Lịch Sử, Quân Sử & Huyền Thoại
"Triệu Phú Xưa" - by Trang Nguyên / Trần Văn Giang (ghi lại).
xxx
(người được xếp hạng thứ 2 trong “Tứ đại phú hộ” Sài Gòn)
*
Lời mở đầu
Cách nay trăm năm, các đại phú hộ miền Nam giàu có cỡ nào? Và có ai được gọi là tỷ phú như ngày nay hay không?
Mời đọc những dòng sau để biết…
*
Sự
giàu có ở Nam Kỳ trong các tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không những có
thiệt mà còn kinh khủng hơn trong truyện. Ông bà mình xưa có câu “Tiền muôn bạc vạn” chỉ sự giàu sang phú quý của những nhà “Giàu nứt vách đổ tường.” Bạc vạn là từ 10,000, bạc muôn là trên 100,000 đồng.
Đồng tiền xưa có giá lắm. Năm 1925, một mẫu ruộng tốt ở Nam Kỳ có giá 50 đồng, có khi 80 đồng. Nếu được xếp vào loại “Đại điền chủ”
thì gia đình đó phải có từ 50 mẫu ruộng trở lên, vị chi 50 mẫu điền x
50 đồng = 2,500 đồng bạc; hoặc 80 x 50 = 4,000 đồng bạc là gia tài của
một đại điền chủ bậc thấp nhứt (!).
Năm
1930, Nam Kỳ có cả thảy 6,690 đại điền chủ có từ 50 mẫu đất trở lên.
Coi truyện Hồ Biểu Chánh ta thấy chưa có ông đại điền chủ nào có tiền
mặt trong nhà quá 40,000 đồng. Trong tiểu thuyết “Con Nhà Giàu” ta thấy cha mẹ Cậu Tư – một đại điền chủ có 500 mẫu điền, chết để lại có 25,000 đồng trong tủ.
Hồi
xưa tiền có giá, chưa có danh từ tỷ phú như bây giờ, chỉ đến triệu phú
là hết mức. So sánh thêm, thử lướt qua một vài chi tiết về tiền lương
mỗi tháng của những người gọi là công chức và dân lao động để biết tiền
bạc ngày xưa có giá cỡ nào.
Trong “Con Nhà Nghèo” cậu Ba Cam đi làm “Sốp Phơ” (Chauffeur – Tài xế) cho Thầy Kiện (luật sư)
với lương một tháng 40 đồng Đông Dương đã coi như là phủ phê lắm rồi;
vì ở dưới Gò Công thằng Cu đi làm công làm mướn, chủ nuôi cả năm chỉ
được có ba bốn chục đồng Bạc.
Thầy thông trong “Cô Lý Cô Đào”
mỗi ngày làm kiếm được có 1 đồng bạc, tức là một tháng đi làm kiếm được
cỡ 26 đồng, mà đã nuôi được vợ con. Ngặt sau này vợ con bệnh nên thầy
có ý bán chiéc xe máy giá 20 đồng lo thuốc thang cho vợ con. Nhưng thầy
tiếc không bán vì chiếc xe máy kiểu Pháp thầy mua tới 40 đồng tức gần
hai tháng lương của thầy. Sau này, thầy thông đi ngang qua một con đường
vắng, thấy đứa con nít còn đỏ hỏn ai bỏ ven đường, thầy lượm đem về
nuôi thì mới phát hiện ra 50 tờ giấy Bạc giấu trong người đứa bé. Từ đó
phất lên làm giàu.
Giấy
bạc 100 là tiền mệnh giá lớn nhất Đông Dương, cho nên số tiền này thuở
đó là rất lớn. Nếu so sánh với bạc hiện nay, thì số tỷ vẫn chưa vừa, vì
tỷ phú ngày nay có hiếm, chớ như hồi năm 1920, khoảng đầu thế kỷ hai
mươi, tờ giấy xăng (100$) có người trọn đời chưa từng thấy lần nào.
