Tin nóng trong ngày
"Điếu Đóm Xưa Nay" - by Trang Nguyên / Trần Văn Giang (ghi lại).
xxx
Câu
quảng cáo bá đạo này tưởng người đời nói chơi cho vui, thế nhưng nó lại
là một kiểu quảng bá truyền miệng có từ những năm ba mươi của thế kỷ
trước. Không chỉ có ở nước mình đâu, ngay trên các bao thuốc lá
Marlboro, xì gà Marshall hay nhiều thương hiệu thuốc lá khác ở Mỹ cách
nay trăm năm đều hãnh diện ghi trên bao bì “Hút thuốc trị hen suyễn, cảm lạnh hay khó thở.”
Ngày nay, trước những tác hại do hút thuốc lá gây ra cho sức khoẻ nhân
loại những kiểu quảng cáo như thế này bất kỳ ở đâu đều bị xem là vi phạm
luật pháp.
Tôi
biết một vị Cha xứ người Bắc rất thích hút thuốc lào. Ở xứ người lâu
năm tưởng ông đã chôn ống điếu nơi quê nhà. Nào ngờ đến nhà ông chơi mới
thấy mấy bành thuốc lào, vài ba ống điếu lớn nhỏ cất ngoài garage. Ôi
cha, ca dao xưa từng nói:
“Nhớ ai như nhớ thuốc lào.
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.”
Ông cười bằng đôi mắt nhưng lời nói tựa thở than: “Không có điếu đóm, thì cuộc đời này tẻ nhạt vô cùng!”
Mỗi khi cơm nước xong, ông ra ngoài nhà xe kéo vài hơi. Ông ngồi trên
ghế bành, chậm rãi vân vê từng sợi thuốc trên đầu ngón tay, vo tròn bằng
viên bi tra vào nõ điếu. Đâu đó xong xuôi, ông rút một chân tre khô chẻ
sẵn, châm mồi lửa đưa vào nõ thuốc. Ban đầu, ông rít từng hơi ngắn, đầu
nõ cháy đỏ, rồi hút một hơi thật dài, tiếng ro re trong điếu vang nghe
ấm nồng vui tai. Bấy giờ, Cha mới ngả lưng vào ghế, miệng phả nhẹ từng
làn khói trắng, lòng sảng khoái vô cùng.
Nhiều
người khách khác không riêng gì tôi đến nhà thăm Cha, nhìn ông xơi
thuốc mà lòng cảm thấy sự thèm thuồng. Sự kích thích thị giác này rất dễ
lây cho người biết hút thuốc dẫu rằng tôi chẳng mê thuốc lào, chỉ phì
phà thuốc điếu. Hút thuốc có hại cho sức khoẻ. Biết thế nhưng không có
nó thì cuộc sống dường như thiếu đi cái gì; giống như một người uống
rượu khan mà bên cạnh không có bạn tâm giao. Hành vi đó lâu ngày trở
thành thói quen; giống như cỗ máy cài sẵn chương trình, cứ đến thời khắc
nhất định nào đó tuỳ theo thể chất của từng người thì nó lại xuất hiện
trong não bộ nhắc nhở người ta lặp lại hành vi.
Thuốc
lào chẳng qua là một loại lá xắt sợi phơi khô từ cây thuốc lá nguyên
thuỷ có chất nicotine nhiều gấp bảy tám lần thuốc điếu. Do đó mà người
nghiện thuốc lào một ngày không có thuốc thì thấy bứt rứt nhơ nhớ trong
lòng. Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn gọi cây thuốc lào là “Tương tư thảo (?)”
(Cỏ nhớ thương). Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, cây thuốc lào từ Lào
(Ai Lao) du nhập vào Việt Nam nên mới có tên gọi như thế (?). Cũng có
tài liệu khác cho rằng, cây thuốc lào được sử dụng làm thuốc hút lần đầu
tiên ở miền Bắc bởi cụ Hồ Lào vào thế kỷ 18, chính thức được đặt tên
thương hiệu là thuốc Lào và được lưu hành rộng rãi trên thị trường ba
nước Đông Dương dưới sự bảo trợ của Pháp.
