Văn Học & Nghệ Thuật

Nhìn lại những chặng đường của “Ban Hợp ca Thăng Long”

Ban nhạc đã trở thành huyền thoại


Nếu nói về một ban nhạc danh tiếng nhất trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, hầu hết giới chuyên môn, giới ca sĩ, nhạc sĩ và khán giả đều công nhận đó là ban hợp ca Thăng Long, với nòng cốt là 3 tên tuổi đã trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viêm).
Từ trái qua: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh – Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)
 
Trong 3 người thì Hoài Trung có vẻ kém danh tiếng hơn, nhưng khán giả vẫn chưa thể nào quên một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Ông cũng có tài chọc cười nên cứ thấy ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã cười ồ.
Ngoài 3 cái tên chủ chốt này, thỉnh thoảng ban Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ Hoài Bắc) và cả nhạc sĩ Phạm Duy – là một trong những ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc


Đại gia đình Thăng Long: hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung, 
hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh
 
Điều đặc biệt của ban Thăng Long là các thành viên đều là những anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và 1 người con gái đã không may qua đời sớm khi đi tản cư ở Sơn Tây.
Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.
Từ trái qua: Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng
 
Khi đặt chân vào đến phương Nam, những anh chị em nhà họ Phạm muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát, họ đã chọn cái tên Thăng Long, gợi nhớ về vùng đất Hà Nội, là cố hương gốc gác của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thời thanh xuân của các anh chị em họ Phạm ở vùng tản cư.
Để nói rõ hơn về nguồn gốc của cái tên Thăng Long, hãy cùng đi ngược về quá khứ vào những năm đầu thập niên 1940, khi ông Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội và mở một cửa hàng bán mứt và ô mai ở phố Bạch Mai tên là Mai Lộc. Thuở đó có một câu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai và đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi, và Thái Thanh lúc đó mới 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn thâm giao thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.
Đến năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư, ông bà Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái ra vùng Sơn Tây (Lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ đã lấy vợ là Kiều Hạnh và không đi cùng), sau đó dừng chân ở một vùng xuôi gọi là Chợ Đại. Tại đây, ông Phụng mua lại một cái quán và đặt tên là Quán Thăng Long, bán các món phở và cà phê. Trong những người con của ông bà Phụng có cô gái tên là Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy sau này. Thái Hằng cùng với quán cà phê Thăng Long này đã trở thành nhân vật chính trong ca khúc nổi tiếng Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân.
Phạm Duy và Thái Hằng khi còn trong chiēn khu
 
Trong hồi ký Phạm Duy, ông kể lại:
“Tại Quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ trong việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên là Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitare hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tới tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới Quán Thăng Long, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài hát tỏ tình…”
Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát với tên là Băng Thanh) đều gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên Khu IV, hai ông bà chủ quán Thăng Long quyết định rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hóa để được sống gần gũi các con. Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, thuê lại căn nhà lá và mở một quán phở, vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.
Những anh chị em và dâu rể nhà Thăng Long. Hàng đứng, từ trái sang: Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), 
Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Đình Sỹ. Hàng ngồi: Phạm Duy, Thái Hằng, Kiều Hạnh, Thái Thanh
 
Tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm quyết định “dinh tê” về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy đã cưới Thái Hằng, Phạm Đình Sỹ đã cưới Kiều Hạnh, sinh ra Mai Hương và cùng đi chung. Chỉ 1 tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào vùng đất hứa Sài Gòn để định cư. Tại đây những anh em nhà họ Phạm, mà nòng cốt là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Thanh thành lập ban nhạc lấy tên là Thăng Long, đặt theo tên quán phở gia đình ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.
Rồi cũng trong một tâm trạng lưu luyến về dĩ vãng chưa xa lắm, Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Còn cô út Băng Thanh chính thức lấy nghệ danh là Thái Thanh cho giống với người chị Thái Hằng.
Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh
 
Lúc này Thái Hằng đã lập gia đình, bận bịu con nhỏ nên không thể theo hát cùng ban Thăng Long thường xuyên, mà chỉ thỉnh thoảng góp mặt. Tương tự là Khánh Ngọc – vợ của Hoài Bắc. Vì vậy nòng cốt của ban Thăng Long thành lập từ những năm 1950 cho đến năm 1975 chỉ là 3 cái tên Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh. Thời gian đầu họ đến cộng tác với đài phát thanh Pháp Á ở đại lộ de La Somme, mà sau này được đặt lại tên thành Hàm Nghi, ở gần góc đường với đường Công Lý. Ban Thăng Long thành công ngay lập tức mà lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác “cây nhà lá vườn” bởi 2 tên tuổi lừng danh là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, mang được tính thời đại một cách sắc nét.
Thái Thanh – Hoài Bắc – Hoài Trung trong ban Thăng Long
 