Năm 1934 gia tộc nhà ông Lê Phát Đạt –
Tức là Ông Huyện Sỹ (ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu) gả Nguyễn Hữu
Thị Lan về làm hoàng hậu của vua Bảo Đại. Cậu hai Lê Phát An tặng cho
cháu gái 1 triệu đồng tiền mặt làm của hồi môn mang theo để “dằn mặt”
hoàng gia (?). Một triệu đồng Đông Dương hồi đó tương đương bao nhiêu
lượng vàng? Một triệu đồng Đông Dương bằng 10,000 tờ giấy Xăng (tờ giấy
bạc 100 đồng Đông Dương) – số tiền này mua được 22,000 lượng vàng; tính
bằng tiền bây giờ cỡ khoảng hơn ba chục triệu Mỹ kim chứ bao nhiêu chưa
kể 100 năm về trước tiền còn có giá biết chừng nào. Vậy số tiền một
triệu đồng của Cậu Hai Denis Lê Phát An cho bà Nam Phương lớn không thể
tưởng tượng (!).
Chúng
ta cũng không quên ông Nguyễn Hữu Hào bà Lê Thị Bính chỉ có 2 cô con
gái, ngoài một triệu lận lưng khi lấy chồng, sau đó khi cha mẹ chết bà
Nam Phương còn được chia một nửa gia tài của cha mẹ nữa.
Riêng
ở Sài Gòn thời bấy giờ, người ta còn biết đến nhiều triệu phú. Nhưng
trong số các nhà giàu sụ đó, người đời nhớ nhất với câu thành ngữ:
“Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Bổn.”
1. Nhất Sỹ (tên thật Lê Phát Đạt hay còn gọi là Huyện Sỹ)
Ông Huyện Sỹ là đại phú hào đứng đầu “Tứ đại Phú hộ”
của Sài Gòn xưa và là ông ngoại của Nam Phương Hoàng hậu. Tuy xuất thân
bình thường, nhưng nhờ tài trí và tầm nhìn xa, ông đã nhanh chóng tích
lũy khối tài sản khổng lồ.
Sau
thời gian du học Malaysia, ông trở về nước và mua lại ruộng đất bị bỏ
hoang, đầu tư vào trồng lúa. Liên tiếp các vụ mùa bội thu đã giúp ông mở
rộng quy mô đất đai, trở thành chủ sở hữu những cánh đồng “Cò bay mỏi cánh” từ Gò Công, Long An, Tiền Giang đến biên giới Campuchia và dần trở thành một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn.
Dù
sở hữu khối tài sản khổng lồ, gia đình Huyện Sỹ nổi tiếng với lối sống
tiết kiệm, giản dị. Ông còn tự nguyện hiến đất và 1/7 tài sản để xây
dựng nhà thờ Huyện Sỹ trên đường Tôn Thất Tùng, Quận 1. Đây thực sự là
một công trình văn hóa tôn giáo mang dấu ấn lịch sử. Sự giàu có và lòng
nhân ái của đại gia giàu nhất Sài Gòn xưa – Huyện Sỹ đã khiến tên tuổi
ông vượt xa cả vua Bảo Đại, trở thành biểu tượng của sự thành công và
cống hiến trong lịch sử Sài Gòn xưa.
2. Người thứ hai là Tổng đốc Phương. Ông tên thật là Đỗ Hữu Phương (1844-1914)
Vì được Pháp phong hàm Tổng đốc nên ông Đỗ Hữu Phương còn gọi là Tổng đốc Phương.
