Văn Học & Nghệ Thuật

LƯƠNG CHÂU TỪ - RƯỢU VÀ NỖI SẦU CHINH CHIẾN - PHẠM ĐỨC NHÌ

Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy
304
LƯƠNG CHÂU TỪ - RƯỢU VÀ NỖI SẦU CHINH CHIẾN

 

“Lương Châu” Và “Từ”  

 

Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy, trước đây là nơi hàng bao thế kỷ người Hồ và người Hán đánh nhau. Lương Châu Từ là một điệu hát cổ nói về chuyện trận mạc biên ải. Những điệu hát cổ như: Thượng Chi Hồi, Chiến Thành NamThương Tiến TửuQuân Mã HoàngViễn Như KỳHoàng Tước HànhLạc Mai Hoa, v.v... được các thi nhân thời trước lấy làm đầu đề để sáng tác. (thivien.net/Vương-Hàn/Lương-Châu-từ-kỳ-1/poem) (1)

 

Từ, nói chung, là một khúc nhạc. Có rất nhiều điệu Từ. Mỗi điệu có một từ phổ, tác giả phải tìm những chữ thích hợp về thanh âm với công thức từ phổ để điền vào. Sáng tác Từ còn gọi là Điền Từ.

 

Như vậy, có thể nói Lương Châu Từ là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, luật bằng, vần bằng được tác giả khéo léo điền vào ăn khớp với một từ phổ của xứ Lương Châu. Đo đó, Lương Châu Từ còn được gọi là Khúc Hát Lương Châu.

 

Với thơ thất ngôn tứ tuyệt thì “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”. Tuy nhiên, khi điền từ thì “nhất tam ngũ” nhiều khi cũng không được “bất luận” mà phải “uốn mình” cho hợp với thanh âm của công thức từ phổ.

 

Đây là bài bình thơ nên tôi chỉ bàn đến khía cạnh văn chương – nghĩa là sẽ đối xử với Lương Châu Từ như một bài thơ. Còn lãnh vực âm nhạc xin mời các cao nhân khác.

 

LƯƠNG CHÂU TỪ

 

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

VUONG HÀN (1)

 

2/ Ba Cách Hiểu – Ba Bản Dịch 

 

Câu thứ hai của bài thơ

 

Dục ẩm, tỳ bà mã thượng thôi

 

có 3 cách hiểu.

 

1/ Muốn uống (mà chưa uống) thì tiếng nhạc của nhóm nhạc công “cỡi ngựa chơi đàn tỳ bà” đã vang lên thúc giục, khuyên mời (uống rượu). Ở đây “tỳ bà mã thượng” được hiểu là nhóm nhạc công chuyên chơi đàn tỳ bà trên lưng ngựa.

 

2/ Muốn uống (mà chưa uống) thì ngay lập tức tiếng đàn tỳ bà đã vang lên thúc giục, khuyên mời (uống rượu). Ở đây “mã thượng” được hiểu là ngay lập tức, tức thì.

 

3/ Muốn uống nhưng tiếng đàn tỳ bà đã thúc giục lên ngựa ra đi.

 

Do câu thứ hai có 3 cách hiểu nên bài thơ có 3 bản dịch khác nhau.

 

1/

Rượu bồ đào rót vào chén dạ quang, mới dợm uống thì tiếng tỳ bà trên lưng ngựa đã giục giã khuyên mời. Đừng cười ta say vùi năm lăn trên bãi cát, anh nhé, vì xưa nay chinh chiến đã mấy ai sống sót mà về. (Khúc Hát Lương Châu, Chin Shun-Shin, Nguyễn Nam Trân dịch) (2)

2/

Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly

Mới dợm uống thì đàn tỳ bà đã ngay lập tức giục giã khuyên mời

Nếu có say nằm lăn trên bãi cát xin bạn chớ cười (sa trường là bãi cát, nơi tập họp quân, chờ lên đường)

Bởi xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.

(Tự dịch)

3/

Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, bác chớ cười (sa trường là chiến trường)
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.

(Wikisource) (3)                         

Tác Giả Và Bối Cảnh Của Bài Thơ

Tác giả của Lương Châu Từ là Vương Hàn (687 – 735) - tự Tử Vũ, người đất Tấn Dương (nay thuộc thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây). Thi đỗ Tiến Sĩ, đã từng được Tể Tướng Trương Thuyết mời về kinh đô làm Bí Thư Chính Tự, lo việc thư tịch.

