Văn Học & Nghệ Thuật

Tân nhạc Việt Nam sau di cư và trước di tản

Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay,

QuynhGiao-TuongNiem

 

NHƯ MỘT LỜI CHIA TAY – BÀI VIẾT SAU CÙNG CỦA CA SĨ QUỲNH GIAO .
Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn…

QuynhGiao

(1946-2014)

 

Người Việt lãng mạn của chúng ta thường bị giằng xé với hai giấc mơ tương phản.
Sống tại vùng chật hẹp với giang hồ sông nước là sự cách trở, chúng ta mơ chân trời xa lạ “như lũ chim quyết tung trời mây”… Và dù có gặp “biển hồ mênh mông không nơi ngừng cánh tránh gió táp,” chúng ta vẫn “thề quyết ra đi từ đây.” Nhạc sĩ Lâm Tuyền ghi lại cho tiềm thức chung cái giấc mơ đó.
Thế rồi, khi đã toại lòng với “bao năm qua ta sống giang hồ xa quê nhà, nơi xa xôi muôn ý phiêu lưu dâng cho đời,” thì cũng chính tâm hồn lãng mạn ấy hát khúc ngày về. Giấc mơ hồi hương là phần tương phản của cái chí tung hoành đi tìm đất lạ.
Nếu đọc lại nhiều bài viết của Vũ Hoàng Chương thì có thể mường tượng ra giấc mơ giang hồ đó. Nó trải rộng trong hồn thơ chứ vẫn thu hẹp vào khoảnh đất nhỏ xíu. Từ Nam Ðịnh đến Hà Nội đã là một phiêu lưu. Lên tới núi rừng Việt Bắc thì đấy là cõi bạt ngàn!…
Quỳnh Giao nhắc lại Lâm Tuyền hay Vũ Hoàng Chương vì nhớ tuổi ấu thơ thao thức của mình khi sắp được đi Vũng Tầu! Lên tới Ðà Lạt thì đã tựa như vào Thiên Thai trong cổ tích….
Thế rồi một biến cố đã giập giấc mơ vào thực tại. Với nhiều người thì đấy là cơn ác mộng.
Hiệp định Genève năm 1954 chia đất nước ra hai vùng giới tuyến làm nhiều người phải giang hồ thật! Phong trào di cư từ Bắc vào Nam là biến cố lớn lao nhất thế kỷ, cho đến ngày có cuộc di tản năm 1975 và sau đó.
Nền tân nhạc cải cách Việt Nam xuất phát đầu tiên từ trong Nam vào quãng 1938-1940. Rồi bùng phát và trưởng thành là ở ngoài Bắc trong thời kỳ 1945-1954. Ðấy là giai đoạn hào hùng mà lãng mạn với rất nhiều ca khúc trữ tình. Rồi cuộc di cư 54 là một giao động lớn trong thế giới tân nhạc ấy…..
Chúng ta có những nhà soạn nhạc đã thành danh ở miền Bắc. Phần lớn trong số này cũng là nhạc công, là nhạc sĩ trình diễn chuyên nghiệp với một hay nhiều nhạc cụ. Những người vào Nam từ trước chỉ là một thiểu số hiếm hoi. Sớm nhất thì có Lê Thương từ năm 1941, trễ hơn chục năm thì có Phạm Duy và Phạm Ðình Chương trong “gia đình Thăng Long.”
Phong trào di cư từ 1954 mới xô đẩy đa số còn lại vào Nam và làm thay đổi không khí tân nhạc.
Các nhạc sĩ tên tuổi từ miền Bắc có Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Ngọc Bích, Hoàng Trọng và Vũ Thành. Những nhạc sĩ kế tiếp nổi danh như cồn ở trong Nam thì có Ðan Thọ, Nguyễn Hiền hay Nhật Bằng, Cung Tiến. Phải gõ chữ vân vân vì nhiều lắm. Những người còn ở lại miền Bắc, như Văn Cao, Hoàng Giác, Hoàng Phú, Tô Vũ hay Ðoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Tý thì hết viết… như cũ.
Nhớ lại chuyện 60 năm trước, chúng ta tự hỏi là lớp nhạc sĩ di cư đã sáng tác những gì sau đó?
Trong mọi cơn chấn động bàng hoàng, con người chúng ta chỉ là lũ trẻ thơ. Hãy nhìn bầy trẻ khi chúng hãi sợ, hoặc gặp điều phật ý mà khó hiểu. Có những đứa thì hờn lẫy giẫy giụa, nhưng cũng có đứa lặng người không thể gào khóc. Còn gào thét là còn tin rằng ai đó sẽ phải lo cho mình, chứ nếu lặng người nín thinh thì đấy là lúc đứa trẻ bần thần tuyệt vọng nhất. Sau cơn chấn động như 1954 hay 1975, chúng ta đều lặng người trong tê tái.
Nhưng các nhạc sĩ của chúng ta lại khác bầy trẻ. Họ không nín lặng mà khóc bằng nhạc. Cảm hứng viết nhạc hoài hương có sẵn trong tâm khảm đã từ biến cố 54 đưa tới nhiều ca khúc về cố hương. Không kể những bài đã có từ trước như “Ôi Quê Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Tình Hoài Hương” của Phạm Duy hay “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, chúng ta nhớ lại “Khóc Biệt Kinh Kỳ” và “Bên Bờ Ðại Dương” của Hoàng Trọng, “Xa Quê Hương” của Ðan Thọ, “Bóng Quê Xưa” của Nhật Bằng và “Tìm Về Bến Xưa” hay “Thanh Bình Ca” của Nguyễn Hiền, v.v….
Ðan Thọ và Nguyễn Hiền là hai nhạc sĩ có nhiều tác phẩm về nỗi hoài niệm quê hương đã mất kể từ thời 54.
Ngày nay, Ðan Thọ vẫn còn và có lẽ không quên sự thổn thức của 60 năm trước.
Ngồi nhớ và nghe lại thì sau biến cố Genève 54, các nhạc sĩ của chúng ta còn bị giằng xé theo một cách khác. Nhiều người vẫn tin vào một ngày trở về.
“Giấc mơ hồi hương” của Vũ Thành là tác phẩm đẹp nhất của đề tài này. Ngoài lời một được gợi lên từ một bài thơ, lời hai của chính tác giả trong điệp khúc có âm điệu khải hoàn ca: “ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang” vì đấy là lúc giấc mơ đã thành, là “cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương.”…
Người khác thì khám phá và hát mừng sự bao la choáng ngợp của miền đất mới.
Vào Nam từ trước, Phạm Ðình Chương sớm ngợi ca miền Nam đôn hậu từ hình ảnh Cửu Long của trường ca Hội Trùng Dương. Rồi qua năm 1955, ông chấm nơi này là “Ðất Lành” và hát về mối tình Nam-Bắc một nhà: “Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa. Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu. Ðồi nương thương sức cần lao, se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu”…
Cũng trong dòng nhạc đó, trường ca “Con Ðường Cái Quan” do Phạm Duy thai nghén từ năm 54 tại Paris và hoàn thành về sau ở trong Nam đã có những giai điệu “tốt tươi” nhất – chữ “tốt tươi” là của ông – là từ đoạn 16 trở về sau, khi chàng lữ khách mơ giấc hải hồ vào tới trong Nam!
Trong số nhạc sĩ di cư, Hoàng Trọng nổi danh từ đất Nam Ðịnh với nhiều ca khúc luyến nhớ. Sau khi vào Nam, từ “Mộng Ngày Hồi Hương” năm 1956, ông hòa vào niềm vui mới qua bài “Ðẹp Mùa Yên Vui” sáng tác năm 1958 với lời từ của Hồ Ðình Phương: “Miền Nam mưa nắng giao hòa, Câu hát câu hò say trời quê đẹp như gấm hoa…”
Sự giằng xé dễ hiểu mà đáng thương của người viết nhạc diễn tả tâm tình day dứt của chúng ta giữa cái cũ đã mất và cái mới đã thành đời sống thật.
Ngồi hát lại trong tâm tưởng, “Con Ðường Cái Quan” đã từ đoạn Cửu Long Giang mà hò “Về Miền Nam” và dẫn tới đoạn kết là “Ðường Ði Ðã Tới.” “Về Miền Nam” cũng là tên ca khúc của Trọng Khương. Chúng ta không đi nữa mà về. Thâm tâm hát mừng như vậy thật, chứ không vì sự tuyên truyền của loại nhạc cổ động, mà dẫu gì thì hai miền vẫn chung một đất nước.
Rồi thời gian và sự tự do của miền Nam hàn gắn tất cả và dẫn tân nhạc qua một thế giới khác lạ.
Sau khi đất nước chia đôi, trong số đông đảo các nhạc sĩ và ca sĩ di cư vào Nam có nhiều nhạc công cự phách. Nhạc khúc mới và cách trình diễn tân kỳ thổi gió mới vào nhạc qua đài phát thanh, phần phụ diễn văn nghệ của phim chiếu bóng rồi đại nhạc hội và phòng trà hay khiêu vũ trường…
Khác bộ môn văn chương là nơi mà lối viết của dân miền Nam làm phong thái chân phương của nhà văn miền Bắc trở thành sống động hơn, với những đối thoại rất gần với thực tế ngoài đời, bộ môn tân nhạc ở miền Nam lại tiếp nhận tính chất trang nhã nhiều khi cầu kỳ của ca nhạc sĩ di cư từ miền Bắc. Nghệ sĩ di cư như Dương Thiệu Tước, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Anh Ngọc cùng các ban nhạc và lối hòa âm đã thật sự làm tân nhạc miền Nam đổi khác. Từ đó, các nhạc sĩ trong Nam không còn viết như trước nữa, nhiều ca sĩ cũng trình bày theo giọng Bắc.
Sau đấy còn có sự đóng góp của đông đảo thi sĩ di cư từ miền Bắc, và cả các nhà thơ tòng quân nhập ngũ, khiến nghệ thuật phổ thơ vào nhạc còn đem lại một phong thái khác hẳn cái thời mà chúng ta gọi là “tiền chiến.”
Cũng từ đấy, người nghe khó phân biệt được sáng tác Y Vân, Nguyễn Văn Ðông, Lê Dinh, Minh Kỳ hay Lam Phương với ca khúc của nhạc sĩ di cư đất Bắc. Nếu có khác thì đấy là giữa thể loại ca khúc của thành phố thanh bình, có men rượu, khói thuốc và cả một chút Paris, với nhạc chân quê hay nhạc của người lính thời chiến.
Cho đến khi Nam Bắc thật sự là một nhà, và khi nền tân nhạc hết phân biệt hậu phương hay tiền tuyến thì chúng ta gặp cuộc đổi đời thứ hai, biến cố 1975. Lần này cũng vẫn phong ba giông tố, nhưng không là một nơi chốn mới của quê hương mà là một sự giã biệt bi thảm hơn. Sang năm, chúng ta sẽ viết lại chuyện này….