Đất đai và nhà cửa của ông có rất nhiều tại Chợ Lớn và Long An. Ông
sinh tại Chợ Đũi (Sài Gòn), gốc người Minh Hương, biết chữ Hán, nói được
một số tiếng Pháp. Sau khi Pháp đánh chiếm Gia Định, ông hợp tác với
người Pháp vây bắt một số thủ lĩnh quân nổi dậy chống Pháp như Trương
Quyền, Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân. Năm
1872, ông được Thống đốc Nam Kỳ chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố
Chợ Lớn. Ông là một trong những người đề xướng và đã bỏ tiền ra xây
trường "Collège de Jeunes filles Indigènes" vào năm 1915, tức trường Nữ
Trung học Sài Gòn, mà người dân thường gọi là trường Áo Tím, sau này là
trường Gia Long.
3. Đứng hạng ba là ông Lý Tường Quang còn gọi Bá hộ Xường (1842-1896), tự là Phước Trai, gốc Hoa.
Theo một số ghi chép, ông Lý Tường Quang (Bá hộ Xường)là
người Minh Hương (Hoa Kiều trung thành với nhà Minh) chống lại nhà
Thanh nên đến lánh nạn ở miền Nam Việt Nam. Ông trở thành thông ngôn cho
Pháp nhờ thông thạo cả tiếng Hoa lẫn tiếng Pháp, nhưng sau đó ông nổi
chí muốn làm ăn, buôn bán kinh doanh. Ông có người vợ Việt, tên là
Nguyễn Thị Lâu.
Rời
bỏ vai trò công chức “quèn,” Bá hộ Xường dốc tâm sức vào việc kinh
doanh thịt cá xuất cảng, lương thực, thực phẩm, sau đó mua đất xây cất
biệt thự tại vùng Chợ Lớn để cho thuê và bán. Ngoài ra cũng nhờ biết
cách đi cửa sau, lấy lòng quan Tây, quan ta, ông giàu lên rất nhanh, nổi
tiếng khắp vùng. Ngày nay, vẫn tồn tại hàng loạt kiến trúc đồ sộ khang
trang. Đặc biệt phải kể đến dinh thự rất bề thế của gia đình Bá hộ Xường
(ngày nay là từ đường họ Lý, tọa lạc trên đường Hải Thượng Lãn Ông).
4. Thứ tư là chú Hỏa (tên thật Hứa Bổn Hòa, 1845 – 1901) là đại phú hộ gốc Hoa.
Khác với nhiều lời đồn về việc giàu lên của Chú Hỏa Hứa Bổn Hòa nhờ mua bán ve chai hay nhặt được kho báu. Thành công của Chú Hỏa đến
từ óc kinh doanh nhạy bén và tầm nhìn xa trông rộng. Nhận thấy tiềm
năng của vùng đất hoang phế xung quanh khu vực Bến Thành, người giàu
nhất Sài Gòn – Chú Hỏa quyết đoán san lấp ao hồ để xây dựng chợ mới và
làm chủ đến 20,000 nền nhà tại khu đất này. Sau đó, ông cho xây dựng nhà
phố và cho thuê, từ đó tạo dựng nên khối tài sản bất động sản khổng lồ.
Là
sở hữu chủ của hơn 40% bất động sản tại Sài Gòn và khoảng 30,000 căn
nhà ở các vị trí đắc địa, Chú Hỏa không chỉ làm giàu cho bản thân mà còn
có những đóng góp lớn cho xã hội. Ông đã dành nhiều tâm sức và tài sản
để xây dựng hàng loạt công trình phúc lợi xã hội vẫn còn tồn tại đến nay
như xây dựng Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, Trường THCS (Trung Học Cơ Sở, Trường Cấp 2 - Middle School) Minh Đức (Quận 1)…
Trang Nguyên
Trần Văn Giang (ghi lại)
Bàn ra tán vào (0)
Các tin đã đăng
- "Bịnh Viện Bình Dân trước năm 1975" - by Nguyễn Đan Tâm / Trần Văn Giang (ghi lại).
- "Ngày 30 Tháng 4 thứ 50" - by Bùi Xuân Cảnh / Trần Văn Giang (ghi lại).