 

Ông vốn con nhà giàu có, tính tình hào phóng phong lưu, hơi tự cao; khi uống rượu vui chơi thường sánh mình với các bậc vương hầu nên bị nhiều người đố kỵ. Năm 726, Trương Thuyết thất sủng phải giáng làm Trưởng Sử Nhữ Châu, Vương Hàn cũng bị đổi ra Tiên Châu (nay thuộc huyện Tây Phong tỉnh Liêu Ninh) làm chức nhàn quan hữu danh vô thực là Biệt giá. Sau ông lại bị biếm ra Đạo Châu và mất ở đấy.

 

Bài thơ là cảnh tiễn quân lên đường ra trấn nhậm (và chiến đấu) nơi miền biên ải. Quân thì đã tập họp đông đủ chờ lệnh. Lời thơ là tâm trạng của vị tướng chỉ huy đang nhận chén rượu tiễn đưa kèm những lời dặn dò, khích lệ của cấp trên (có thể là vua hoặc quan chức lớn hơn).

 

Vì thế, nếu cho rằng “mới dợm uống thì đàn tỳ bà trên lưng ngựa đã giục giã khuyên mời” (cách hiểu 1) hoặc “mới dợm uống thì ngay lập tức tiếng đàn tỳ bà đã vang lên giục giã khuyên mời (uống rượu)” (cách hiểu 2) và sau đó “nếu có say vùi nằm lăn trên bãi cát (nơi quân lính tập họp) xin bạn đừng cười bởi xưa nay chinh chiến mấy ai trở về” thì rõ ràng không hợp với bối cảnh của bài thơ.

 

Có mấy điểm hơi khó chấp nhận:

 

1/ Rượu bồ đào hảo hạng và chén ngọc lưu ly là những món quý thời bấy giờ nên khó có đủ để “mời’ cả đoàn quân uống đến mức “say vùi nằm lăn trên bãi cát”.

2/ Chuẩn bị xuất quân mà lại chuốc rượu cho cả tướng lẫn binh sĩ “say vùi nằm lăn trên bãi cát” thì không “thực tế” chút nào.

 

Tác Giả Có Phải Là Nhân Vật Chính Trong Bài Thơ?

 

Vương Hàn đỗ Tiến Sĩ, đã từng làm Bí Thư Chính Tự (chuyên về thư tịch) ở kinh đô nên không phải là võ quan - nhân vật chính (speaker) trong bài Lương Châu Từ. Có lẽ từng được chứng kiến nhiều buổi lễ tiễn quân lên đường, trong đó có một số vị tướng ông quen biết đã ra đi không về, nên sự thương cảm chất chứa trong lòng thôi thúc ông viết bài thơ.

 

Vốn con nhà giàu có, tính tình hào phóng, hay mở tiệc rượu vui chơi nên bài thơ của ông là lời kêu gọi sự thông cảm, bao dung cho những thái độ, hành động “hơi khó coi” của những người phải “bỏ dở cuộc vui” ở hậu phương để lên đường chinh chiến nơi miền biên ải, sống chết khó lường.

 

 “Lương Châu Từ” Là Bài Thơ Về Rượu Hay Về Nỗi Sầu Chinh Chiến?

 

Lương Châu Từ chỉ có 4 câu, 28 chữ nhưng nếu đọc lên hoặc ngâm nga thì có đến 16 chữ thấm đẫm hơi men, thơm nồng mùi rượu (câu 1, câu 3 và 2 chữ “Dục ẩm” của câu 2), 12 chữ còn lại (5 chữ sau của câu 2 và cả câu 4) bao phủ một không khí ly biệt, chết chóc, thê lương của chiến tranh. Cả bài thơ là một nỗi buồn sầu bao la, sâu lắng.

 

Câu hỏi được đặt ra ở đây là “Ý chính của bài thơ là gì? Rượu hay Chiến Tranh?” Tác giả mượn rượu để nói về chiến tranh hay mượn chiến tranh để nói về rượu?

 

Trong Say Đi Em, Vũ Hoàng Chương mượn rượu để nói đến nỗi tủi nhục, uất ức, buồn sầu (nói chung là thành sầu) của mình trước cảnh quê hương tan nát dưới gót giầy xâm lược của thực dân Pháp.

Nguyễn Bá Trác qua Hồ Trường mượn rượu để bày tỏ tâm trạng bất đắc chí của một sĩ phu yêu nước.