Miền
Trung Ngũ Quảng, người ta lại hút thuốc Cẩm Lệ (giống như sợi thuốc
lào) gói trong giấy quyến, vấn hình sâu kèn. Thuốc Cẩm Lệ nổi tiếng ở
Huế nhưng thật sự gốc gác trồng ra loại thuốc lá này lại ở đất Quảng Nam
tại làng Cẩm Lệ. Đất ở đây trồng ra cây thuốc cho lá to ngon nhưng tiếc
thay lại không biết cách chế biến tẩm ướp làm cho nó ngon như ở Huế. Lá
thuốc thu hoạch, phơi khô bó quấn thành dây to như dây thừng, rồi đưa
ra Huế chế biến thành thuốc ngon. Mùi thuốc Cẩm Lệ nồng gắt đối với
người chưa quen nhưng với người từng hút thì lại là một mùi thơm dễ kích
thích cơn thèm thuốc. Người dân quê Ngũ Quảng đàn ông đàn bà ai cũng
thích Cẩm Lệ, thường thì phần đông hút chừng hơn nửa điếu rồi đem dụi
dán lên cột nhà hay dưới phản, để khi thuốc cạn trong túi, đi lòng vòng
nhặt “dế cơm” hút lại.
Nói đến chuyện nhặt “dế cơm”
thì tôi lại nhớ đến ông Năm Gò trong một lần tôi ghé Xóm Thuốc ở Gò Vấp
xem người ta có còn trồng thuốc lá cách nay hơn ba mươi năm. Đến ngôi
nhà gỗ truyền thống của ông chơi, hỏi han chuyện xưa ở đất này, ông nói:
- “Giờ
đây còn đâu Xóm Thuốc. Người ta cất nhà lên đất từ thập niên 1950. Xóm
Thuốc chỉ còn trong dĩ vãng của người già chúng tôi. Ngay cả chuyện điếu
đóm thuốc rê sau này, tôi phải tiết kiệm, hút nửa chừng, dán đót thuốc
lên cột nhà, thỉnh thoảng ra bắt một con ‘dế cơm’ đốt lại.”
Nghe
ông Năm nói khiến tôi lại ngợ. Thuốc rê rẻ rề sao lại lo xa tiết kiệm
quá xá hay là do thói quen của người hút thuốc rê thích để lại nửa con
sâu kèn đeo cột để khi cần hút cho nó ngon. Người ta thường nói: “Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu.”
Ở
Gò Vấp còn có một nơi bán thuốc rê đóng từng miếng hình chữ nhật, đó là
Xóm Mới. Xóm Mới tất nhiên do mới hình thành, cũng như chợ Xóm Mới xuất
hiện ngay từ lúc người Bắc di cư mới đến (đợt đầu năm 1930). Chợ này
nổi tiếng bán thuốc rê (thuốc Gò) nổi tiếng Nam kỳ Lục tỉnh, thuốc lào
ba số 333 hoặc ba số 555, thuốc xỉa cho người ăn trầu. Thuốc xỉa cũng là
loại thuốc lào hay thuốc rê nhưng không dùng để hút vì nguyên liệu làm
thuốc xỉa bằng những lá thuốc già xắt sợi. Người ăn trầu ngậm cục thuốc
xỉa bằng môi trên ở một phía cửa miệng dùng để tẩy bã trầu bám vào răng
trong lúc nhai. Khi nào nhai xong nhả bỏ bã trầu thì bỏ luôn cục thuốc
xỉa. Vì thế trong dân gian có câu ca dao ví trầu thuốc như tình nghĩa vợ
chồng: “Ăn trầu là nghĩa, thuốc xỉa là tình.”
Xóm
Thuốc đã hình thành từ xa xưa, là nơi trồng cây thuốc lá cung cấp
nguyên liệu cho nhà máy sản xuất thuốc lá Bastos, Mélia của Pháp thành
lập ở Vĩnh Hội do nhu cầu thích hút thuốc điếu của lính tráng, công tư
chức tăng cao. Người lao động phu phen thợ thuyền vẫn quen vấn thuốc rê
cho đỡ tốn tiền. Một số người nhất là giới văn nghệ sĩ lại thích hút
“Pipe” (ống vố), loại thuốc để hút thường là loại ngon hương thơm ngào
ngạt được nhập cảng từ Pháp.