- "Lịch Sử Tên Nước Việt Nam" - by Từ Thiện / Trần Văn Giang (ghi lại)
- "Lối Xưa Xe Ngựa Hồn Thu Thảo" - by Nguyễn Thị Chân Quỳnh / Trần Văn Giang (ghi lại).
- "Người Do Thái và Nước Mỹ" - by Trần Văn Giang (ghi lại).
"Triệu Phú Xưa" - by Trang Nguyên / Trần Văn Giang (ghi lại).
xxx
(người được xếp hạng thứ 2 trong “Tứ đại phú hộ” Sài Gòn)
*
Lời mở đầu
Cách nay trăm năm, các đại phú hộ miền Nam giàu có cỡ nào? Và có ai được gọi là tỷ phú như ngày nay hay không?
Mời đọc những dòng sau để biết…
*
Sự
giàu có ở Nam Kỳ trong các tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không những có
thiệt mà còn kinh khủng hơn trong truyện. Ông bà mình xưa có câu “Tiền muôn bạc vạn” chỉ sự giàu sang phú quý của những nhà “Giàu nứt vách đổ tường.” Bạc vạn là từ 10,000, bạc muôn là trên 100,000 đồng.
Đồng tiền xưa có giá lắm. Năm 1925, một mẫu ruộng tốt ở Nam Kỳ có giá 50 đồng, có khi 80 đồng. Nếu được xếp vào loại “Đại điền chủ”
thì gia đình đó phải có từ 50 mẫu ruộng trở lên, vị chi 50 mẫu điền x
50 đồng = 2,500 đồng bạc; hoặc 80 x 50 = 4,000 đồng bạc là gia tài của
một đại điền chủ bậc thấp nhứt (!).
Năm
1930, Nam Kỳ có cả thảy 6,690 đại điền chủ có từ 50 mẫu đất trở lên.
Coi truyện Hồ Biểu Chánh ta thấy chưa có ông đại điền chủ nào có tiền
mặt trong nhà quá 40,000 đồng. Trong tiểu thuyết “Con Nhà Giàu” ta thấy cha mẹ Cậu Tư – một đại điền chủ có 500 mẫu điền, chết để lại có 25,000 đồng trong tủ.
Hồi
xưa tiền có giá, chưa có danh từ tỷ phú như bây giờ, chỉ đến triệu phú
là hết mức. So sánh thêm, thử lướt qua một vài chi tiết về tiền lương
mỗi tháng của những người gọi là công chức và dân lao động để biết tiền
bạc ngày xưa có giá cỡ nào.
Trong “Con Nhà Nghèo” cậu Ba Cam đi làm “Sốp Phơ” (Chauffeur – Tài xế) cho Thầy Kiện (luật sư)
với lương một tháng 40 đồng Đông Dương đã coi như là phủ phê lắm rồi;
vì ở dưới Gò Công thằng Cu đi làm công làm mướn, chủ nuôi cả năm chỉ
được có ba bốn chục đồng Bạc.
Thầy thông trong “Cô Lý Cô Đào”
mỗi ngày làm kiếm được có 1 đồng bạc, tức là một tháng đi làm kiếm được
cỡ 26 đồng, mà đã nuôi được vợ con. Ngặt sau này vợ con bệnh nên thầy
có ý bán chiéc xe máy giá 20 đồng lo thuốc thang cho vợ con. Nhưng thầy
tiếc không bán vì chiếc xe máy kiểu Pháp thầy mua tới 40 đồng tức gần
hai tháng lương của thầy. Sau này, thầy thông đi ngang qua một con đường
vắng, thấy đứa con nít còn đỏ hỏn ai bỏ ven đường, thầy lượm đem về
nuôi thì mới phát hiện ra 50 tờ giấy Bạc giấu trong người đứa bé. Từ đó
phất lên làm giàu.