Từ nhiều tháng nay, người viết ngồi dưỡng bệnh bằng nhạc, cho đến khi tòa soạn Người Việt yêu cầu một bài đặc biệt về tân nhạc trong và sau biến cố 54.
Không vì “yêu sách” của tờ báo mà vì yêu nhạc, Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn…”

Quỳnh Giao

****************************************************************

Tháng 7 năm nay, Hoàng Oanh nhớ đến Quỳnh Giao, một người bạn nghệ sỹ đã mất vào tháng 7 năm 2014.

Nhớ lại năm xưa, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao có với nhau rất nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm từ thời thơ ấu cho đến lúc Cô qua đời.
Năm 1958, Quỳnh Giao đang hát cho Ban nhi đồng Tuổi Xanh. Lúc đó, bác Kiều Hạnh và bác Phạm Đình Sỹ (trưởng ban Tuổi Xanh) có ý muốn tăng cường thêm một số các nhi đồng khác để thay thế cho các đàn chị Mai Hương, Mai Hân, Bạch Tuyết sang hát cho các ban “người lớn”. Đó là lúc Hoàng Oanh gia nhập vào Ban Tuổi Xanh cùng lúc với Bích Vân, Ngọc Vân và Phước Vân (Tam Vân do anh Nguyễn Đức đào tạo). Vào đây thì Hoàng Oanh gặp ngay Quỳnh Giao và các bạn ca sĩ nhi đồng như: Tuấn Ngọc, Quốc Thắng, Kim Chi…

Ảnh Quỳnh Giao và thủ bút tặng Hoàng Oanh (thời gian Ban Tuổi Xanh)

Ảnh Quỳnh Giao và thủ bút tặng Hoàng Oanh (thời gian Ban Tuổi Xanh)