 

Chúng ta thử cùng xem cách dàn ý của Lương Châu Từ: (Tôi xin được dịch sát và thay đổi thứ tự các ý nhỏ để độc giả dễ phân biệt đâu là ý chính của tác giả và đâu là những ý phụ tác giả mượn để diễn đạt ý chính đó).

 

Rượu ngon chưa kịp uống (chưa được say) đã có tiếng tỳ bà giục lên ngựa (ra đi) mà chinh chiến thì xưa nay có mấy ai (sống sót) trở về nên nếu có say khướt, nằm dài giữa chiến trường xin bạn thông cảm, đừng chê cười.

 

Phần chữ in đậm là ý chính và phần chữ nghiêng là những ý mượn.

 

Như vậy, khác với Say Đi Em và Hồ Trường, Lương Châu Từ mượn chuyện chén rượu ngon chưa kịp uống và sự sống chết bất thường của chinh nhân rồi dùng thủ pháp “xạo nghệ thuật” biện minh và kêu gọi sự bao dung, thông cảm cho việc say khướt đến mức lố bịch ngoài chiến trường.

 

Cũng xin nói thêm là vào cuộc chinh chiến không phải lúc nào chinh nhân cũng cầm guơm giáo lăn xả vào đâm chém, sống chết với quân địch. Cũng có nhiều khoảng thới gian giữa những trận đánh - có khi rất dài - tướng tá, binh sĩ được thảnh thơi, dưỡng sức, vui chơi. Đó là lúc tìm những cuộc vui nho nhỏ cho qua ngày tháng và cũng có khi “say khướt, nằm dài giữa chiến trường” như đã nói ở trên.

 

Một điểm đặc biệt trong Lương Châu Từ là không biết vô tình hay cố ý Vương Hàn đã cho “ý mượn” được tiến lên vị trí ngang hàng với ý chính.

 

1/ Bằng câu “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” ông đã thổi phồng quá lố con số những người ra đi không về đến nỗi nhà phê bình Thu Tứ phải lên tiếng:

“Ờ, mà đi thường cũng nhiều về chớ đâu tới nỗi hiếm. Trận nào đây mà người dự bi quan thế?” (Lương Châu Từ Của Vương Hàn, Thu Tứ, gocnhin.net) (4)

 

2/ Câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” thuộc phần “ý mượn” nhưng lại được đặt ở cuối bài làm nhiệm vụ của câu kết nên lưu lại ấn tượng mạnh hơn.

Chính vì thế tuy phần nói về chiến tranh chỉ là phụ, là “ý mượn”, nhưng không khí ly biệt, chết chóc của chiến tranh 

trong bài thơ có vẻ như không thua kém hình ảnh “túy ngọa sa trường” tý nào – dù hình ảnh này đã được thủ pháp “xạo nghệ thuật” tô vẽ thêm rất nhiều.

Phương cách có hơi bá đạo (thổi phồng quá lố) nhưng với độc giả của Lương Châu Từ lại đạt hiệu quả cao. Họ rất dễ thông cảm với hành động “tìm những cuộc vui nho nhỏ” ngoài chiến trường dù lắm khi đi đến chỗ “khó coi” như “túy ngọa sa trường”. 

Sau đây là vài khuyết điểm của bài thơ:

 

Thổi Phồng Quá Lố.

 

Như đã nói ở trên, “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” là câu thơ hơi “xa sự thật”. Tuy nó đóng góp rất nhiều cho việc vẽ lên bức tranh chết chóc, thê lương một cách đáng sợ của chiến tranh, giúp thuyết phục đám đông độc giả dễ tính thông cảm, chấp nhận hình ảnh “túy ngọa sa trường” của chinh nhân. Nhưng nó cũng để lại một vết ố không nhỏ trong bài thơ dưới mắt những người làm công việc thẩm định giá trị nghệ thuật thơ ca.