Ngoài thù lao hát ở đài phát thanh và phòng trà vốn còn rất hạn chế ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, thì ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu là tiền thu thanh trong đĩa nhạc, lúc này vẫn còn là đĩa đá, chứ chưa có dĩa nhựa (vinyl) như sau này.
Ban Thăng Long cũng là một trong những ban nhạc/ca sĩ đầu tiên trình diễn theo hình thức phụ diễn ở rạp chiếu bóng. Nghĩa là các ca sĩ lên hát tân nhạc (gọi là phụ diễn) cho khán giả nghe trước khi phim bắt đầu được chiếu. Đầu tiên là rạp Nam Việt ở chợ cũ góc đường de la Somme và Chaigneau (sau này là Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm), lối phụ diễn này của ban Thăng Long thành công ngay lập tức. Ngay sau đó là rạp Văn Cầm ở Chợ Quán, rạp Khải Hoàn và Thanh Bình ở khu chợ Thái Bình – Quận Nhứt liên tục mời ban hợp ca Thăng Long đến phụ diễn.
Thời điểm đó người Sài Gòn vẫn rất mê cải lương, nhưng tân nhạc bắt đầu được ưa chuộng, mà sân khấu đầu tiên chính là ở các rạp chiếu bóng, vì những người đi xem phim chiếu rạp như vậy đa số là dân Tây học rất thích tân nhạc, nên ban Thăng Long có dịp giới thiệu hàng loạt những sáng tác của Phạm Đình Chương, Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ thời tiền chiến khác.
Ban Thăng Long lúc này có thêm Khánh Ngọc (áo đậm) và Thái Hằng (áo trắng)
 
Từ lối hát phụ diễn này, thừa thắng xông lên, ban Thăng Long tổ chức những Đại Nhạc Hội hát tân nhạc ở các rạp vốn được xem là “lãnh địa” của cải lương như rạp Nguyễn Văn Hảo hay Aristo. Lúc này không chỉ là hát phụ diễn nữa mà chương trình ca diễn của ban Thăng Long phong phú hơn nhiều. Các màn đơn ca, hợp ca, hay nhạc cảnh của ban Thăng Long cùng các nghệ sĩ khác được mời tới diễn chung, như Trần Văn Trạch, Phi Thoàn, Xuân Phát, và cả ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng (sau này gắn bó với Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ).
Click để nghe Ban Hợp Ca Thăng Long hát trong băng Sơn Ca 10 năm 1974
Với những hoạt động tân nhạc sôi nổi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo đến Sài Gòn từ xứ Bắc, có thể nói ban hợp ca Thăng Long đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển tân nhạc ở Sài Gòn thập niên 1950.
“Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người có thời gian cộng tác cùng ban Thăng Long kể lại: “Mỗi xuất hiện của Ban Hợp Ca Thăng Long là một cơn nóng sốt đối với bà con khán giả miền Nam. Cách trình diễn, bài vở họ chọn, ngôn ngữ họ dùng… như một điều gì vừa gợi óc một tò mò, vừa mới mẻ, quyến rũ, lại cũng vừa thân thiết như một vật quý đã mất từ lâu, nay tìm lại được…”
Đạt được thành công to lớn ở phía Nam, những anh chị em nhà họ Phạm bắt đầu “Bắc tiến”, mà thực ra là sự trở về Thăng Long của ban nhạc mang tên Thăng Long, lúc này cùng theo đoàn hát mang tên là Gió Nam, với ý nghĩa là một làn gió mới đến từ phương Nam để đi trình diễn ở Hà Nội. Vì Nhà Hát Lớn giới hạn về không gian, nên rất nhiều thanh niên không mua được vé, phải trèo qua cửa sổ để nghe Gió Nam hát. Trong những người thanh niên đó có Lê Quỳnh, lúc đó hãy còn rất trẻ và hâm mộ tiếng hát Thái Thanh cuồng nhiệt. Đến sau này, khi di cư vào Sài Gòn năm 1954 và trở thành nam tài tử nổi tiếng bậc nhất Miền Nam, ông đến hỏi cưới Thái Thanh và được gia đình ông Phạm Đình Phụng đồng ý.
Ban Hợp Ca Thăng Long đứng trên đỉnh cao cho đến đầu thập niên 1960 thì có một sự cố đau lòng diễn ra trong nội bộ gia đình họ Phạm đã làm rúng động báo giới Sài Gòn. Vụ việc này có thể ai cũng đã rõ nên xin không tiện nói, chỉ biết rằng sau tai tiếng này, cuộc đời Phạm Đình Chương bước sang một giai đoạn khác. Chia tay vợ với vết thương lòng to lớn, ông sống những ngày gần như cắt đứt mọi sự liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn với 1 vài bằng hữu thân thiết. Gia đình Phạm Duy cũng rời đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan để về cư xá Chu Mạnh Trinh.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc
 