Đến năm 1960, vì một số lý do riêng mà Ban Tuổi Xanh ngưng hoạt động để nhường chỗ cho Ban Việt Nhi thay thế. Và Hoàng Oanh cũng chuyển qua Ban Việt Nhi (do anh Nguyễn Đức làm trưởng ban). Lúc đầu thì Hoàng Oanh thấy có Quỳnh Giao cũng chuyển qua Ban Việt Nhi. Nhưng sau đó, vì được lời mời gia nhập Ban Tây Hồ để thay thế cho bác Minh Trang nên Quỳnh Giao đã rút lui khỏi Việt Nhi. Trong khi Hoàng Oanh vẫn tiếp tục ở lại Ban Việt Nhi cho đến vài năm sau đó, thì nghỉ để sang hát cho các ban “người lớn”.
Về học vấn, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao cùng học chung một trường Gia Long trong 3 năm cuối của Trung học (vì lúc đó có giai đoạn trường có nhận thêm các học sinh ưu tú của các trường khác được vào trường Gia Long ở các lớp Đệ tam, Đệ nhị và Đệ nhất). Hoàng Oanh nhớ nhất là vào những buổi văn nghệ cuối niên học. Quỳnh Giao và Hoàng Oanh có đóng góp vào phần văn nghệ và trình bày những bài song ca, đơn ca đã được các thầy cô và các bạn học tán thưởng.

Hoàng Oanh và Quỳnh Giao trong buổi văn nghệ bãi trường

Hoàng Oanh và Quỳnh Giao trong buổi văn nghệ bãi trường

\
Ngoài đời, Hoàng Oanh cũng rất thân với Quỳnh Giao và gia đình bác Minh Trang (danh ca Minh Trang là thân mẫu của Quỳnh Giao). Còn trong sinh hoạt văn nghệ, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao có nhiều dịp gặp nhau vì hai đứa hát rất nhiều trong các ban nhạc của Đài phát thanh Saigon như: Ban Tiếng Tơ Đồng (Hoàng Trọng), Ban Tiếng Hát Đôi Mươi (Trần Thiện Thanh), Ban Y Vân (nhạc sĩ Y Vân), Ban Hải Sơn (Nghiêm Phú Phi)…
Rồi Quỳnh Giao lập gia đình với anh D.N.H trước năm 1970. Trong đám cưới của Quỳnh Giao, Hoàng Oanh làm phù dâu. Còn nhớ một ngày trước hôm đám cưới, Hoàng Oanh có đến nhà Quỳnh Giao ngủ qua đêm để sáng hôm sau làm lễ khỏi lo có sự chậm trễ.

 

 

 

Quỳnh Giao và Hoàng Oanh, ảnh xưa kỷ niệm trước năm 1975

Quỳnh Giao và Hoàng Oanh, ảnh xưa kỷ niệm trước năm 1975

Ra Hải Ngoại, lúc Hoàng Oanh ở New Jersey thì Quỳnh Giao ở Virginia. Đến khi Hoàng Oanh dời sang Cali thì nghe tin Quỳnh Giao cũng dời qua Cali, nên hai đứa thỉnh thoảng lại gặp nhau. Ngoài ra, Hoàng Oanh còn có dịp gặp lại cô Kim Tước, chị Mai Hương và chị Hà Thanh (ở Massachusetts) cũng thỉnh thoảng qua Cali chơi.
Vào năm 2005, Hoàng Oanh có tổ chức một buổi tiệc gây quỹ cứu trợ nạn nhân bão Katrina và Hoàng Oanh có mời được cô Kim Tước, chị Mai Hương và Quỳnh Giao. Bên cạnh đó còn có thêm các nghệ sỹ Trung Chỉnh, Phương Dung, Trọng Nghĩa… đến giúp cho chương trình ca nhạc. Ước nguyện của Hoàng Oanh là có được một dịp kết hợp những tiếng hát trong Ban Tiếng Tơ Đồng năm xưa để trình diễn một bài hợp ca kỷ niệm: Sẽ do “Tứ ca Tiếng Tơ Đồng” là Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và Hoàng Oanh trình bày. Và bài hát đó là bài Bức Họa Đồng Quê của nhạc sĩ Văn Phụng. Sau đó, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao còn song ca bài Thu Vàng của Cung Tiến.

THU VÀNG: Hoàng Oanh & Quỳnh Giao song ca

Đây là hình ảnh của Quỳnh Giao cùng với Hoàng Oanh song ca một bài hát trong buổi tiệc gây quỹ cứu trợ nạn nhân bão Katrina (do Hoàng Oanh tổ chức vào năm 2005). Trong buổi tiệc nầy, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao có ngẫu hứng ca chung trong một bài hát chưa có được tập dượt trước. Quý vị sẽ thấy cả hai chúng tôi vừa hát vừa dặn dò nhau. Đó là bài hát Thu Vàng của Cung Tiến.

Và Hoàng Oanh cũng không ngờ đây là bài hát kỷ niệm sau cùng còn giữ lại được của Quỳnh Giao.

 

Ảnh Quỳnh Giao và Hoàng Oanh đang song ca bài Thu Vàng (Cung Tiến)

Ảnh Quỳnh Giao và Hoàng Oanh đang song ca bài Thu Vàng (Cung Tiến)

Mãi đến sau nầy, Hoàng Oanh thấy Quỳnh Giao viết những bài Tạp Ghi trên báo Người Việt. Hoàng Oanh có đọc được và theo dõi các bài viết của Quỳnh Giao. Sau đó, Quỳnh Giao xuất bản quyển “Tạp Ghi Quỳnh Giao”, Hoàng Oanh có đặt mua và được Quỳnh Giao gửi đến với chữ ký tặng.

Rồi kế đến, Hoàng Oanh lại được theo dõi các mục phỏng vấn của Quỳnh Giao trên Người Việt TV về văn học – nghệ thuật, âm nhạc… Đang lúc tiếp tục theo dõi các chương trình nầy thì đột nhiên một hôm, Trọng Nghĩa báo cho Hoàng Oanh biết tin bất ngờ là Quỳnh Giao tạm nghỉ đài vì lý do sức khỏe, Hoàng Oanh rất lo lắng.