 

Mời độc giả thử để ý câu thơ:

 

Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu

 

Câu thơ này có 2 phần. “Tửu phùng tri kỷ” là phần “gốc”, là chỗ dựa, là cái cớ để tác giả vin vào đó mà “xạo tới bến”, “nói một tấc đến giời”.  “Thiên bôi thiểu” là phần “ngọn”, là phần “nói một tấc đến giời” đó. Do có “phần gốc” hợp lý, vững chãi làm chỗ dựa nên phần ngọn dù cường điệu hết cỡ, dù “xạo tới bến” vẫn rất dễ được chấp nhận. Uống rượu gặp tri kỷ thì nghìn chén cũng là ít. “Nghìn chén cũng là ít” là quá xa sự thực, quá xạo, quá vô lý. Nhưng cái quá xạo, quá vô lý ấy đã “tạo sự đột phá, thay đổi cái trật tự đời thường bằng cái phi lý mà có lý trong nghệ thuật” nên đã làm mới câu thơ và được hoan nghênh nhiệt liệt. Đó là biện pháp tu từ có tên “lối nói thậm xưng” mà trong một số bài viết tôi gọi là “xạo nghệ thuật”.

 

Cũng vì sự quá lố của câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà thủ pháp “xạo nghệ thuật” trong Lương Châu Từ đã bị giảm hiệu quả khá nhiều.

 

Cái Kẹt Của Thơ Tứ Tuyệt

 

Thử tưởng tượng đang xem một pha đá phạt trong bóng đá. Điểm đá phạt ở ngoài nhưng ngay sát vòng 16 mét 50 trước khung thành đối phương. Cầu thủ được huấn luyện viên chỉ định đá phạt cầm bóng đặt vào vị trí. Những cầu thủ khác của cả hai đội cũng tùy nhiệm vụ của mình mà dàn quân. Ai cũng sẵn sàng để nếu bóng bật ra là tìm cách đưa bóng vào khung thành (nếu là đội công) hoặc cản phá (nếu là đội thủ). Thế rồi tiếng còi của trọng tài vang lên, cầu thủ đá phạt - bằng kỹ thuật và kinh nghiệm của riêng mình – sút bóng qua hàng rào người, vào lưới. Tiếng reo hò, vỗ tay của khán giả vang dậy cầu trường.

 

Nhưng nếu bóng đá mà chỉ toàn những cú đá phạt như vậy thì chán chết. Khán giả sẽ không thấy được tài sắp xếp thế trận của huấn luyện viên, không thấy được khả năng chận bóng, đi bóng, lừa bóng, sút bóng “sống”, cản phá bóng, khả năng phối hợp nhịp nhàng với đồng đội khi lên công, lúc về thủ của cầu thủ. Khán giả sẽ không có những giây phút đứng tim khi đội bóng cao hứng chơi xuất thần, có những đường chuyền “đẹp như mơ”, những cú sút “không thể tin là có thực” đưa bóng vào cầu môn đối phương. Tất cả đã đưa bóng đá lên ngôi “thể thao vua”, thu hút sự yêu mến đến cuồng nhiệt của hảng tỷ người trên thế giới.

 

Cũng vậy, một bài thơ ngắn cỡ tứ tuyệt không đủ chữ để thi sĩ trổ tài điều binh khiển tướng, sắp xếp đội hình cho một trận đánh có tầm vóc. Đề tài thường rộng, chung chung, không đủ không gian và thời gian đi vào tâm tình riêng tư của nhân vật để cảm xúc có cơ hội dâng lên cao ngất.

 

Trong Lương Châu Từ, bóng dáng của lý trí vẫn còn rất rõ nét trong từng chữ, từng câu thơ. Tứ thơ không đủ dài để độc giả thấy được sự “vận động” của ngôn ngữ, để cảm xúc có sóng sau dồn sóng trước, lớn mạnh đến mức đẩy lý trí đi chỗ khác chơi, tạo được cao trào cho hồn thơ xuất hiện.

 

Hai Chữ “Dục Ẩm” Vừa Dở Lại Vừa Hay Tuyệt

 

Một điểm hơi xa thực tế nữa đến từ hai chữ “Dục ẩm” – trong ngữ cảnh của bài thơ có nghĩa là “muốn uống”, “toan uống”, “chưa kịp uống”. Như đã nói ở trên, bài thơ là khung cảnh tiễn quân lên đường ra trấn nhậm (và chiến đấu) nơi vùng biên ải. Quân thì đã tề tựu đông đủ; tướng thì đang nhận chén rượu tiễn đưa kèm những lời dặn dò của vua hoặc một quan chức lớn hơn.