Từ thập niên 1960 trở về sau, Hoài Bắc – Phạm Đình Chương sáng tác rất ít, nếu có thì cũng là những ca khúc u sầu như Người Đi Qua Đời Tôi, Khi Cuộc Tình Đã Chêt, hay Nửa Hồn Thương Đau. Nhiều người nói rằng ca khúc Nửa Hồn Thương Đau được ông viết ngay sau khi chia tay Khánh Ngọc, nhưng sự thật không phải vậy. Dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài, và ông chỉ sáng tác Nửa Hồn Thương Đau sau đó đúng 10 năm (1970) và được giới thiệu trong cuốn phim điện ảnh Chân Trời Tím qua tiếng hát Thái Thanh, được lồng vào phần trình diễn của minh tinh Kim Vui trong phim.
Cũng từ thập niên 1960, dù không hoạt động sôi nổi như trước, nhưng Ban Hợp Ca Thăng Long vẫn thu băng dĩa và trình diễn ở phòng trà Đêm Màu Hồng do Hoài Bắc Phạm Đình Chương mở ở Hotel Catinat có 2 mặt tiền đường, số 69 Tự Do và số 36 Nguyễn Huệ.
Hotel Catinat
 
Cuối năm 1974, ban Thăng Long cùng giọng ca Thái Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện riêng một băng nhạc duy nhất, đó là Sơn Ca 10.
Sau năm 1975, thời cuộc đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Thái Thanh kẹt lại ở Việt Nam trong 10 năm, từ 1975 đến năm 1985. Trong thời gian đó, Hoài Trung và Hoài Bắc kết hợp cùng cháu ruột là ca sĩ Mai Hương (con của Phạm Đình Sỹ) thành lập ban Thăng Long hải ngoại để trình diễn ở một vài sân khấu hải ngoại.
Ban Thăng Long ở hải ngoại, với Mai Hương thay thế cô ruột là Thái Thanh
 
Năm 1991, Hoài Bắc Phạm Đình Chương qua đời ở tuổi 62
Năm 2002, Hoài Trung Phạm Đình Viêm qua đời ở tuổi 83
Đến năm 2020, cô em út Thái Thanh – linh hồn của ban hợp ca Thăng Long cũng rời bỏ chúng ta. Tất cả những người đã tạo lập thành ban nhạc huyền thoại năm xưa nay đều đã thành người thiên cổ, nhưng tên tuổi và những đóng góp của họ dành cho tân nhạc vẫn trường tồn với thời gian.
Bài: Đông Kha
Bản quyền bài viết củanhacxua.vn
Tran Ngoc chuyen

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Nhìn lại những chặng đường của “Ban Hợp ca Thăng Long”

Ban nhạc đã trở thành huyền thoại


Nếu nói về một ban nhạc danh tiếng nhất trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, hầu hết giới chuyên môn, giới ca sĩ, nhạc sĩ và khán giả đều công nhận đó là ban hợp ca Thăng Long, với nòng cốt là 3 tên tuổi đã trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viêm).
Từ trái qua: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh – Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)
 
Trong 3 người thì Hoài Trung có vẻ kém danh tiếng hơn, nhưng khán giả vẫn chưa thể nào quên một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Ông cũng có tài chọc cười nên cứ thấy ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã cười ồ.
Ngoài 3 cái tên chủ chốt này, thỉnh thoảng ban Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ Hoài Bắc) và cả nhạc sĩ Phạm Duy – là một trong những ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc


Đại gia đình Thăng Long: hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung, 
hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh
 
Điều đặc biệt của ban Thăng Long là các thành viên đều là những anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và 1 người con gái đã không may qua đời sớm khi đi tản cư ở Sơn Tây.
Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.
Từ trái qua: Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng
 