Một tháng sau đó thì được biết tin Quỳnh Giao lâm bệnh nặng. Và Cô đã qua đời sau một thời gian ngắn. Ai cũng bàng hoàng và sửng sốt. Riêng Hoàng Oanh thấy rất buồn và vẫn không tin đó là sự thật.
Nhớ lại, cách đó mấy tháng, Hoàng Oanh có đến dự một buổi họp mặt của các bạn Gia Long cùng lớp. Có Quỳnh Giao đến dự, đi cùng với cô con gái. Lúc đó, Quỳnh Giao trông rất tươi tắn, vui vẻ và đầy sức sống. Sau đó, hai đứa còn có chụp ảnh kỷ niệm với nhau. Vậy mà chỉ vài tháng sau thôi là Quỳnh Giao đã qua đời. Mới thấy đó rồi mất đó. Cô ra đi thật nhanh chóng, bất ngờ. Âu cũng là số mạng của mỗi con người.
Đám tang của Quỳnh Giao, Hoàng Oanh đến dự tang lễ mà lòng vương vấn một nỗi buồn: Mình đã mất đi một người bạn học, một người bạn nghệ sỹ thâm tình. Hoàng Oanh tiếc cho một người ca sỹ có tài hát hay, đàn giỏi (Cô còn là giáo sư dạy dương cầm nữa). Quỳnh Giao học rất giỏi, có kiến thức sâu rộng về nhiều lãnh vực.
Có một điều lý thú là cả hai Quỳnh Giao và Hoàng Oanh đều có chung một sở thích là thích sưu tầm, làm colection nước hoa. Và sau cùng, hai đứa đều chọn mùi nước hoa hiệu Jicky của nhà sản xuất Guerlain (Pháp). Đó cũng là một kỷ niệm vui rất khó quên.
Bây giờ, nhớ đến bạn, Hoàng Oanh đang ngồi đây xem lại bài hát kỷ niệm của hai đứa đã hát chung với nhau: Bài Thu Vàng. Và hồi tưởng về những kỷ niệm xa xưa ở Đài phát thanh, ở trường Gia Long. Ôi Saigon, những ngày thơ mộng!
Tháng 7 – 2016
Hoàng Oanh

MM chuyen

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Tân nhạc Việt Nam sau di cư và trước di tản

Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay,

QuynhGiao-TuongNiem

 

NHƯ MỘT LỜI CHIA TAY – BÀI VIẾT SAU CÙNG CỦA CA SĨ QUỲNH GIAO .
Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn…

QuynhGiao

(1946-2014)

 