 

Nghe dặn dò xong, hớp vội chén rượu, vị tướng bước ra cổng thì đàn tỳ bà trỗi lên thúc giục ông lên ngựa – và cũng thúc giục cả đoàn quân - lên đường. Dốc cạn chén rượu chưa hết một giây nên chuyện “chưa kịp uống” là rất khó xảy ra.  Thêm vào đó, cái cảnh bỏ lại chén rượu cấp trên ban thưởng để lên ngựa dẫn quân ra trận là rất ‘khó coi”. Vội vã như thế không phải lối; vừa bất kính với cấp trên, vừa không hợp với cung cách ứng xử của một vị tướng.

 

Hơn nữa, người chỉ huy ban nhạc đàn tỳ bà đâu phải “muốn chơi lúc nào cũng được” mà phải trổi nhạc đúng thời điểm đã được căn dặn trước (lúc vị tướng uống rượu xong).

 

Thấy ra điểm bất hợp lý này nên một nhà thơ, nhà văn, nhà sử học người Anh ông Pierre Stephen Robert Payne (1911-1983), đã dịch bài thơ ra tiếng Anh như sau:

 The Song of Diangchow

The beautiful grape wine, the night-glittering cups 
Drinking or not drinking, the horns summon you to mount. 
Do not laugh if I am drunk on the sandy battlefield 
From ancient times, how many warriors ever returned! 

(Lương Châu Từ, Lý Văn Quý) (5)

 

trong đó câu thứ 2

 

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi” được dịch là “Uống hay không uống, tù và đã giục lên ngựa”.

 

Tuy nhiên, “Dục ẩm” cũng có cái hay của nó. “Muốn uống”, “chưa kịp uống” nếu hiểu rộng ra còn có nghĩa là “cuộc vui chưa trọn”. Mà cuộc vui trên đời đâu phải chỉ có rượu. “Cuộc vui chưa trọn” còn có thể là ái ân phu thê đứt đoạn, tình yêu lứa đôi dở dang, ơn cha chưa trả, nghĩa mẹ chưa đền, những dự tính, ước mơ chưa thực hiện … và còn muôn ngàn thứ khác nữa.

 

Lên đường chinh chiến không phải chỉ đem mạng sống của mình “đùa” với giáo gươm, súng đạn mà còn là chấp nhận nhiều mất mát hy sinh khác; đó là chấp nhận giã từ biết bao “cuộc vui chưa trọn” của đời người.

 

Bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan có nói gì đến chết chóc ngoài chiến trường đâu. Anh chồng chiến binh mới cưới vợ và 3 người anh của vợ cũng đều là bộ đội, vẫn sống nhăn trong khi cô vợ ở hậu phương yên bình thì lại …  chết đuối trong lúc đi giặt quần áo ở bờ sông. (Lời Tự Thuật Của Hữu Loan, Tác Giả Màu Tím Hoa Sim) (6)

 

Tội ác của chiến tranh trong Màu Tím Hoa Sim không phải là những cái chết của người lính ngoài chiến trường mà là sự chia xa, phải giã từ những “cuộc vui chưa trọn”. Sau đây là vài chi tiết làm quặn thắt lòng người:

 

1/

Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân

Đám cưới mà cô dâu không có thời gian (và tiền) để may áo cưới. Chú rể mặc đồ lính, đôi giầy vẫn còn vết bùn chưa giặt sạch.

 

2/

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Được 2 tuần phép nhưng phải để một tuần hâm nóng tình xưa, “tuần sau đó” mới kết hôn. Như vậy, cưới vợ xong, chỉ có một tuần trăng mật; đang mặn nồng đã phải chia tay lên đường ra đơn vị. (6)

 

3/

Ba người anh được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Đám cưới của em gái không được về dự, rồi quan san cách trở đến mức “biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng” thì quả là vô cùng đau xót.

 

Ở đây con người không bị đổ chung vào một thúng kiểu “cá mè một lứa” như Lương Châu Từ mà là một cá thể có tâm trạng và cảm xúc riêng biệt. Hữu Loan đã đủ tài năng và nhạy cảm để qua Màu Tím Hoa Sim, cho độc giả thấy một khuôn mặt khác của chiến tranh, không sặc mùi xương máu, chết chóc mà có vẻ rất hiền lảnh - hiền lành nhưng đã nhẫn tâm cướp đi những thứ quý giá nhất của con người.

 

Vương Hàn, qua Lương Châu Từ, chỉ với hai chữ “Dục ẩm”, đã bóng gió nói đến những “cuộc vui chưa trọn”, những thứ quý giá nhất đó. Có điều vì thể thơ tứ tuyệt “thiếu quân” nên điều muốn nói không được đậm nét và mãnh liệt như Màu Tím Hoa Sim.