Giấy
bạc 100 là tiền mệnh giá lớn nhất Đông Dương, cho nên số tiền này thuở
đó là rất lớn. Nếu so sánh với bạc hiện nay, thì số tỷ vẫn chưa vừa, vì
tỷ phú ngày nay có hiếm, chớ như hồi năm 1920, khoảng đầu thế kỷ hai
mươi, tờ giấy xăng (100$) có người trọn đời chưa từng thấy lần nào.
Năm 1934 gia tộc nhà ông Lê Phát Đạt –
Tức là Ông Huyện Sỹ (ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu) gả Nguyễn Hữu
Thị Lan về làm hoàng hậu của vua Bảo Đại. Cậu hai Lê Phát An tặng cho
cháu gái 1 triệu đồng tiền mặt làm của hồi môn mang theo để “dằn mặt”
hoàng gia (?). Một triệu đồng Đông Dương hồi đó tương đương bao nhiêu
lượng vàng? Một triệu đồng Đông Dương bằng 10,000 tờ giấy Xăng (tờ giấy
bạc 100 đồng Đông Dương) – số tiền này mua được 22,000 lượng vàng; tính
bằng tiền bây giờ cỡ khoảng hơn ba chục triệu Mỹ kim chứ bao nhiêu chưa
kể 100 năm về trước tiền còn có giá biết chừng nào. Vậy số tiền một
triệu đồng của Cậu Hai Denis Lê Phát An cho bà Nam Phương lớn không thể
tưởng tượng (!).
Chúng
ta cũng không quên ông Nguyễn Hữu Hào bà Lê Thị Bính chỉ có 2 cô con
gái, ngoài một triệu lận lưng khi lấy chồng, sau đó khi cha mẹ chết bà
Nam Phương còn được chia một nửa gia tài của cha mẹ nữa.
Riêng
ở Sài Gòn thời bấy giờ, người ta còn biết đến nhiều triệu phú. Nhưng
trong số các nhà giàu sụ đó, người đời nhớ nhất với câu thành ngữ:
“Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Bổn.”
1. Nhất Sỹ (tên thật Lê Phát Đạt hay còn gọi là Huyện Sỹ)
Ông Huyện Sỹ là đại phú hào đứng đầu “Tứ đại Phú hộ”
của Sài Gòn xưa và là ông ngoại của Nam Phương Hoàng hậu. Tuy xuất thân
bình thường, nhưng nhờ tài trí và tầm nhìn xa, ông đã nhanh chóng tích
lũy khối tài sản khổng lồ.
Sau
thời gian du học Malaysia, ông trở về nước và mua lại ruộng đất bị bỏ
hoang, đầu tư vào trồng lúa. Liên tiếp các vụ mùa bội thu đã giúp ông mở
rộng quy mô đất đai, trở thành chủ sở hữu những cánh đồng “Cò bay mỏi cánh” từ Gò Công, Long An, Tiền Giang đến biên giới Campuchia và dần trở thành một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn.
Dù
sở hữu khối tài sản khổng lồ, gia đình Huyện Sỹ nổi tiếng với lối sống
tiết kiệm, giản dị. Ông còn tự nguyện hiến đất và 1/7 tài sản để xây
dựng nhà thờ Huyện Sỹ trên đường Tôn Thất Tùng, Quận 1. Đây thực sự là
một công trình văn hóa tôn giáo mang dấu ấn lịch sử. Sự giàu có và lòng
nhân ái của đại gia giàu nhất Sài Gòn xưa – Huyện Sỹ đã khiến tên tuổi
ông vượt xa cả vua Bảo Đại, trở thành biểu tượng của sự thành công và
cống hiến trong lịch sử Sài Gòn xưa.
2. Người thứ hai là Tổng đốc Phương. Ông tên thật là Đỗ Hữu Phương (1844-1914)
Vì được Pháp phong hàm Tổng đốc nên ông Đỗ Hữu Phương còn gọi là Tổng đốc Phương.