Hãng
thuốc lá Juan Bastos nằm trên đường Tôn Thất Thuyết, quận 4, hình thành
từ năm 1936. Hãng này ra đời nhằm cạnh tranh với hãng thuốc lá MIC ra
đời trước đó gần mười năm (1929). Juan Bastos tập trung sản xuất thuốc
lá dành cho giới bình dân với thương hiệu Bastos xanh, Bastos đỏ bằng
nguyên liệu sợi thuốc đen. Hai loại này hút đều nặng như nhau, mặc dầu
báo chí quảng cáo Bastos đỏ hút nhẹ nhàng êm dịu. Riêng thuốc gói Mélia
vàng, Mélia trắng thì đúng là thuốc thơm, nhẹ. Hầu hết giới trung lưu
đều thích loại này. Đến giữa thập niên 1960, thuốc Mélia ngưng sản xuất,
thay vào đó nhà máy chuẩn bị cho ra sản phẩm mới loại Bastos Deluxe có
đầu lọc. Hãng thuốc tung ra khẩu hiệu quảng cáo: “Hỡi ai đi sớm về trưa / Kìa Bát Tốt Lút đón đưa chào mời / Hương thơm khói đậm tuyệt vời / Hút vào một điếu cho đời thêm tươi.”
Nhà
máy thuốc lá MIC nằm trên đường Nguyễn Hoàng quận 5. Từ khi thành lập,
với vốn sản xuất rất mạnh, có sự đầu tư của các tập đoàn nước ngoài như
BAT của Anh, Ford, Rockefelle của Mỹ, máy móc công suất lớn cho ra
nhiều sản lượng. Mỗi năm hãng này đưa ra thị trường gần 50 triệu bao
thuốc các loại. Đến trước 1975, sản lượng tăng lên hơn trăm triệu gói
thuốc. Thuốc lá của hãng MIC chủ yếu nhắm vào thị hiếu của giới thanh
niên và giới trung lưu, các thương hiệu như Cotab, Mic Extra, Ruby
Queen, President rất phổ biến. Capstan có đầu lọc và không đầu lọc được
tung ra thị trường vào đầu thập niên 1960 thu hút được giới tiêu dùng
rộng rãi do hình thức bao bì bắt mắt và thơm dịu. Cả hai hãng Bastos và
MIC đều tham gia đưa mặt hàng của mình với giá rẻ hơn ngoài thị trường
vào Quân Tiếp Vụ, phục vụ quân nhân như Ruby Queen mặt trước có hình anh
lính cầm súng trên nên cờ, mặt sau có biểu tượng quân dân cán chính và
Bastos trắng có hình con chuồn chuồn vào đầu thập niên 1970.
Cũng
vào thời gian này, trước đó vài năm thì thị trường thuốc lá lẻ tràn
ngập các loại thuốc nhập từ Mỹ, nhất là sau khi mở các cửa hàng PX bán
đồ tiêu dùng cho quân nhân Mỹ tham chiến tại miền Nam. Đủ các hiệu thuốc
lá: Pallmall, Camel, Craven A, Marlboro, Salem… và xì gà các loại. Thế
nhưng thuốc nội địa vẫn được người Sài Gòn ưa thích, nhất là Capstan.
Tôi nhớ hồi còn nhỏ từ đám bạn bè học lóm đâu đó vài ba câu dí dỏm dành
cho loại thuốc thơm này. Người buồn tình thì bảo “Cho Anh Phát Súng Tim Anh Nát,” hay lãng mạn hơn thì tặng cho người tình “Chiếc Áo Phong Sương Tặng Ấm Nàng.” Còn người làm ăn thua lỗ lại than “Con Anh Phá Sản Tại Anh Ngu.” Còn nhiều hiệu thuốc khác nữa, như Salem ("Sao Em Làm Em Mệt!") chẳng hạn, đọc lên nghe tá hoả thần hồn.
Những câu dí dỏm về chuyện thuốc lá nói cho vui vậy thôi, chứ làm sao hay và đẹp bằng những lời văn trong thơ nhạc:
“… Ngó trên tay điếu thuốc đã lụi dần
Tôi nói khẽ: ‘Gớm, làm sao nhớ thế!’ ”
(“Ngập ngừng” - Hồ Dzếnh).