Khi đặt chân vào đến phương Nam, những anh chị em nhà họ Phạm muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát, họ đã chọn cái tên Thăng Long, gợi nhớ về vùng đất Hà Nội, là cố hương gốc gác của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thời thanh xuân của các anh chị em họ Phạm ở vùng tản cư.
Để nói rõ hơn về nguồn gốc của cái tên Thăng Long, hãy cùng đi ngược về quá khứ vào những năm đầu thập niên 1940, khi ông Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội và mở một cửa hàng bán mứt và ô mai ở phố Bạch Mai tên là Mai Lộc. Thuở đó có một câu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai và đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi, và Thái Thanh lúc đó mới 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn thâm giao thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.
Đến năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư, ông bà Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái ra vùng Sơn Tây (Lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ đã lấy vợ là Kiều Hạnh và không đi cùng), sau đó dừng chân ở một vùng xuôi gọi là Chợ Đại. Tại đây, ông Phụng mua lại một cái quán và đặt tên là Quán Thăng Long, bán các món phở và cà phê. Trong những người con của ông bà Phụng có cô gái tên là Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy sau này. Thái Hằng cùng với quán cà phê Thăng Long này đã trở thành nhân vật chính trong ca khúc nổi tiếng Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân.
Phạm Duy và Thái Hằng khi còn trong chiēn khu
 
Trong hồi ký Phạm Duy, ông kể lại:
“Tại Quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ trong việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên là Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitare hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tới tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới Quán Thăng Long, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài hát tỏ tình…”
Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát với tên là Băng Thanh) đều gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên Khu IV, hai ông bà chủ quán Thăng Long quyết định rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hóa để được sống gần gũi các con. Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, thuê lại căn nhà lá và mở một quán phở, vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.
Những anh chị em và dâu rể nhà Thăng Long. Hàng đứng, từ trái sang: Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), 
Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Đình Sỹ. Hàng ngồi: Phạm Duy, Thái Hằng, Kiều Hạnh, Thái Thanh
 
Tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm quyết định “dinh tê” về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy đã cưới Thái Hằng, Phạm Đình Sỹ đã cưới Kiều Hạnh, sinh ra Mai Hương và cùng đi chung. Chỉ 1 tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào vùng đất hứa Sài Gòn để định cư. Tại đây những anh em nhà họ Phạm, mà nòng cốt là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Thanh thành lập ban nhạc lấy tên là Thăng Long, đặt theo tên quán phở gia đình ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.
Rồi cũng trong một tâm trạng lưu luyến về dĩ vãng chưa xa lắm, Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Còn cô út Băng Thanh chính thức lấy nghệ danh là Thái Thanh cho giống với người chị Thái Hằng.
Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh
 
Lúc này Thái Hằng đã lập gia đình, bận bịu con nhỏ nên không thể theo hát cùng ban Thăng Long thường xuyên, mà chỉ thỉnh thoảng góp mặt. Tương tự là Khánh Ngọc – vợ của Hoài Bắc. Vì vậy nòng cốt của ban Thăng Long thành lập từ những năm 1950 cho đến năm 1975 chỉ là 3 cái tên Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh. Thời gian đầu họ đến cộng tác với đài phát thanh Pháp Á ở đại lộ de La Somme, mà sau này được đặt lại tên thành Hàm Nghi, ở gần góc đường với đường Công Lý. Ban Thăng Long thành công ngay lập tức mà lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác “cây nhà lá vườn” bởi 2 tên tuổi lừng danh là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, mang được tính thời đại một cách sắc nét.
Thái Thanh – Hoài Bắc – Hoài Trung trong ban Thăng Long
 
Ngoài thù lao hát ở đài phát thanh và phòng trà vốn còn rất hạn chế ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, thì ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu là tiền thu thanh trong đĩa nhạc, lúc này vẫn còn là đĩa đá, chứ chưa có dĩa nhựa (vinyl) như sau này.
Ban Thăng Long cũng là một trong những ban nhạc/ca sĩ đầu tiên trình diễn theo hình thức phụ diễn ở rạp chiếu bóng. Nghĩa là các ca sĩ lên hát tân nhạc (gọi là phụ diễn) cho khán giả nghe trước khi phim bắt đầu được chiếu. Đầu tiên là rạp Nam Việt ở chợ cũ góc đường de la Somme và Chaigneau (sau này là Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm), lối phụ diễn này của ban Thăng Long thành công ngay lập tức. Ngay sau đó là rạp Văn Cầm ở Chợ Quán, rạp Khải Hoàn và Thanh Bình ở khu chợ Thái Bình – Quận Nhứt liên tục mời ban hợp ca Thăng Long đến phụ diễn.
Thời điểm đó người Sài Gòn vẫn rất mê cải lương, nhưng tân nhạc bắt đầu được ưa chuộng, mà sân khấu đầu tiên chính là ở các rạp chiếu bóng, vì những người đi xem phim chiếu rạp như vậy đa số là dân Tây học rất thích tân nhạc, nên ban Thăng Long có dịp giới thiệu hàng loạt những sáng tác của Phạm Đình Chương, Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ thời tiền chiến khác.
Ban Thăng Long lúc này có thêm Khánh Ngọc (áo đậm) và Thái Hằng (áo trắng)
 