Người Việt lãng mạn của chúng ta thường bị giằng xé với hai giấc mơ tương phản.
Sống tại vùng chật hẹp với giang hồ sông nước là sự cách trở, chúng ta mơ chân trời xa lạ “như lũ chim quyết tung trời mây”… Và dù có gặp “biển hồ mênh mông không nơi ngừng cánh tránh gió táp,” chúng ta vẫn “thề quyết ra đi từ đây.” Nhạc sĩ Lâm Tuyền ghi lại cho tiềm thức chung cái giấc mơ đó.
Thế rồi, khi đã toại lòng với “bao năm qua ta sống giang hồ xa quê nhà, nơi xa xôi muôn ý phiêu lưu dâng cho đời,” thì cũng chính tâm hồn lãng mạn ấy hát khúc ngày về. Giấc mơ hồi hương là phần tương phản của cái chí tung hoành đi tìm đất lạ.
Nếu đọc lại nhiều bài viết của Vũ Hoàng Chương thì có thể mường tượng ra giấc mơ giang hồ đó. Nó trải rộng trong hồn thơ chứ vẫn thu hẹp vào khoảnh đất nhỏ xíu. Từ Nam Ðịnh đến Hà Nội đã là một phiêu lưu. Lên tới núi rừng Việt Bắc thì đấy là cõi bạt ngàn!…
Quỳnh Giao nhắc lại Lâm Tuyền hay Vũ Hoàng Chương vì nhớ tuổi ấu thơ thao thức của mình khi sắp được đi Vũng Tầu! Lên tới Ðà Lạt thì đã tựa như vào Thiên Thai trong cổ tích….
Thế rồi một biến cố đã giập giấc mơ vào thực tại. Với nhiều người thì đấy là cơn ác mộng.
Hiệp định Genève năm 1954 chia đất nước ra hai vùng giới tuyến làm nhiều người phải giang hồ thật! Phong trào di cư từ Bắc vào Nam là biến cố lớn lao nhất thế kỷ, cho đến ngày có cuộc di tản năm 1975 và sau đó.
Nền tân nhạc cải cách Việt Nam xuất phát đầu tiên từ trong Nam vào quãng 1938-1940. Rồi bùng phát và trưởng thành là ở ngoài Bắc trong thời kỳ 1945-1954. Ðấy là giai đoạn hào hùng mà lãng mạn với rất nhiều ca khúc trữ tình. Rồi cuộc di cư 54 là một giao động lớn trong thế giới tân nhạc ấy…..
Chúng ta có những nhà soạn nhạc đã thành danh ở miền Bắc. Phần lớn trong số này cũng là nhạc công, là nhạc sĩ trình diễn chuyên nghiệp với một hay nhiều nhạc cụ. Những người vào Nam từ trước chỉ là một thiểu số hiếm hoi. Sớm nhất thì có Lê Thương từ năm 1941, trễ hơn chục năm thì có Phạm Duy và Phạm Ðình Chương trong “gia đình Thăng Long.”
Phong trào di cư từ 1954 mới xô đẩy đa số còn lại vào Nam và làm thay đổi không khí tân nhạc.
Các nhạc sĩ tên tuổi từ miền Bắc có Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Ngọc Bích, Hoàng Trọng và Vũ Thành. Những nhạc sĩ kế tiếp nổi danh như cồn ở trong Nam thì có Ðan Thọ, Nguyễn Hiền hay Nhật Bằng, Cung Tiến. Phải gõ chữ vân vân vì nhiều lắm. Những người còn ở lại miền Bắc, như Văn Cao, Hoàng Giác, Hoàng Phú, Tô Vũ hay Ðoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Tý thì hết viết… như cũ.
Nhớ lại chuyện 60 năm trước, chúng ta tự hỏi là lớp nhạc sĩ di cư đã sáng tác những gì sau đó?
Trong mọi cơn chấn động bàng hoàng, con người chúng ta chỉ là lũ trẻ thơ. Hãy nhìn bầy trẻ khi chúng hãi sợ, hoặc gặp điều phật ý mà khó hiểu. Có những đứa thì hờn lẫy giẫy giụa, nhưng cũng có đứa lặng người không thể gào khóc. Còn gào thét là còn tin rằng ai đó sẽ phải lo cho mình, chứ nếu lặng người nín thinh thì đấy là lúc đứa trẻ bần thần tuyệt vọng nhất. Sau cơn chấn động như 1954 hay 1975, chúng ta đều lặng người trong tê tái.
Nhưng các nhạc sĩ của chúng ta lại khác bầy trẻ. Họ không nín lặng mà khóc bằng nhạc. Cảm hứng viết nhạc hoài hương có sẵn trong tâm khảm đã từ biến cố 54 đưa tới nhiều ca khúc về cố hương. Không kể những bài đã có từ trước như “Ôi Quê Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Tình Hoài Hương” của Phạm Duy hay “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, chúng ta nhớ lại “Khóc Biệt Kinh Kỳ” và “Bên Bờ Ðại Dương” của Hoàng Trọng, “Xa Quê Hương” của Ðan Thọ, “Bóng Quê Xưa” của Nhật Bằng và “Tìm Về Bến Xưa” hay “Thanh Bình Ca” của Nguyễn Hiền, v.v….
Ðan Thọ và Nguyễn Hiền là hai nhạc sĩ có nhiều tác phẩm về nỗi hoài niệm quê hương đã mất kể từ thời 54.
Ngày nay, Ðan Thọ vẫn còn và có lẽ không quên sự thổn thức của 60 năm trước.
Ngồi nhớ và nghe lại thì sau biến cố Genève 54, các nhạc sĩ của chúng ta còn bị giằng xé theo một cách khác. Nhiều người vẫn tin vào một ngày trở về.
“Giấc mơ hồi hương” của Vũ Thành là tác phẩm đẹp nhất của đề tài này. Ngoài lời một được gợi lên từ một bài thơ, lời hai của chính tác giả trong điệp khúc có âm điệu khải hoàn ca: “ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang” vì đấy là lúc giấc mơ đã thành, là “cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương.”…
Người khác thì khám phá và hát mừng sự bao la choáng ngợp của miền đất mới.
Vào Nam từ trước, Phạm Ðình Chương sớm ngợi ca miền Nam đôn hậu từ hình ảnh Cửu Long của trường ca Hội Trùng Dương. Rồi qua năm 1955, ông chấm nơi này là “Ðất Lành” và hát về mối tình Nam-Bắc một nhà: “Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa. Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu. Ðồi nương thương sức cần lao, se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu”…
Cũng trong dòng nhạc đó, trường ca “Con Ðường Cái Quan” do Phạm Duy thai nghén từ năm 54 tại Paris và hoàn thành về sau ở trong Nam đã có những giai điệu “tốt tươi” nhất – chữ “tốt tươi” là của ông – là từ đoạn 16 trở về sau, khi chàng lữ khách mơ giấc hải hồ vào tới trong Nam!
Trong số nhạc sĩ di cư, Hoàng Trọng nổi danh từ đất Nam Ðịnh với nhiều ca khúc luyến nhớ. Sau khi vào Nam, từ “Mộng Ngày Hồi Hương” năm 1956, ông hòa vào niềm vui mới qua bài “Ðẹp Mùa Yên Vui” sáng tác năm 1958 với lời từ của Hồ Ðình Phương: “Miền Nam mưa nắng giao hòa, Câu hát câu hò say trời quê đẹp như gấm hoa…”
Sự giằng xé dễ hiểu mà đáng thương của người viết nhạc diễn tả tâm tình day dứt của chúng ta giữa cái cũ đã mất và cái mới đã thành đời sống thật.
Ngồi hát lại trong tâm tưởng, “Con Ðường Cái Quan” đã từ đoạn Cửu Long Giang mà hò “Về Miền Nam” và dẫn tới đoạn kết là “Ðường Ði Ðã Tới.” “Về Miền Nam” cũng là tên ca khúc của Trọng Khương. Chúng ta không đi nữa mà về. Thâm tâm hát mừng như vậy thật, chứ không vì sự tuyên truyền của loại nhạc cổ động, mà dẫu gì thì hai miền vẫn chung một đất nước.
Rồi thời gian và sự tự do của miền Nam hàn gắn tất cả và dẫn tân nhạc qua một thế giới khác lạ.
Sau khi đất nước chia đôi, trong số đông đảo các nhạc sĩ và ca sĩ di cư vào Nam có nhiều nhạc công cự phách. Nhạc khúc mới và cách trình diễn tân kỳ thổi gió mới vào nhạc qua đài phát thanh, phần phụ diễn văn nghệ của phim chiếu bóng rồi đại nhạc hội và phòng trà hay khiêu vũ trường…
Khác bộ môn văn chương là nơi mà lối viết của dân miền Nam làm phong thái chân phương của nhà văn miền Bắc trở thành sống động hơn, với những đối thoại rất gần với thực tế ngoài đời, bộ môn tân nhạc ở miền Nam lại tiếp nhận tính chất trang nhã nhiều khi cầu kỳ của ca nhạc sĩ di cư từ miền Bắc. Nghệ sĩ di cư như Dương Thiệu Tước, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Anh Ngọc cùng các ban nhạc và lối hòa âm đã thật sự làm tân nhạc miền Nam đổi khác. Từ đó, các nhạc sĩ trong Nam không còn viết như trước nữa, nhiều ca sĩ cũng trình bày theo giọng Bắc.
Sau đấy còn có sự đóng góp của đông đảo thi sĩ di cư từ miền Bắc, và cả các nhà thơ tòng quân nhập ngũ, khiến nghệ thuật phổ thơ vào nhạc còn đem lại một phong thái khác hẳn cái thời mà chúng ta gọi là “tiền chiến.”
Cũng từ đấy, người nghe khó phân biệt được sáng tác Y Vân, Nguyễn Văn Ðông, Lê Dinh, Minh Kỳ hay Lam Phương với ca khúc của nhạc sĩ di cư đất Bắc. Nếu có khác thì đấy là giữa thể loại ca khúc của thành phố thanh bình, có men rượu, khói thuốc và cả một chút Paris, với nhạc chân quê hay nhạc của người lính thời chiến.
Cho đến khi Nam Bắc thật sự là một nhà, và khi nền tân nhạc hết phân biệt hậu phương hay tiền tuyến thì chúng ta gặp cuộc đổi đời thứ hai, biến cố 1975. Lần này cũng vẫn phong ba giông tố, nhưng không là một nơi chốn mới của quê hương mà là một sự giã biệt bi thảm hơn. Sang năm, chúng ta sẽ viết lại chuyện này….

Từ nhiều tháng nay, người viết ngồi dưỡng bệnh bằng nhạc, cho đến khi tòa soạn Người Việt yêu cầu một bài đặc biệt về tân nhạc trong và sau biến cố 54.
Không vì “yêu sách” của tờ báo mà vì yêu nhạc, Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn…”

Quỳnh Giao

****************************************************************

Tháng 7 năm nay, Hoàng Oanh nhớ đến Quỳnh Giao, một người bạn nghệ sỹ đã mất vào tháng 7 năm 2014.

