thấy mà tin".Trong giờ phút "CÂN PHÚC CÂN TỘI" này, những kẻ ngậm máu phun người sẽ được thấm nhuần câu nói:" Một lời nói, một đọi máu ".Luật NHÂN QUẢ là luật của Trời Đất không chừa một ai. Ráng mở mắt mà coi.

Xem Thêm

Đề bài :TQ nói quan chức Mỹ 'vô đạo đức, vô trách nhiệm' khi đổ lỗi về dịch

My la nuoc VO DAO DUC ! Nhung My : khong giet nguoi lay noi tang dem ban . Khong tan sat dan chung Thien an mon khong san xuat virus de giet hai dan. Khong dam cha,chem chu,be dang giet nguoi va My thuong ton phap luat,dan chu phap tri.

Xem Thêm

Đề bài :Tổng thống DONALD TRUMP DIỄN KỊCH !

Đọc xong , cảm khái cách gì. Nhìn Tổng Thống Trump mà nhớ đến mấy câu Kiều: ...Râu hùm, hàm én,mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài...

Xem Thêm

Đề bài :Thế giới hôm nay: 19/03/2020

Thoi gian cua su gian lan,loi dung de vinh than phi da:da het.Gio day phai doi lai SU CONG BANG cho nuoc My,cho nhung nguoi da e lung dong thue cho nhung chinh tri gia salon,song tren ao tuong va xuong mau cua nhung nguoi dan luong thien.Chi la su DOI HOI CONG BANG ma thoi,cho he bat chet-cuong ep va nhung hanh vi bat chinh khac de doi su LOI LOC cho minh.Nhung ke quen an tren xuong mau cua dan chung My lai dau long vi mat mieng an hoi oi tu cua kho vo tan cua Hiep Chung Quoc,va the la long lon,Phung mang tron mat de doa va san sang bat tay voi ke thu de triet ha nguoi da tro giup dat nuoc+dan toc minh suot thoi the chien 2 va lam o du che cho,bao ve tu 1945-2019.Hoi oi!nhung ke BAC LONG hi hung lai vuong phai bon tuong cuop china virus Mo mat nhe bon phan thung,bon chinh khach salon song tren nhung lua xuong mau cua dan chung dong thue.Luat cong bang cua THUONG DE phai duoc thi hanh doi nay hoac doi sau.Luat nay von tu nhien ma co,khong boi My,khong boi Trump nhung la y muon cua Dang TOI CAO ma co/

Xem Thêm

TIN MỚI

CHÂN TƯỚNG CỦA PHE DÂN CHỦ và CỘNG HOÀ - Tác giả: Wayne Nguyen

Kể từ năm 1984 đến nay, các ứng cử viên tổng thống Mỹ của đảng DC đều học trướng luật, mặc dù chỉ có Al Gore là không tốt nghiệp .

Xem Thêm

TÓC VƯƠNG ÁO TRÀNG. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Khăn lam che khổ não Tiền thân chốn hoang đàng

Xem Thêm

Thái Anh Văn. Người phụ nữ khắc tinh của Tập Cận Bình.

Trong một tuyên bố mới đây của bà Thái Anh Văn tại Đài Loan rằng Đài Loan sẽ cung cấp hầu hết thuốc men dụng cụ y tế supplier mà thế giới đang cần

Xem Thêm

CÓ NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM GÓP PHẦN LÀM CHO NƯỚC MỸ VĨ ĐẠI!!!

Các nhân viên và tình nguyện viên của Zen Nails đến nay đã làm được 2.000 khẩu trang, đồ che mặt và áo choàng y tế. Và tất cả đã được trao tặng lại.

Xem Thêm

Thế giới hôm nay: 02/04/2020

Thị trường chứng khoán toàn cầu rung lắc trong ngày đầu của quý mới sau khi Tổng thống Donald Trump cảnh báo ảm đạm rằng có tới 240.000 người Mỹ có thể chết vì covid-19. S&P 500

Xem Thêm

NHỮNG TIN VỊT CỒ VỀ TT TRUMP - Tác giả Vũ Linh

Trong thời gian qua, hàng loạt tin vịt cồ -fake kews- đã được tung ra, một phần không nhỏ từ TTDC cố tình muốn khai thác COVID như một vũ khí chính trị đánh TT Trump trong mùa bầu cử.

Xem Thêm

ĐAU LÒNG.

TẤM ẢNH HÔM NAY = MỘT VỊ BÁC SĨ ANH HÙNG

Xem Thêm

DẶN DÒ. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Cũng đừng bao giờ nói Tuổi em với mọi người

Xem Thêm

“Ngày thần tiên em bước lên ngôi” (1)

Câu chuyện thế này, tháng trước, Haidee Janetzki, một phụ nữ 33 tuổi ở thành phố Toowomba tiểu bang Queensland bên Úc, đặt mua trên mạng 48 cuộn giấy vệ sinh gửi về địa chỉ nhà cô

Xem Thêm

WHAT A BITCH!

Gian ác thật. Hillary!

Xem Thêm