 

Con người trong hoàn cảnh đó có sống cũng chỉ là cái sống sinh học của thể xác, còn những thứ để con người được sống như một Con Người đã bị chiến tranh cướp mất.

 

Sống như thế, đến cuối đời nhìn lại, quãng thời gian đó chẳng khác gì mình đã chết.

 

“Tử Biệt” “Sinh Ly” Trong Cuộc Nội Chiến Bắc Nam

 

Mới đây, nhân ngày 30 tháng Tư (2019), tôi đọc được đoạn thơ của nhà giáo Thái Bá Tân (qua emails):

 

Bộ đội Miền Bắc chết
Một triệu một trăm nghìn. 
Số lính Miền Nam chết -
Hai trăm tám hai nghìn.
19 Tháng Tư, 2019

(Thái Bá Tân, 30 Tháng Tư, 1975)

 

Tác giả không chú thích nên tôi không biết nguồn gốc của những con số ấy. Nhưng tôi không tin là ông viết bừa, nói bậy. Thứ nhất, vì uy tín của mình; thứ hai, nếu “được hỏi thăm” mà ú ớ, không biết những con số đó xuất xứ từ đâu thì … kẹt lắm - cả về trách nhiệm dân sự lẫn hình sự.

 

“Một triệu một trăm nghìn” bộ đội chết là con số rất lớn (so với dân số Miền Bắc thời chiến tranh) nhưng đã tương xứng với câu thơ “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” chưa, thì còn tùy độc giả nhận định. Có điều tôi dám xác quyết là nỗi khổ, nỗi buồn “sinh ly” của bộ đội và người dân Miền Bắc so với binh lính và người dân Miền Nam thì khác nhau một trời một vực.

 

Tôi có ông anh họ ở Kiến An. Cuối năm 1988 tôi về quê tìm đường vượt biên, gặp nhau hắn tâm sự:

 

Tớ vừa đến tuổi, chưa biết yêu, chưa nếm mùi đàn bà, đã phải lên đường vào Nam. Không nhớ là mấy năm sau, gặp thằng bạn cùng lớp ở rừng Quảng Đức, hỏi thăm chuyện gia đình thì nó vừa cười vừa nói “Tao có khác gì mày. Trời sinh ra cái b. của tụi mình chỉ để đái thôi”.

 

Chỉ một câu nói đùa nhẹ nhàng mà làm xót xa biết bao nhiêu cõi lòng, làm nhức nhối biết bao nhiêu trái tim. Bởi nếu cái b. chỉ để đái, thế còn “cái ấy” của phụ nữ thì sao? Rồi còn sợi dây tình cảm nối người này với những người khác; chính sợi dây đó làm đời sống tinh thần của con người thêm phần phong phú. Thiếu nó, thiếu chút ít thì còn cố chịu được, chứ thiếu nhiều thì “chất người” sẽ nhạt dần đi, còn vắng bặt nó thì con người sẽ không còn là con người nữa. 

 

 Những người lính ở Miền Nam cũng đau thương mất mát nhưng không đến nỗi ghê gớm như vậy. Họ được chiến đấu ở “sân nhà” nên hậu phương gần gũi hơn, mất mát về mặt tình cảm ít hơn, nhẹ hơn. Những “cuộc vui dang dở” thường có cơ hội lập lại để “vui trọn đêm nay”. Nhưng mất mát dù có nhẹ hơn chút ít cũng vẫn là mất mát, cũng để lại những vết thương, những nỗi đau sâu đậm trong tâm hồn mỗi người, chữa trị phải tốn rất nhiều thời gian và công sức.

 

Tóm Tắt Giá Trị Nghệ Thuật Của Bài Thơ

 

ƯU ĐIỂM:

 

1/ Tứ thơ hay: Lương Châu Từ mượn chuyện sống chết bất kỳ của chinh nhân trong chiến tranh để biện minh (xin thông cảm) cho một số thái độ, hành động của người lính ngoài chiến trường. “Túy ngọa sa trường” chỉ là một thí dụ.