Nhớ lại năm xưa, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao có với nhau rất nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm từ thời thơ ấu cho đến lúc Cô qua đời.
Năm 1958, Quỳnh Giao đang hát cho Ban nhi đồng Tuổi Xanh. Lúc đó, bác Kiều Hạnh và bác Phạm Đình Sỹ (trưởng ban Tuổi Xanh) có ý muốn tăng cường thêm một số các nhi đồng khác để thay thế cho các đàn chị Mai Hương, Mai Hân, Bạch Tuyết sang hát cho các ban “người lớn”. Đó là lúc Hoàng Oanh gia nhập vào Ban Tuổi Xanh cùng lúc với Bích Vân, Ngọc Vân và Phước Vân (Tam Vân do anh Nguyễn Đức đào tạo). Vào đây thì Hoàng Oanh gặp ngay Quỳnh Giao và các bạn ca sĩ nhi đồng như: Tuấn Ngọc, Quốc Thắng, Kim Chi…

Ảnh Quỳnh Giao và thủ bút tặng Hoàng Oanh (thời gian Ban Tuổi Xanh)

Ảnh Quỳnh Giao và thủ bút tặng Hoàng Oanh (thời gian Ban Tuổi Xanh)

Đến năm 1960, vì một số lý do riêng mà Ban Tuổi Xanh ngưng hoạt động để nhường chỗ cho Ban Việt Nhi thay thế. Và Hoàng Oanh cũng chuyển qua Ban Việt Nhi (do anh Nguyễn Đức làm trưởng ban). Lúc đầu thì Hoàng Oanh thấy có Quỳnh Giao cũng chuyển qua Ban Việt Nhi. Nhưng sau đó, vì được lời mời gia nhập Ban Tây Hồ để thay thế cho bác Minh Trang nên Quỳnh Giao đã rút lui khỏi Việt Nhi. Trong khi Hoàng Oanh vẫn tiếp tục ở lại Ban Việt Nhi cho đến vài năm sau đó, thì nghỉ để sang hát cho các ban “người lớn”.
Về học vấn, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao cùng học chung một trường Gia Long trong 3 năm cuối của Trung học (vì lúc đó có giai đoạn trường có nhận thêm các học sinh ưu tú của các trường khác được vào trường Gia Long ở các lớp Đệ tam, Đệ nhị và Đệ nhất). Hoàng Oanh nhớ nhất là vào những buổi văn nghệ cuối niên học. Quỳnh Giao và Hoàng Oanh có đóng góp vào phần văn nghệ và trình bày những bài song ca, đơn ca đã được các thầy cô và các bạn học tán thưởng.

Hoàng Oanh và Quỳnh Giao trong buổi văn nghệ bãi trường

Hoàng Oanh và Quỳnh Giao trong buổi văn nghệ bãi trường

\
Ngoài đời, Hoàng Oanh cũng rất thân với Quỳnh Giao và gia đình bác Minh Trang (danh ca Minh Trang là thân mẫu của Quỳnh Giao). Còn trong sinh hoạt văn nghệ, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao có nhiều dịp gặp nhau vì hai đứa hát rất nhiều trong các ban nhạc của Đài phát thanh Saigon như: Ban Tiếng Tơ Đồng (Hoàng Trọng), Ban Tiếng Hát Đôi Mươi (Trần Thiện Thanh), Ban Y Vân (nhạc sĩ Y Vân), Ban Hải Sơn (Nghiêm Phú Phi)…
Rồi Quỳnh Giao lập gia đình với anh D.N.H trước năm 1970. Trong đám cưới của Quỳnh Giao, Hoàng Oanh làm phù dâu. Còn nhớ một ngày trước hôm đám cưới, Hoàng Oanh có đến nhà Quỳnh Giao ngủ qua đêm để sáng hôm sau làm lễ khỏi lo có sự chậm trễ.

 

 

 

Quỳnh Giao và Hoàng Oanh, ảnh xưa kỷ niệm trước năm 1975

Quỳnh Giao và Hoàng Oanh, ảnh xưa kỷ niệm trước năm 1975

Ra Hải Ngoại, lúc Hoàng Oanh ở New Jersey thì Quỳnh Giao ở Virginia. Đến khi Hoàng Oanh dời sang Cali thì nghe tin Quỳnh Giao cũng dời qua Cali, nên hai đứa thỉnh thoảng lại gặp nhau. Ngoài ra, Hoàng Oanh còn có dịp gặp lại cô Kim Tước, chị Mai Hương và chị Hà Thanh (ở Massachusetts) cũng thỉnh thoảng qua Cali chơi.
Vào năm 2005, Hoàng Oanh có tổ chức một buổi tiệc gây quỹ cứu trợ nạn nhân bão Katrina và Hoàng Oanh có mời được cô Kim Tước, chị Mai Hương và Quỳnh Giao. Bên cạnh đó còn có thêm các nghệ sỹ Trung Chỉnh, Phương Dung, Trọng Nghĩa… đến giúp cho chương trình ca nhạc. Ước nguyện của Hoàng Oanh là có được một dịp kết hợp những tiếng hát trong Ban Tiếng Tơ Đồng năm xưa để trình diễn một bài hợp ca kỷ niệm: Sẽ do “Tứ ca Tiếng Tơ Đồng” là Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và Hoàng Oanh trình bày. Và bài hát đó là bài Bức Họa Đồng Quê của nhạc sĩ Văn Phụng. Sau đó, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao còn song ca bài Thu Vàng của Cung Tiến.

THU VÀNG: Hoàng Oanh & Quỳnh Giao song ca

Đây là hình ảnh của Quỳnh Giao cùng với Hoàng Oanh song ca một bài hát trong buổi tiệc gây quỹ cứu trợ nạn nhân bão Katrina (do Hoàng Oanh tổ chức vào năm 2005). Trong buổi tiệc nầy, Hoàng Oanh và Quỳnh Giao có ngẫu hứng ca chung trong một bài hát chưa có được tập dượt trước. Quý vị sẽ thấy cả hai chúng tôi vừa hát vừa dặn dò nhau. Đó là bài hát Thu Vàng của Cung Tiến.

Và Hoàng Oanh cũng không ngờ đây là bài hát kỷ niệm sau cùng còn giữ lại được của Quỳnh Giao.

 

Ảnh Quỳnh Giao và Hoàng Oanh đang song ca bài Thu Vàng (Cung Tiến)

Ảnh Quỳnh Giao và Hoàng Oanh đang song ca bài Thu Vàng (Cung Tiến)

Mãi đến sau nầy, Hoàng Oanh thấy Quỳnh Giao viết những bài Tạp Ghi trên báo Người Việt. Hoàng Oanh có đọc được và theo dõi các bài viết của Quỳnh Giao. Sau đó, Quỳnh Giao xuất bản quyển “Tạp Ghi Quỳnh Giao”, Hoàng Oanh có đặt mua và được Quỳnh Giao gửi đến với chữ ký tặng.