Từ lối hát phụ diễn này, thừa thắng xông lên, ban Thăng Long tổ chức những Đại Nhạc Hội hát tân nhạc ở các rạp vốn được xem là “lãnh địa” của cải lương như rạp Nguyễn Văn Hảo hay Aristo. Lúc này không chỉ là hát phụ diễn nữa mà chương trình ca diễn của ban Thăng Long phong phú hơn nhiều. Các màn đơn ca, hợp ca, hay nhạc cảnh của ban Thăng Long cùng các nghệ sĩ khác được mời tới diễn chung, như Trần Văn Trạch, Phi Thoàn, Xuân Phát, và cả ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng (sau này gắn bó với Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ).
Click để nghe Ban Hợp Ca Thăng Long hát trong băng Sơn Ca 10 năm 1974
Với những hoạt động tân nhạc sôi nổi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo đến Sài Gòn từ xứ Bắc, có thể nói ban hợp ca Thăng Long đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển tân nhạc ở Sài Gòn thập niên 1950.
“Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người có thời gian cộng tác cùng ban Thăng Long kể lại: “Mỗi xuất hiện của Ban Hợp Ca Thăng Long là một cơn nóng sốt đối với bà con khán giả miền Nam. Cách trình diễn, bài vở họ chọn, ngôn ngữ họ dùng… như một điều gì vừa gợi óc một tò mò, vừa mới mẻ, quyến rũ, lại cũng vừa thân thiết như một vật quý đã mất từ lâu, nay tìm lại được…”
Đạt được thành công to lớn ở phía Nam, những anh chị em nhà họ Phạm bắt đầu “Bắc tiến”, mà thực ra là sự trở về Thăng Long của ban nhạc mang tên Thăng Long, lúc này cùng theo đoàn hát mang tên là Gió Nam, với ý nghĩa là một làn gió mới đến từ phương Nam để đi trình diễn ở Hà Nội. Vì Nhà Hát Lớn giới hạn về không gian, nên rất nhiều thanh niên không mua được vé, phải trèo qua cửa sổ để nghe Gió Nam hát. Trong những người thanh niên đó có Lê Quỳnh, lúc đó hãy còn rất trẻ và hâm mộ tiếng hát Thái Thanh cuồng nhiệt. Đến sau này, khi di cư vào Sài Gòn năm 1954 và trở thành nam tài tử nổi tiếng bậc nhất Miền Nam, ông đến hỏi cưới Thái Thanh và được gia đình ông Phạm Đình Phụng đồng ý.
Ban Hợp Ca Thăng Long đứng trên đỉnh cao cho đến đầu thập niên 1960 thì có một sự cố đau lòng diễn ra trong nội bộ gia đình họ Phạm đã làm rúng động báo giới Sài Gòn. Vụ việc này có thể ai cũng đã rõ nên xin không tiện nói, chỉ biết rằng sau tai tiếng này, cuộc đời Phạm Đình Chương bước sang một giai đoạn khác. Chia tay vợ với vết thương lòng to lớn, ông sống những ngày gần như cắt đứt mọi sự liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn với 1 vài bằng hữu thân thiết. Gia đình Phạm Duy cũng rời đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan để về cư xá Chu Mạnh Trinh.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc
 
Từ thập niên 1960 trở về sau, Hoài Bắc – Phạm Đình Chương sáng tác rất ít, nếu có thì cũng là những ca khúc u sầu như Người Đi Qua Đời Tôi, Khi Cuộc Tình Đã Chêt, hay Nửa Hồn Thương Đau. Nhiều người nói rằng ca khúc Nửa Hồn Thương Đau được ông viết ngay sau khi chia tay Khánh Ngọc, nhưng sự thật không phải vậy. Dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài, và ông chỉ sáng tác Nửa Hồn Thương Đau sau đó đúng 10 năm (1970) và được giới thiệu trong cuốn phim điện ảnh Chân Trời Tím qua tiếng hát Thái Thanh, được lồng vào phần trình diễn của minh tinh Kim Vui trong phim.
Cũng từ thập niên 1960, dù không hoạt động sôi nổi như trước, nhưng Ban Hợp Ca Thăng Long vẫn thu băng dĩa và trình diễn ở phòng trà Đêm Màu Hồng do Hoài Bắc Phạm Đình Chương mở ở Hotel Catinat có 2 mặt tiền đường, số 69 Tự Do và số 36 Nguyễn Huệ.
Hotel Catinat
 