Đất đai và nhà cửa của ông có rất nhiều tại Chợ Lớn và Long An. Ông
sinh tại Chợ Đũi (Sài Gòn), gốc người Minh Hương, biết chữ Hán, nói được
một số tiếng Pháp. Sau khi Pháp đánh chiếm Gia Định, ông hợp tác với
người Pháp vây bắt một số thủ lĩnh quân nổi dậy chống Pháp như Trương
Quyền, Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân. Năm
1872, ông được Thống đốc Nam Kỳ chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố
Chợ Lớn. Ông là một trong những người đề xướng và đã bỏ tiền ra xây
trường "Collège de Jeunes filles Indigènes" vào năm 1915, tức trường Nữ
Trung học Sài Gòn, mà người dân thường gọi là trường Áo Tím, sau này là
trường Gia Long.
3. Đứng hạng ba là ông Lý Tường Quang còn gọi Bá hộ Xường (1842-1896), tự là Phước Trai, gốc Hoa.
Theo một số ghi chép, ông Lý Tường Quang (Bá hộ Xường)là
người Minh Hương (Hoa Kiều trung thành với nhà Minh) chống lại nhà
Thanh nên đến lánh nạn ở miền Nam Việt Nam. Ông trở thành thông ngôn cho
Pháp nhờ thông thạo cả tiếng Hoa lẫn tiếng Pháp, nhưng sau đó ông nổi
chí muốn làm ăn, buôn bán kinh doanh. Ông có người vợ Việt, tên là
Nguyễn Thị Lâu.
Rời
bỏ vai trò công chức “quèn,” Bá hộ Xường dốc tâm sức vào việc kinh
doanh thịt cá xuất cảng, lương thực, thực phẩm, sau đó mua đất xây cất
biệt thự tại vùng Chợ Lớn để cho thuê và bán. Ngoài ra cũng nhờ biết
cách đi cửa sau, lấy lòng quan Tây, quan ta, ông giàu lên rất nhanh, nổi
tiếng khắp vùng. Ngày nay, vẫn tồn tại hàng loạt kiến trúc đồ sộ khang
trang. Đặc biệt phải kể đến dinh thự rất bề thế của gia đình Bá hộ Xường
(ngày nay là từ đường họ Lý, tọa lạc trên đường Hải Thượng Lãn Ông).
4. Thứ tư là chú Hỏa (tên thật Hứa Bổn Hòa, 1845 – 1901) là đại phú hộ gốc Hoa.
Khác với nhiều lời đồn về việc giàu lên của Chú Hỏa Hứa Bổn Hòa nhờ mua bán ve chai hay nhặt được kho báu. Thành công của Chú Hỏa đến
từ óc kinh doanh nhạy bén và tầm nhìn xa trông rộng. Nhận thấy tiềm
năng của vùng đất hoang phế xung quanh khu vực Bến Thành, người giàu
nhất Sài Gòn – Chú Hỏa quyết đoán san lấp ao hồ để xây dựng chợ mới và
làm chủ đến 20,000 nền nhà tại khu đất này. Sau đó, ông cho xây dựng nhà
phố và cho thuê, từ đó tạo dựng nên khối tài sản bất động sản khổng lồ.
Là
sở hữu chủ của hơn 40% bất động sản tại Sài Gòn và khoảng 30,000 căn
nhà ở các vị trí đắc địa, Chú Hỏa không chỉ làm giàu cho bản thân mà còn
có những đóng góp lớn cho xã hội. Ông đã dành nhiều tâm sức và tài sản
để xây dựng hàng loạt công trình phúc lợi xã hội vẫn còn tồn tại đến nay
như xây dựng Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, Trường THCS (Trung Học Cơ Sở, Trường Cấp 2 - Middle School) Minh Đức (Quận 1)…
Trang Nguyên
Trần Văn Giang (ghi lại)

.639053012797107553.jpg)





.639053012797107553.jpg)