Trang Nguyên
"Điếu Đóm Xưa Nay" - by Trang Nguyên / Trần Văn Giang (ghi lại).
xxx
Câu
quảng cáo bá đạo này tưởng người đời nói chơi cho vui, thế nhưng nó lại
là một kiểu quảng bá truyền miệng có từ những năm ba mươi của thế kỷ
trước. Không chỉ có ở nước mình đâu, ngay trên các bao thuốc lá
Marlboro, xì gà Marshall hay nhiều thương hiệu thuốc lá khác ở Mỹ cách
nay trăm năm đều hãnh diện ghi trên bao bì “Hút thuốc trị hen suyễn, cảm lạnh hay khó thở.”
Ngày nay, trước những tác hại do hút thuốc lá gây ra cho sức khoẻ nhân
loại những kiểu quảng cáo như thế này bất kỳ ở đâu đều bị xem là vi phạm
luật pháp.
Tôi
biết một vị Cha xứ người Bắc rất thích hút thuốc lào. Ở xứ người lâu
năm tưởng ông đã chôn ống điếu nơi quê nhà. Nào ngờ đến nhà ông chơi mới
thấy mấy bành thuốc lào, vài ba ống điếu lớn nhỏ cất ngoài garage. Ôi
cha, ca dao xưa từng nói:
“Nhớ ai như nhớ thuốc lào.
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.”
Ông cười bằng đôi mắt nhưng lời nói tựa thở than: “Không có điếu đóm, thì cuộc đời này tẻ nhạt vô cùng!”
Mỗi khi cơm nước xong, ông ra ngoài nhà xe kéo vài hơi. Ông ngồi trên
ghế bành, chậm rãi vân vê từng sợi thuốc trên đầu ngón tay, vo tròn bằng
viên bi tra vào nõ điếu. Đâu đó xong xuôi, ông rút một chân tre khô chẻ
sẵn, châm mồi lửa đưa vào nõ thuốc. Ban đầu, ông rít từng hơi ngắn, đầu
nõ cháy đỏ, rồi hút một hơi thật dài, tiếng ro re trong điếu vang nghe
ấm nồng vui tai. Bấy giờ, Cha mới ngả lưng vào ghế, miệng phả nhẹ từng
làn khói trắng, lòng sảng khoái vô cùng.
Nhiều
người khách khác không riêng gì tôi đến nhà thăm Cha, nhìn ông xơi
thuốc mà lòng cảm thấy sự thèm thuồng. Sự kích thích thị giác này rất dễ
lây cho người biết hút thuốc dẫu rằng tôi chẳng mê thuốc lào, chỉ phì
phà thuốc điếu. Hút thuốc có hại cho sức khoẻ. Biết thế nhưng không có
nó thì cuộc sống dường như thiếu đi cái gì; giống như một người uống
rượu khan mà bên cạnh không có bạn tâm giao. Hành vi đó lâu ngày trở
thành thói quen; giống như cỗ máy cài sẵn chương trình, cứ đến thời khắc
nhất định nào đó tuỳ theo thể chất của từng người thì nó lại xuất hiện
trong não bộ nhắc nhở người ta lặp lại hành vi.
Thuốc
lào chẳng qua là một loại lá xắt sợi phơi khô từ cây thuốc lá nguyên
thuỷ có chất nicotine nhiều gấp bảy tám lần thuốc điếu. Do đó mà người
nghiện thuốc lào một ngày không có thuốc thì thấy bứt rứt nhơ nhớ trong
lòng. Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn gọi cây thuốc lào là “Tương tư thảo (?)”
(Cỏ nhớ thương). Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, cây thuốc lào từ Lào
(Ai Lao) du nhập vào Việt Nam nên mới có tên gọi như thế (?). Cũng có
tài liệu khác cho rằng, cây thuốc lào được sử dụng làm thuốc hút lần đầu
tiên ở miền Bắc bởi cụ Hồ Lào vào thế kỷ 18, chính thức được đặt tên
thương hiệu là thuốc Lào và được lưu hành rộng rãi trên thị trường ba
nước Đông Dương dưới sự bảo trợ của Pháp.