Cuối năm 1974, ban Thăng Long cùng giọng ca Thái Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện riêng một băng nhạc duy nhất, đó là Sơn Ca 10.
Sau năm 1975, thời cuộc đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Thái Thanh kẹt lại ở Việt Nam trong 10 năm, từ 1975 đến năm 1985. Trong thời gian đó, Hoài Trung và Hoài Bắc kết hợp cùng cháu ruột là ca sĩ Mai Hương (con của Phạm Đình Sỹ) thành lập ban Thăng Long hải ngoại để trình diễn ở một vài sân khấu hải ngoại.
Ban Thăng Long ở hải ngoại, với Mai Hương thay thế cô ruột là Thái Thanh
 
Năm 1991, Hoài Bắc Phạm Đình Chương qua đời ở tuổi 62
Năm 2002, Hoài Trung Phạm Đình Viêm qua đời ở tuổi 83
Đến năm 2020, cô em út Thái Thanh – linh hồn của ban hợp ca Thăng Long cũng rời bỏ chúng ta. Tất cả những người đã tạo lập thành ban nhạc huyền thoại năm xưa nay đều đã thành người thiên cổ, nhưng tên tuổi và những đóng góp của họ dành cho tân nhạc vẫn trường tồn với thời gian.
Bài: Đông Kha
Bản quyền bài viết củanhacxua.vn
Tran Ngoc chuyen

BẢN TIN MỚI NHẤT

HAI NGƯỜI THẦY - Nguyễn thị Bích Hậu

Nhân chuyện " mấy ông thầy" làm sách giáo khoa cố sống cố chết bào chữa cho những sai lầm tệ hại và to lớn của mình, một cách bất cố liêm sỉ.

Xem Thêm

QUÁ QUAN MỘNG. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Mình qua tam đảo, ngũ hồ Nên thân phận cũng đôi bờ vắng nhau

Xem Thêm

TẢN MẠN VỀ NGƯỜI VIỆT TẠI TRUNG HOA

Người Việt tại Trung Hoa còn được gọi là Kinh Tộc ước tính có khoảng 22.000 người (theo số liệu thống kê năm 2000)

Xem Thêm

ÔNG BIẾT TÔI LÀ AI KHÔNG? Bùi Bảo Trúc

Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn hai mươi lăm năm trước.

Xem Thêm

Mẹ Việt Nam và hũ mắm Tiên Lãng - Nguyễn Bá Chổi.

(HNPD) Mẹ Việt Nam và hũ mắm Tiên Lãng - Nguyễn Bá Chổi.

Xem Thêm

Thấy bóng thiên đường Cuối trời thênh thang - Trần Văn Giang

Tôi không biết là người chết có “thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang hay không,”

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Người Việt lớn tuổi qua Mỹ tại sao bị ghét ?

Thoi vang son nay sap cham dut.Khong quoc tich.khong di lam,khong dong thue thi c/p van cho lanh,nhung de vao nguoi bao lanh.Va con nhung dieu truoc kia thi hanh long leo.Nay luat that chat vi vay....chong Trump.

Xem Thêm

Đề bài :Máy bay trinh sát Mỹ hoạt động dày đặc trên Biển Đông

My cang bay,tau cong cang quynh.No theo doi minh ngay dem,chi can chut xiu thay doi no biet lien va dieu chinh cap ky.Cai nay goi la nhat ky hanh quan ! Toi chung dot nhien no vang bong la chay xuong ham khong kip.Gioi huyenh hoang-thi gioi nha thu xem sao.My von la con HO GIAY ma,Bo doi nhan dan lai so HO GIAY ? quoc te va dan em ut no cuoi vao mat cho !

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt lớn tuổi qua Mỹ tại sao bị ghét ?

Bai viet rat hay ,dung vao tinh trang cua nhieu ong ba o My

Xem Thêm

Đề bài :Anh Hùng hay là quỷ?