Rồi kế đến, Hoàng Oanh lại được theo dõi các mục phỏng vấn của Quỳnh Giao trên Người Việt TV về văn học – nghệ thuật, âm nhạc… Đang lúc tiếp tục theo dõi các chương trình nầy thì đột nhiên một hôm, Trọng Nghĩa báo cho Hoàng Oanh biết tin bất ngờ là Quỳnh Giao tạm nghỉ đài vì lý do sức khỏe, Hoàng Oanh rất lo lắng.

Một tháng sau đó thì được biết tin Quỳnh Giao lâm bệnh nặng. Và Cô đã qua đời sau một thời gian ngắn. Ai cũng bàng hoàng và sửng sốt. Riêng Hoàng Oanh thấy rất buồn và vẫn không tin đó là sự thật.
Nhớ lại, cách đó mấy tháng, Hoàng Oanh có đến dự một buổi họp mặt của các bạn Gia Long cùng lớp. Có Quỳnh Giao đến dự, đi cùng với cô con gái. Lúc đó, Quỳnh Giao trông rất tươi tắn, vui vẻ và đầy sức sống. Sau đó, hai đứa còn có chụp ảnh kỷ niệm với nhau. Vậy mà chỉ vài tháng sau thôi là Quỳnh Giao đã qua đời. Mới thấy đó rồi mất đó. Cô ra đi thật nhanh chóng, bất ngờ. Âu cũng là số mạng của mỗi con người.
Đám tang của Quỳnh Giao, Hoàng Oanh đến dự tang lễ mà lòng vương vấn một nỗi buồn: Mình đã mất đi một người bạn học, một người bạn nghệ sỹ thâm tình. Hoàng Oanh tiếc cho một người ca sỹ có tài hát hay, đàn giỏi (Cô còn là giáo sư dạy dương cầm nữa). Quỳnh Giao học rất giỏi, có kiến thức sâu rộng về nhiều lãnh vực.
Có một điều lý thú là cả hai Quỳnh Giao và Hoàng Oanh đều có chung một sở thích là thích sưu tầm, làm colection nước hoa. Và sau cùng, hai đứa đều chọn mùi nước hoa hiệu Jicky của nhà sản xuất Guerlain (Pháp). Đó cũng là một kỷ niệm vui rất khó quên.
Bây giờ, nhớ đến bạn, Hoàng Oanh đang ngồi đây xem lại bài hát kỷ niệm của hai đứa đã hát chung với nhau: Bài Thu Vàng. Và hồi tưởng về những kỷ niệm xa xưa ở Đài phát thanh, ở trường Gia Long. Ôi Saigon, những ngày thơ mộng!
Tháng 7 – 2016
Hoàng Oanh

MM chuyen

BẢN TIN MỚI NHẤT

Thắng /Thua ?

Tranh cãi với bất kỳ ai, bạn cũng sẽ bị thua lỗ thôi!

Xem Thêm

Tổng thống Trump cảm ơn Campuchia vì đã cho du thuyền MS Westerdam cập cảng - Hải Lam

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 14/2 gửi lời cảm ơn Campuchia vì đã cho du thuyền MS Westerdam cập cảng sau khi du thuyền này bị 5 nơi từ chối vì lo ngại dịch COVID-19.

Xem Thêm

ĐỂ DÀNH. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Ô hay em vẫn quan san Chưa nghe hơi thở anh than vãn buồn

Xem Thêm

Thần Dược Đây! Mại Dô, Mại Dô! – Chín Cầu Tre

Truyền hình nhà tôi không bao giờ tắt. Người ta xem truyền hình để mở rộng kiến thức, còn nhà tôi coi truyền hình để sưởi ấm cái phòng khách và làm từ thiện cho công ty điện SCE

Xem Thêm

Nhan sắc ngày ấy - bây giờ của 14 Hoa hậu chuyển giới Quốc tế

Người trở về cát bụi, kẻ lão hóa ngược, riêng Hương Giang là đỉnh của đỉnh

Xem Thêm

Mỹ đã viết về virus Vũ Hán từ 1981

Gần 40 năm trước, một tiểu thuyết Mỹ đã mô tả về loại virus Vũ Hán nằm trong chương trình vũ khí sinh học của Trung Quốc.

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Kìa quân tầu ô !!!!

"Kìa quân tầu ô !!!!" Nghe tựa đề bài này lại nhớ tói thời kỳ quân tầu phù được quân đồng minh điều vào giải giới vũ khí Nhật bản ! Hồi đó trẻ con chúng tôi thường hát: "Đoàn quân tầu ô đi, sao mà thối thế..." Đến giờ, bọn nó vẫn còn thối và càng ngày càng thối hơn !!!

Xem Thêm

Đề bài :Kìa quân tầu ô !!!!

"Kìa quân tầu ô !!!!" Nghe tựa đề bài này lại nhớ tói thời kỳ quân tầu phù được quân đồng minh điều vào giải giới vũ khí Nhật bản ! Hồi đó trẻ con chúng tôi thường hát: "Đoàn quân tầu ô đi, sao mà thối thế..." Đến giờ, bọn nó vẫn còn thối và càng ngày càng thối hơn !!!

Xem Thêm

Đề bài :Lần đầu tiên Không Quân Mỹ có tướng gốc Việt

Không Quân Mỹ đến bây giờ mới có Tướng gốc Việt, trước đây mấy chục năm Không Quân QLVNCH đã có mấy Tướng gốc Việt rồi, bỏ xa Không Quân Mỹ..

Xem Thêm

Đề bài :Ghê rợn!

Đoạn phim (video clip) ăn súp dơi không phải quay ở Vũ Hán mà là tại Palau, đảo quốc ở Thái Bình Dương. Nhân vật trong đó là blogger chuyên về du lịch Wang Mengyun (Vương Mộng Vân). Theo tờ South China Morning Post, cô Vương mới đây cho biết đoạn phim được quay vào năm 2016, đăng vào năm 2017, trong một chương trình giới thiệu các món ăn địa phương tại Palau, trong đó có món súp dơi.