Miền
Trung Ngũ Quảng, người ta lại hút thuốc Cẩm Lệ (giống như sợi thuốc
lào) gói trong giấy quyến, vấn hình sâu kèn. Thuốc Cẩm Lệ nổi tiếng ở
Huế nhưng thật sự gốc gác trồng ra loại thuốc lá này lại ở đất Quảng Nam
tại làng Cẩm Lệ. Đất ở đây trồng ra cây thuốc cho lá to ngon nhưng tiếc
thay lại không biết cách chế biến tẩm ướp làm cho nó ngon như ở Huế. Lá
thuốc thu hoạch, phơi khô bó quấn thành dây to như dây thừng, rồi đưa
ra Huế chế biến thành thuốc ngon. Mùi thuốc Cẩm Lệ nồng gắt đối với
người chưa quen nhưng với người từng hút thì lại là một mùi thơm dễ kích
thích cơn thèm thuốc. Người dân quê Ngũ Quảng đàn ông đàn bà ai cũng
thích Cẩm Lệ, thường thì phần đông hút chừng hơn nửa điếu rồi đem dụi
dán lên cột nhà hay dưới phản, để khi thuốc cạn trong túi, đi lòng vòng
nhặt “dế cơm” hút lại.
Nói đến chuyện nhặt “dế cơm”
thì tôi lại nhớ đến ông Năm Gò trong một lần tôi ghé Xóm Thuốc ở Gò Vấp
xem người ta có còn trồng thuốc lá cách nay hơn ba mươi năm. Đến ngôi
nhà gỗ truyền thống của ông chơi, hỏi han chuyện xưa ở đất này, ông nói:
- “Giờ
đây còn đâu Xóm Thuốc. Người ta cất nhà lên đất từ thập niên 1950. Xóm
Thuốc chỉ còn trong dĩ vãng của người già chúng tôi. Ngay cả chuyện điếu
đóm thuốc rê sau này, tôi phải tiết kiệm, hút nửa chừng, dán đót thuốc
lên cột nhà, thỉnh thoảng ra bắt một con ‘dế cơm’ đốt lại.”
Nghe
ông Năm nói khiến tôi lại ngợ. Thuốc rê rẻ rề sao lại lo xa tiết kiệm
quá xá hay là do thói quen của người hút thuốc rê thích để lại nửa con
sâu kèn đeo cột để khi cần hút cho nó ngon. Người ta thường nói: “Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu.”
Ở
Gò Vấp còn có một nơi bán thuốc rê đóng từng miếng hình chữ nhật, đó là
Xóm Mới. Xóm Mới tất nhiên do mới hình thành, cũng như chợ Xóm Mới xuất
hiện ngay từ lúc người Bắc di cư mới đến (đợt đầu năm 1930). Chợ này
nổi tiếng bán thuốc rê (thuốc Gò) nổi tiếng Nam kỳ Lục tỉnh, thuốc lào
ba số 333 hoặc ba số 555, thuốc xỉa cho người ăn trầu. Thuốc xỉa cũng là
loại thuốc lào hay thuốc rê nhưng không dùng để hút vì nguyên liệu làm
thuốc xỉa bằng những lá thuốc già xắt sợi. Người ăn trầu ngậm cục thuốc
xỉa bằng môi trên ở một phía cửa miệng dùng để tẩy bã trầu bám vào răng
trong lúc nhai. Khi nào nhai xong nhả bỏ bã trầu thì bỏ luôn cục thuốc
xỉa. Vì thế trong dân gian có câu ca dao ví trầu thuốc như tình nghĩa vợ
chồng: “Ăn trầu là nghĩa, thuốc xỉa là tình.”
Xóm
Thuốc đã hình thành từ xa xưa, là nơi trồng cây thuốc lá cung cấp
nguyên liệu cho nhà máy sản xuất thuốc lá Bastos, Mélia của Pháp thành
lập ở Vĩnh Hội do nhu cầu thích hút thuốc điếu của lính tráng, công tư
chức tăng cao. Người lao động phu phen thợ thuyền vẫn quen vấn thuốc rê
cho đỡ tốn tiền. Một số người nhất là giới văn nghệ sĩ lại thích hút
“Pipe” (ống vố), loại thuốc để hút thường là loại ngon hương thơm ngào
ngạt được nhập cảng từ Pháp.