Úi trời ..Nhờ báo đảng và NNVC cho đăng những bài báo tuyên xưng những vị anh hùng VC..Làm cả thê giới ngưỡng mộ..Còn chuyện kể về hạnh phúc của đ/c này, nhà báo quên kể...?? đó là phu nhân của đ/c Thuyên là nữ du kích anh hùng Nguyên thị Năm xứ miệt vườn miền tây Nam bộ, bà này cũng nhiệt tình phục vụ Đ/NN lắm, và can đảm không kém anh Thuyên..Đặc biệt chị có tài thẩy lựu đạn từ xa hơn trăm mét mà chị ném lựu đạn ngay trọc miệng súng của tăng, làm hơn chục xe tăng của MỸ Ngụy tiêu đời....bi thương nặng mà cũng chèo ghe gạo về tới mật khu tiếp tế cho kháng chiến..?? Thật là một cặp đôi hoàn hảo.. Chuyên này nhà báo kể chưa hết, ông Thuyên này còn có môt người anh em làm du kich, khi đi công tác bị bể, bị lính và trực thăng quần qúa , đợi dịp trực thăng xả xuống quan sát, đ/c anh hùng bèn chồm lên, nắm được càng trực thăng vặt ngay cái trực thâng té nghiêng, lợi dụng đó đ/c du kịch tăng cho trái lựy đạn làm trực thăng cháy rụi,tiêu đời tên giặc lái... thấy cháy, đám trực thăng khác bu lại cứu nan, thế là đ/c du kích cứ từ từ bắn tiả cả chục chếc máy bay lên thăng cũa địch rớt cháy như xung rụng...địch bỏ chạy, đ/c và cả toán rút về an toàn khu ngon lành... Ngoài ra đ/c Thuyên còn có ṃột ông chú tài hơn nữa, sống tại miền Bắc, đ/c làm nghề chăn bò, vì bị tư sãn bóc lột, không được học hành, nhưng có tinh thần yêu Bác/Đảng, nên được đảng nâng đỡ cho đi học, nhờ thông minh nên đ/c học rất gỉỏi có ̃7 ngày xong 7 lớp, nên được điều đi học lái máy bay chiến đấu..trong xuốt thời gian phục vu đ/c đã hạ được 7 chiếc conma, nên anh em đật cho đ/c cái tên là ông Bẩy phi công...Đ/c kể chiến thắng vui nhất là khi đ/c cho máy bay nấp trong mây, thấy máy bay Mỹ lưỡt qua, là đ/c mở máy rượt theo, và bắn hạ một chú Côma ngay tức thì, xui cái là đán máy bay địch phía sau nó bắn lại phi cơ của đ/c, và phi cơ bị lủng nhiều chỗ, đ/c bẩy phải một tay lái máy bay, một tay bịt lỗ kính bị bể, cho không bị gío cản trở, nên đưa được máy bay về phi trường an toan, trong sự hoan hô nồng nhiệt của các đ/c trong đội.... VN ta thật thần kỳ có qúa nhiều anh hùng phi phàm làm cả thế giới ngả mũ ngưỡng mộ vì bài báo nào cũng có hình ảnh chứng thực, còn bọn trẻ trâu trong nước đọc xong chuyện, chúng nó không chịu học tập gương anh hùng mà cứ xì xào với Đừ Mờ tụi nó.... thời này mà nó coi tụi tao như củ cải sao..??

Xem Thêm

Đề bài :NGƯỜI ĐÀN BÀ THÔNG MINH

Toi tin nhung gi ma bang tieu su ,va nhung nhan xet cua tat ca moi nguoi ve tu cach cua ba Amy. Tai sao ? Amy la tham phan,luong huong khong te,quyen loi khong thieu, nhung hay nhin cach phuc suc cua Amy,dau toc va tren het,hay nhin ban tay da dua co quyen tap ghi chu.Ban tay khong got dua,tat ca cac mong tay deu cat gon,khong son phet xanh do.Ban tay cua nguoi phu nu noi tro,cham soc gd va con cai.Roi ban so sanh ban tay cua cac nu luu luong vien quoc hoi,khac mot troi , mot vuc.Va vi vay ! toi tin tuong o ba + duc tin ma ba co duoc !

