Văn Học & Nghệ Thuật
"Âm Nhạc Miền Nam và Những Ngày Xưa Thân Ái" - by Vũ Đông Hà ' Trần Văn Giang (ghi lại )
xxx


Nếu
ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể
“giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão “giải phóng ngược
lại” tâm hồn khô khan của người dân miền Bắc và ngay cả các cán binh
cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn
minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái
gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam
Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Nếu
ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay,
biết rung động trước hình ảnh của bà Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ
bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở
của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết buồn man mác mỗi khi đến hè và
trống vắng với một tiếng gà gáy khan ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt
bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây,
biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu
trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Âm
Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh
đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
Tôi
lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn
thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn
Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh
giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở:
“Tôi muốn mọi người biết thương nhau.
Không oán ghét không gây hận sầu.
Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau.
Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”
Các
nhạc sĩ tài hoa như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng
Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành
người, để biết ngước mặt nhìn đời và “Cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”
Những
đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh
lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt
Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình:
“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng.
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm.
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi.
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”
Và
anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở
thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao
Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận “Xương
sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào,
thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy
lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”
Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: “Hy
vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong
lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước
mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…” Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”
Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi: “Tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!”
Nguyễn
Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của
tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường,
Cô Trâm cho cả lớp đồng hợp ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam
Việt Nam, Về Với Mẹ Cha…
Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi hát to lên: “Từ
Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu.
Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong
lòng…”
Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: "Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân…" Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”
Cô
giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế
chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng
gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam
yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của
Tổ tiên.
Trong
cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết
Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc
chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào
ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình
của miền Nam để làm nên “Những Ngày Xưa Thân Ái” của chúng tôi.
“Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…”
Các
anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện
với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy
sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái
cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an
lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
Lần
đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp
hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt
Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ,
một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt
của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà
Thầy yêu thích lúc còn sống:
“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo…
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này.
Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”
Và
tôi say mê “Mùa Thu Chết” từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy
lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ
vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng
Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi “anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh…”
và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa
của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết
thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần
trong lòng chúng tôi. Những “Cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
Nhìn
lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa
không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của
một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho
anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt
tình yêu Nước vào nôi,” chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”
Chúng
tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm
thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát:
“Tôi thức từng đêm,
Thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng.
Mẹ là mẹ trùng dương,
Gào than từ bãi trước ghềnh sau.
Tuổi trời qua mau,
Gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi.
Nên năm hăm mốt tuổi,
Tôi đi vào quân đội.
Mà lòng thì chưa hề yêu ai.”
Chúng
tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy
Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng
Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi
thuộc lòng khúc hát:
“Toumorong, Dakto, Krek, Snoul.
Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu.
Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình.
Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”
Chúng tôi không biết “Phá” là gì” “Tam Giang” ở đâu? Nhà thơ Tô Thùy Yên là ai”? Nhưng lời hát như:
“Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em,
Nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…”
đã
thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh
chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng
tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
Trong
cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ
của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành.”
Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm."
Giữa
những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những
người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”
Âm
nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường,
rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi
– những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương,
khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.
Sau
ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn.
Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi
đến với "Một thời để yêu – Một thời để chết." Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ
tình yêu với những “Vũng lầy của chúng ta,” “Con đường tình ta đi,”
“Bây giờ tháng mấy,” “Ngày xưa Hoàng Thị,” “Tình đầu tình cuối,” “Em
hiền như Ma Soeur,” “Trên đỉnh mùa đông,” “Trả lại em yêu…”
Đó
là lúc Cô đọc thơ “Chiều trên Phá Tam Giang” của Tô Thùy Yên cho chúng
tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện
Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”
khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em
ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát.
Những
buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc
phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc
Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn –
Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện
tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô
hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ
Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:
“Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
Con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
Tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
Nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”
Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.
Cô
giáo tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là
Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách
đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”
để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn
tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và
nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào
tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
Một
buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên
Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước
1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành
trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự
nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại.
Sống
lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế
độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các
em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu
chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh
sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”
Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi...” Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh:
“Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến,
Súng trên vai bước lê qua đường phố;
Tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,
Tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…”
Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:
“Như phai nhạt mờ,
Đường xanh nho nhỏ,
Hôm nay tình cờ,
Đi lại đường xưa, đường xưa...
Cây xưa còn gầy,
Nằm phơi dáng đỏ,
Áo em ngày nọ,
Phai nhạt mây màu,
Âm vang thuở nào,
Bước nhỏ tìm nhau, tìm nhau…”
Đêm
ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm
Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát
lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng
khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà,
một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm
hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân
ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến
về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những
thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
Hơn
42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong
tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên
Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang
bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng
cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người
miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những
người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam
dành cho họ.
42
năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong
cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm
mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng
âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép,
bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người
dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau
1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách
cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam
ra khỏi con người Việt Nam.
Ai
giải phóng ai? Hãy hỏi “Con Đường Xưa Em Đi” và đốt đuốc đi tìm xem
“Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân” đang nằm trong cống rãnh nào trên những
con đường Việt Nam!!!
Vũ Đông Hà
24.03.2017
Trần Văn Giang (ghi lại)
Bàn ra tán vào (0)
Các tin đã đăng
- "Bolero và Tản Mạn Nhạc Vàng" - by Niệm Từ / Trần Văn Giang (ghi lại).
- "Bolero và Tản Mạn Nhạc Vàng" - by Niệm Từ / Trần Văn Giang (ghi lại).
- "Các chữ Hán Việt thường dùng sai" - by Lê Vĩnh Húy / Trần Văn Giang (ghi lại)
- 14 BÀI THƠ ĐỘC VẬN 7 CHỮ - Đặng Xuân Xuyến
- Sài Gòn niềm nhớ không nguôi - Nguyễn Duy Phước
"Âm Nhạc Miền Nam và Những Ngày Xưa Thân Ái" - by Vũ Đông Hà ' Trần Văn Giang (ghi lại )
xxx