 

2/ Tính nhân Bản: Cái hay tuyệt của bài thơ nằm ở 2 chữ “Dục ẩm” – có ý nói tiệc rượu chưa tàn, nói rộng ra là “cuộc vui chưa trọn”. Chiến tranh là tử biệt, sinh ly (chưa nói đến sự tàn phá về vật chất). Nhưng  người đời thường chú trọng phần “tử biệt” mà coi nhẹ phần “sinh ly”. Chính “sinh ly” đã bóp nghẹt chữ “tình” để con người chỉ còn là những cỗ máy lao vào chém giết. Vương Hàn, bằng 2 chữ “Dục ẩm” đã sử dụng thủ pháp “gợi, không kể” (Show, Don’t Tell) một cách điệu nghệ làm nổi bật chữ “tình” bị bóp nghẹt đó. Tính nhân bản của bài thơ rất sâu đậm.

 

3/ Mặc dù trong bài thơ, chiến tranh chỉ được mượn để biện minh cho một số thái độ và hành động của người lính ngoài chiến trường nhưng chính hình ảnh chiến tranh lại hiện lên rất đậm nét ở cả 2 mặt “tử biệt” và “sinh ly”. Có người còn đặt tựa cho bài viết của mình về bài thơ này là “Lương Châu Từ và Nỗi Buồn Chiến Tranh” hoặc “Lương Châu Từ - Khúc Bi Ca Thời Chiến”. Tôi cho rằng, trong trường hợp Lương Châu Từ, họ hoàn toàn có quyền làm như vậy.

 

KHUYẾT ĐIỂM:

 

1/ Hai chữ “Dục ẩm” (như đã nói ở trên) hơi không hợp lý.

 

2/ Câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” hơi “xa sự thực”, ảnh hưởng đến thủ pháp “xạo nghệ thuật” và độ khả tín của bài thơ.  Chỉ nên nói đại ý “chinh chiến thì sinh tử bất kỳ”.

 

3/ Bài thơ nặng về “kỹ thuật” (ngôn ngữ, hình tượng, “gợi không kể”), ít cảm xúc, lại quá ngắn nên không có chỗ cho cảm xúc lớn mạnh để tạo cao trào – không có cơ hội để hồn thơ xuất hiện.

 

Phổ Biến Rộng Rãi Nhờ Tứ Thơ

 

Thảm họa của chiến tranh quá khủng khiếp. Nó là nỗi sầu, nỗi lo sợ, nỗi ám ảnh lớn nhất của nhân loại. Mà muốn “phá thành sầu”, muốn quên sợ, muốn trốn ám ảnh thì không gì bằng rượu.  Vì thế Lương Châu Từ là bài thơ khá phổ biến, thỉnh thoảng được đọc trong các tiệc rượu, hoặc những lúc “trà dư tửu hậu” thời chiến tranh. Hơn nữa, nó ngắn, dễ thuộc lại là thơ Hán - Việt nên đọc cũng là một cách “khoe tài”. Những nhà Nho Hán rộng, những người có hiểu biết về văn chương, thơ phú thì không nói làm gì; ngay cả các ông một chữ Hán bẻ làm đôi không biết, nói đến thơ phú thì ù ù cạc cạc, cũng ráng học thuộc lòng bài thơ rồi nhờ người giảng giải để ghi nhớ, chờ cơ hội vào bàn nhậu là “trổ tài” góp vui với bà con cô bác. (Tôi đã được hân hạnh giúp vốn cho hơn một chục ông như vậy).

 

Bài thơ là tâm sự của một vị tướng chỉ huy, nhưng người đọc thơ không phải là tướng tá (sĩ quan) cũng không sao. Đã mặc áo lính là có thể ưỡn ngực với danh hiệu chinh nhân. Mà nếu không phải là chinh nhân cũng đâu có hề gì. Thảm họa của chiến tranh lớn quá. Bàn tay tàn ác, gớm ghiếc của nó – lúc trực tiếp, khi gián tiếp - có thể vươn tới tất cả mọi người, bất kể lính tráng hay dân thường. Rồi câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” có quá lố một chút thì cũng có gì mà ầm ĩ? Rạch ròi làm chi cái con số người sống sót trở về! Và như thế, dù là người đọc hay người nghe, rất dễ thả hết tâm hồn vào bài thơ, đồng cảm với tác giả - nghĩa là cũng mở lòng bao dung với thái độ, hành động của người lính ngoài chiến trường (hay khi về phép ở hậu phương) – đôi lúc thái quá, “khó coi” có khi còn hơn cả “túy ngọa sa trường” nữa.

 

Điểm thành công lớn của bài thơ là ở chỗ đó.