Xem Thêm

Đề bài :Thêm một kẻ trở lưỡi theo giặc - Ông Bút ( Cập nhật )

Vào khoảng năm 1997 hay 98 gì đó,tôi vớ được 1 tờ báo chợ,tờ báo có nhiều trang và là 1 tờ báo mới xuất bản được vài số,tên tờ báo là Chính nghĩa do Há văn Sơn chủ trương.Đọc bài của HVS phê bình LM Phạm hữu Lễ về trường hợp của 1 cựu Đ/Uý làm ăng ten và đánh chết người bạn tù trong trại tù ngoài Bắc,tôi bèn chuyển cho người bạn cùng đang đứng nói chuyện xem và nói...Thằng nào viết báo mà lý luận ấu trĩ thế này mà dám đăng trên báo thì tôi phục nó thật...Quả thật,người bạn cũng đồng ý,từ văn viết cho đến lý luận chỉ đáng lớp 3 Tiểu học...vậy mà HVS dám làm báo.Đúng HVS xứng đáng danh liều mạng,điếc ko sợ súng.

Xem Thêm

Đề bài :MỘT LẦN XA BẾN - Mỹ Lệ

Một bài viết mang bao niềm thương mến sâu xa... Thật buồn ! Những kỷ niệm thân thương của "những ngày xưa thân ái" sẽ không bao giờ trở lại. Chân thành cảm ơn tác giả.

Xem Thêm

Đề bài :Nữ bác sĩ cơ bắp chữa khỏi nhiều ca nhiễm virus corona

Đọc bản tin này của Lão Phan,tôi nghi ngờ là 1 bút danh khác của tên TS chồng mụ Lê Phan...Cả 2 vợ chồng nhà này là công dân của Anh,gốc Việt,ko biết sao họ thù ghét Trump lộ liễu đến thế.Có thể họ đi theo khuynh hướng của Châu Âu,chống mọi thứ của Mỹ chăng ???

Xem Thêm

Đề bài :Cách Nhìn Trump của Nghệ Sĩ Da Đen Steve Harvey

Cho du Nancy va toan dang hoac ai do co thu ghet Mr.Trump toi co nao chang nua,cung nen nhin va xem xet thanh qua 03 nam ma ong va chinh phu da lam duoc cho dat nuoc nay( MY ).Nuoc My da lay lai duoc danh du-kham phuc cua moi quoc gia tren the gioi,cho du la ke thu nhu tau cong hien nay.Kinh te da tang truong,viec lam da tran day.Moi gian manh tro cap dang tu tu duoc cuu xet,tham dinh lai.Nghia la tien thue cua chung ta da it bi phung phi(ngoai tru con Lua)de xu dung sai cach va thiet hai cho chinh nguoi dong thue.Khong thich Trump ve tu cach:khong sao! khong thich Trump ve cach an noi : Khong sao! vi tat ca nhung cai khong thich,khong sao nay da vuc nuoc My dung day. Sau khi cu phai khom lung cui chao va xin loi lung tung ca.Su hen ha da qua,su ban thiu cua nha trang da qua va do moi la dieu chung ta THICH hay KHONG THICH TRUMP !

Xem Thêm

Đề bài :NHỮNG BÌNH LUẬN BÊN LỀ VỀ DIỄN VĂN LIEN BANG CỦA TT DONALD TRUMP

Toi nghiep ME DI va dong bon ,ngoi ngay nguoi nghe bon ho hoan ho va bi xi va khong kip vuot mat cho ca ban dan the gioi chiem nguong guong mat gian hung va dong bon. 03 nam tung hoanh ngang doc,mac suc ve rong ve ran du moi xau xa,ban thiu cho ke thu ( ? ) de gio day,ngoi tran minh don nhan moi phi nho da so nguoi.Chua het dau,con nhung oan hon cua cac bao thai nua,tieng keu cua chung da thau den troi cao.Bung lam da chiu !

Xem Thêm

Đề bài :Những Điều Ta Không Để Ý:

Hồi tâm ? Tác giả mấy tuổi ? Chệt Cộng và lũ Vịt Cộng khg bao giờ có 2 chữ “hồi tâm”..... Tội nghiệp tác giả quá !

Xem Thêm

TIN MỚI

Thắng /Thua ?

Tranh cãi với bất kỳ ai, bạn cũng sẽ bị thua lỗ thôi!

Xem Thêm

Tổng thống Trump cảm ơn Campuchia vì đã cho du thuyền MS Westerdam cập cảng - Hải Lam

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 14/2 gửi lời cảm ơn Campuchia vì đã cho du thuyền MS Westerdam cập cảng sau khi du thuyền này bị 5 nơi từ chối vì lo ngại dịch COVID-19.

Xem Thêm

ĐỂ DÀNH. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Ô hay em vẫn quan san Chưa nghe hơi thở anh than vãn buồn

Xem Thêm

Thần Dược Đây! Mại Dô, Mại Dô! – Chín Cầu Tre

Truyền hình nhà tôi không bao giờ tắt. Người ta xem truyền hình để mở rộng kiến thức, còn nhà tôi coi truyền hình để sưởi ấm cái phòng khách và làm từ thiện cho công ty điện SCE

Xem Thêm

Nhan sắc ngày ấy - bây giờ của 14 Hoa hậu chuyển giới Quốc tế

Người trở về cát bụi, kẻ lão hóa ngược, riêng Hương Giang là đỉnh của đỉnh

Xem Thêm

Mỹ đã viết về virus Vũ Hán từ 1981

Gần 40 năm trước, một tiểu thuyết Mỹ đã mô tả về loại virus Vũ Hán nằm trong chương trình vũ khí sinh học của Trung Quốc.

Xem Thêm

Thế giới hôm nay: 19/02/2020

Donald Trump tuyên bố ông đã giảm án tù cho Rod Blagojevich, cựu thống đốc bang Illinois, người bị kết án vì cố bán ghế trống do Barack Obama để lại ở Thượng viện

Xem Thêm

Virus Corona - Bao giờ thì Trung Cộng vỡ trận? Mai Tú Ân.

(HNPD) Gần 2000 người chết sau hai tháng phát dịch chưa phải là tai họa nhưng đó là cái giá phải trả và còn phải trả nữa cho cái cung cách hành chính mệnh lệnh, cách xử lý vụ việc không đặt mạng sống của người dân lên cao nhất.

Xem Thêm

Virus sư phụ Dacosavina - Nguyễn Bá Chổi

(Meo của Virus Corona trả lời Virus Dacosavina- NBC chuyển hộ)

Xem Thêm

Nước mắt, nước biển và Thuyền Nhân Việt.

Mời xem bài của tác giả Trần Mộng Tú theo đoàn về thăm các ngôi mộ Thuyền Nhân chết trên đường vượt biên

Xem Thêm