Nếu
ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể
“giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão “giải phóng ngược
lại” tâm hồn khô khan của người dân miền Bắc và ngay cả các cán binh
cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn
minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái
gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam
Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Nếu
ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay,
biết rung động trước hình ảnh của bà Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ
bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở
của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết buồn man mác mỗi khi đến hè và
trống vắng với một tiếng gà gáy khan ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt
bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây,
biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu
trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Âm
Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh
đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
Tôi
lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn
thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn
Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh
giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở:
“Tôi muốn mọi người biết thương nhau.
Không oán ghét không gây hận sầu.
Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau.
Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”
Các
nhạc sĩ tài hoa như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng
Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành
người, để biết ngước mặt nhìn đời và “Cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”
Những
đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh
lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt
Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình:
“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng.
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm.
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi.
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”
Và
anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở
thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao
Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận “Xương
sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào,
thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy
lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”
Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: “Hy
vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong
lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước
mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…” Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”
Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi: “Tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!”
Nguyễn
Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của
tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường,
Cô Trâm cho cả lớp đồng hợp ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam
Việt Nam, Về Với Mẹ Cha…
Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi hát to lên: “Từ
Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu.
Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong
lòng…”
Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: "Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân…" Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”
Cô
giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế
chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng
gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam
yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của
Tổ tiên.
Trong
cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết
Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc
chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào
ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình
của miền Nam để làm nên “Những Ngày Xưa Thân Ái” của chúng tôi.
“Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…”
Các
anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện
với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy
sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái
cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an
lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
Lần
đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp
hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt
Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ,
một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt
của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà
Thầy yêu thích lúc còn sống:
“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo…
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này.
Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”
Và
tôi say mê “Mùa Thu Chết” từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy
lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ
vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng
Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi “anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh…”
và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa
của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết
thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần
trong lòng chúng tôi. Những “Cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
Nhìn
lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa
không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của
một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho
anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt
tình yêu Nước vào nôi,” chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”
Chúng
tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm
thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát:
“Tôi thức từng đêm,
Thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng.
Mẹ là mẹ trùng dương,
Gào than từ bãi trước ghềnh sau.
Tuổi trời qua mau,
Gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi.
Nên năm hăm mốt tuổi,
Tôi đi vào quân đội.
Mà lòng thì chưa hề yêu ai.”
Chúng
tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy
Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng
Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi
thuộc lòng khúc hát:
“Toumorong, Dakto, Krek, Snoul.
Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu.
Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình.
Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”
Chúng tôi không biết “Phá” là gì” “Tam Giang” ở đâu? Nhà thơ Tô Thùy Yên là ai”? Nhưng lời hát như:
“Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em,
Nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…”
đã
thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh
chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng
tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
Trong
cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ
của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành.”
Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm."
Giữa
những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những
người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”
Âm
nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường,
rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi
– những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương,
khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.
Sau
ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn.
Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi
đến với "Một thời để yêu – Một thời để chết." Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ
tình yêu với những “Vũng lầy của chúng ta,” “Con đường tình ta đi,”
“Bây giờ tháng mấy,” “Ngày xưa Hoàng Thị,” “Tình đầu tình cuối,” “Em
hiền như Ma Soeur,” “Trên đỉnh mùa đông,” “Trả lại em yêu…”
Đó
là lúc Cô đọc thơ “Chiều trên Phá Tam Giang” của Tô Thùy Yên cho chúng
tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện
Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”
khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em
ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát.
Những
buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc
phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc
Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn –
Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện
tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô
hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ
Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:
“Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
Con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
Tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
Nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”
Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.
Cô
giáo tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là
Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách
đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”
để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn
tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và
nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào
tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
Một
buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên
Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước
1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành
trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự
nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại.
Sống
lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế
độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các
em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu
chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh
sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”
Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi...” Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh:
“Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến,
Súng trên vai bước lê qua đường phố;
Tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,
Tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…”
Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:
“Như phai nhạt mờ,
Đường xanh nho nhỏ,
Hôm nay tình cờ,
Đi lại đường xưa, đường xưa...
Cây xưa còn gầy,
Nằm phơi dáng đỏ,
Áo em ngày nọ,
Phai nhạt mây màu,
Âm vang thuở nào,
Bước nhỏ tìm nhau, tìm nhau…”
Đêm
ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm
Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát
lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng
khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà,
một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm
hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân
ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến
về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những
thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
Hơn
42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong
tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên
Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang
bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng
cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người
miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những
người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam
dành cho họ.
42
năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong
cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm
mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng
âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép,
bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người
dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau
1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách
cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam
ra khỏi con người Việt Nam.
Ai
giải phóng ai? Hãy hỏi “Con Đường Xưa Em Đi” và đốt đuốc đi tìm xem
“Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân” đang nằm trong cống rãnh nào trên những
con đường Việt Nam!!!
Vũ Đông Hà
24.03.2017
Trần Văn Giang (ghi lại)
639101348103272956.jpg)





639101348103272956.jpg)