Hãng
thuốc lá Juan Bastos nằm trên đường Tôn Thất Thuyết, quận 4, hình thành
từ năm 1936. Hãng này ra đời nhằm cạnh tranh với hãng thuốc lá MIC ra
đời trước đó gần mười năm (1929). Juan Bastos tập trung sản xuất thuốc
lá dành cho giới bình dân với thương hiệu Bastos xanh, Bastos đỏ bằng
nguyên liệu sợi thuốc đen. Hai loại này hút đều nặng như nhau, mặc dầu
báo chí quảng cáo Bastos đỏ hút nhẹ nhàng êm dịu. Riêng thuốc gói Mélia
vàng, Mélia trắng thì đúng là thuốc thơm, nhẹ. Hầu hết giới trung lưu
đều thích loại này. Đến giữa thập niên 1960, thuốc Mélia ngưng sản xuất,
thay vào đó nhà máy chuẩn bị cho ra sản phẩm mới loại Bastos Deluxe có
đầu lọc. Hãng thuốc tung ra khẩu hiệu quảng cáo: “Hỡi ai đi sớm về trưa / Kìa Bát Tốt Lút đón đưa chào mời / Hương thơm khói đậm tuyệt vời / Hút vào một điếu cho đời thêm tươi.”
Nhà
máy thuốc lá MIC nằm trên đường Nguyễn Hoàng quận 5. Từ khi thành lập,
với vốn sản xuất rất mạnh, có sự đầu tư của các tập đoàn nước ngoài như
BAT của Anh, Ford, Rockefelle của Mỹ, máy móc công suất lớn cho ra
nhiều sản lượng. Mỗi năm hãng này đưa ra thị trường gần 50 triệu bao
thuốc các loại. Đến trước 1975, sản lượng tăng lên hơn trăm triệu gói
thuốc. Thuốc lá của hãng MIC chủ yếu nhắm vào thị hiếu của giới thanh
niên và giới trung lưu, các thương hiệu như Cotab, Mic Extra, Ruby
Queen, President rất phổ biến. Capstan có đầu lọc và không đầu lọc được
tung ra thị trường vào đầu thập niên 1960 thu hút được giới tiêu dùng
rộng rãi do hình thức bao bì bắt mắt và thơm dịu. Cả hai hãng Bastos và
MIC đều tham gia đưa mặt hàng của mình với giá rẻ hơn ngoài thị trường
vào Quân Tiếp Vụ, phục vụ quân nhân như Ruby Queen mặt trước có hình anh
lính cầm súng trên nên cờ, mặt sau có biểu tượng quân dân cán chính và
Bastos trắng có hình con chuồn chuồn vào đầu thập niên 1970.
Cũng
vào thời gian này, trước đó vài năm thì thị trường thuốc lá lẻ tràn
ngập các loại thuốc nhập từ Mỹ, nhất là sau khi mở các cửa hàng PX bán
đồ tiêu dùng cho quân nhân Mỹ tham chiến tại miền Nam. Đủ các hiệu thuốc
lá: Pallmall, Camel, Craven A, Marlboro, Salem… và xì gà các loại. Thế
nhưng thuốc nội địa vẫn được người Sài Gòn ưa thích, nhất là Capstan.
Tôi nhớ hồi còn nhỏ từ đám bạn bè học lóm đâu đó vài ba câu dí dỏm dành
cho loại thuốc thơm này. Người buồn tình thì bảo “Cho Anh Phát Súng Tim Anh Nát,” hay lãng mạn hơn thì tặng cho người tình “Chiếc Áo Phong Sương Tặng Ấm Nàng.” Còn người làm ăn thua lỗ lại than “Con Anh Phá Sản Tại Anh Ngu.” Còn nhiều hiệu thuốc khác nữa, như Salem ("Sao Em Làm Em Mệt!") chẳng hạn, đọc lên nghe tá hoả thần hồn.
Những câu dí dỏm về chuyện thuốc lá nói cho vui vậy thôi, chứ làm sao hay và đẹp bằng những lời văn trong thơ nhạc:
“… Ngó trên tay điếu thuốc đã lụi dần
Tôi nói khẽ: ‘Gớm, làm sao nhớ thế!’ ”
(“Ngập ngừng” - Hồ Dzếnh).
Trang Nguyên



.639036537080968570.jpg)





.639036537080968570.jpg)