Xem Thêm

Đề bài :Mộng du - Hà Thượng Thủ

Anh NTNhân này Mộng qúa hóa Điên....Trong thời gian qua, anh ta nắm nhiều chức vụ mà chẳng thấy cái thành qủa nào nên hồn..??.Tòan hứa và hứa... ""Tôi là người Nam nói giọng Bắc, tôi không lừa bà con đâu..."" Rút cục Tôi là Tổ Sư Lừa và Bịp có hạng số má....!!! Một đất nước mà nguồn sản xuất đều phụ thuộc vào nguồn tiếp tế ngoại ( TQ-HQ..vv..VV)..VN thực chất chỉ làm gia công gía rẻ mà đòi thu nhập đầu người VN là 40 ngàn USD vào năm 2045...?? lúc đó anh chết r̀ồi thì dân lấy đâu ra có 40 ngàn đô.. hay chạy theo đám ma anh mà lượn giấy đôla âm phủ...??? Làm ăn thì lươn lẹo theo phong cách Hợp tác Xã mà đòi TPHCM trở thành TT KTTC của ĐNA... điều này mới Mơ dữ ạ... Có chuyện trước mắt TPHCM bị ngập lụt vì mưa, vì triều cường mà đã bao năm hứa sẽ giải quyết, tiêu tốn bao nhiêu tiền dân và tiền viện trợ mà năm nay sửa được một điểm , năm tới lại thêm..10 điểm lụt lột khác..?? Tóm lại càng sửa càng tệ thêm..? CS anh nào miệng thì hứa dẻo quẹo, cho qua kỷ hạ cánh anh toàn là được... Hậu qủa dân chịu chứ mấy anh đã vi vu trời tây rồi....Dân Việt ngộ thiệt nhiều lãnh đạo cho ăn bánh vẽ, bịp dài dài trong mọi tình huống, mà vẫn còn nhiều người tin , không kể đám bò đỏ/ dlv/ bưng bô/tung hô/ là đương nhiên vì là job của chúng , phải làm để kiếm cơm...

Xem Thêm

Đề bài :Vĩnh Biệt Cố Đô Đốc Vũ Đình Đào

Bộ Binh, Không Quân, TQLC, Nhẩy Dù có sĩ quan cấp Tướng, khi goi Tướng Thiệu, Tướng Tỵ, Tướng Nguyễn Khoa Nam là cách gọi chung cho sĩ quan cấp tướng.  Hải Quân gọi các sĩ quan cấp tướng là cấp Đô Đốc.  Phó Đề Đốc, Đề Đốc, Phó Đố Đốc, Đô Đốc, Thủy Sư Đô Đốc đếu là sĩ quan cấp Đô Đốc. là một vinh dự cho họ.

Xem Thêm

Đề bài :Vĩnh Biệt Cố Đô Đốc Vũ Đình Đào

Sao từ Phó Đề Đốc lên tới Đô Đốc lẹ vậy hả các ông ? Các ông đặc cách một lúc 3 cấp mà có hỏi ý của người quá cố chưa vậy ?

Xem Thêm

Đề bài :HO 8

Ông này viết chưa hết chuyện.....?? sướng khổ thế nào...?? trước và sau phỏng vấn...?? sang Mỹ cảm tưởng ra sao...?? Không viết rõ vì sợ không được trở lại VN...???

Xem Thêm

TIN MỚI

HAI NGƯỜI THẦY - Nguyễn thị Bích Hậu

Nhân chuyện " mấy ông thầy" làm sách giáo khoa cố sống cố chết bào chữa cho những sai lầm tệ hại và to lớn của mình, một cách bất cố liêm sỉ.

Xem Thêm

QUÁ QUAN MỘNG. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Mình qua tam đảo, ngũ hồ Nên thân phận cũng đôi bờ vắng nhau

Xem Thêm

TẢN MẠN VỀ NGƯỜI VIỆT TẠI TRUNG HOA

Người Việt tại Trung Hoa còn được gọi là Kinh Tộc ước tính có khoảng 22.000 người (theo số liệu thống kê năm 2000)

Xem Thêm

ÔNG BIẾT TÔI LÀ AI KHÔNG? Bùi Bảo Trúc

Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn hai mươi lăm năm trước.

Xem Thêm

Mẹ Việt Nam và hũ mắm Tiên Lãng - Nguyễn Bá Chổi.

(HNPD) Mẹ Việt Nam và hũ mắm Tiên Lãng - Nguyễn Bá Chổi.

Xem Thêm

Thấy bóng thiên đường Cuối trời thênh thang - Trần Văn Giang

Tôi không biết là người chết có “thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang hay không,”

Xem Thêm

Ðường dây buôn lậu ma túy Berlin–Hà Nội :

Bộ trưởng công an Việt Nam có dính líu

Xem Thêm

Chuyện thời sự: Miền Trung: Nước lũ dâng cao, hàng nghìn ngôi nhà bị ngập -Lão Phan.

(HNPD) Miền Trung: Nước lũ dâng cao, hàng nghìn ngôi nhà bị ngập

Xem Thêm

Mắm ruốc Thái

Mắm ruốc Thái là món nước chấm rất hot trong thời gian gần đây, dùng để chấm các loại trái cây chua chua là ngon số dách luôn.

Xem Thêm

ĐẤT LỞ . - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Bao nhiêu năm đủ thời tôi lớn Có thủa nào quên thiếu gió sương

Xem Thêm