 

Kết Luận

 

Xét về nghệ thuật thơ, Lương Châu Từ vẫn còn đôi chỗ lộm cộm, nhưng nhờ tứ thơ hay, đầy tính nhân bản nên đã 13 thế kỷ trôi qua, nó vẫn chưa có dấu hiệu sẽ đi vào quên lãng. Theo tôi, đây là một bài thơ độc đáo. Với những người yêu thích cổ thi Trung Hoa, khi nhâm nhi ly bia, chén rượu, tách trà, nhớ đến nỗi sầu “sinh ly tử biệt” của chiến tranh, Lương Châu Từ rất dễ bước vào câu chuyện để “Mua vui cũng được một vài trống canh.”  

 

TEXAS 05/2019

PHẠM ĐỨC NHÌ

nhidpham@gmail.com

 

CHÚ THÍCH

 

1/

https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-H%C3%A0n/L%C6%B0%C6%A1ng-Ch%C3%A2u-t%E1%BB%AB-k%E1%BB%B3-1/poem-DYGad0thHvgCxK3Szp1zVQ 

 

2/

(http://chimvie3.free.fr/69/NNT_ChinShunShin_KhucLuongChau_069.htm

 

3/

https://vi.wikisource.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%A2u_t%E1%BB%AB

 

4/

http://www.gocnhin.net/cgi-bin/viewitem.pl?5927

 

5/

 http://www.svqy.org/frame/luongchautu.htm

 

6/

https://kimdunghn.wordpress.com/2014/08/13/loi-tu-thuat-cua-huu-loan-tac-gia-mau-tim-hoa-sim/

 

THAM KHẢO

 

1/ Bài Thơ Lương Châu Từ kỳ 1, Vương Hàn, Thi Viện

https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-H%C3%A0n/L%C6%B0%C6%A1ng-Ch%C3%A2u-t%E1%BB%AB-k%E1%BB%B3-1/poem-DYGad0thHvgCxK3Szp1zVQ

 

2/ Lương Châu Từ, Lý Văn Quý

 http://www.svqy.org/frame/luongchautu.htm

 

3/ Về Bài “Lương Châu Từ” Của Vương Hàn, Hà Việt Hùng, Làng Huệ

https://langhue.org/index.php/bien-khao/vien-tai-lieu-trau-cau/7813-ve-b%C3%A0i-lluong-chau-tu-cua-vuong-han-ha-viet-hung-vien-trau-cau

 

4/ Lương Châu từ, Wikipedia tiếng Việt

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%A2u_t%E1%BB%AB

 

5/ Lương Châu Từ, Nguyễn Hoài Văn

http://nguyen.hoai.van.pagesperso-orange.fr/LuongChauTu.htm

 

6/ Lương Châu Từ, Khai Phi Hạnh Nguyên

http://www.khaiphi.com/posts/luong-chau-tu/

 

7/ Lương Châu Từ - Khúc Bi Ca Thời Chiến, Lê Quang Đức

https://vnexpress.net/giai-tri/luong-chau-tu-khuc-bi-ca-thoi-chien-1973830.html

 

8/ Lương Châu Từ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh, Hình Phước Liên

http://www.ninhhoatoday.net/vanky32-8.asp

 

Bàn ra tán vào (1)

Linhngayxua
Bai tho nay rat hop cho hoan canh nhung nguoi linh VNCH quanh nam suot thang hanh quan xa nha, tim quen noi buon xa nha nho nguoi yeu qua men ruou vi minh khong biet ngay mai co tro ve hay khong. Bo dao my tuu da quang boi. Moi khi don vi hanh quan xong tro ve binh an thi ai do cho mot chai ruou, sang thi Hennessy, re tien thi xi de. Den khi phai lieu minh vao cho chet thi nguoi linh tu an ui bang cau "Co lai chinh chien..." Vien si quan DPQ chi huy don Dak Seang khi don bi CS tran ngap da xin khong quan cho doi bom tren dau minh de cung chet voi quan thu, khi duoc phi cong hoi lai la anh co chac la muon doi bom ngay vao don Dak Seang thi duoc tra loi mot cach anh hung: "co lai chinh chien ky nhan hoi ban oi" vi vi si quan nay da chap nhan lam tuong chet theo thanh. Cac phi cong dong minh sau khi giup doi bom san bang chien truong da nghieng canh kinh phuc su anh dung cua don Dak Seang va vi no nhu don Alamo trong lich su My. Da so si quan VNCH thuoc long bai tho nay nen ho san sang chap nhan co lai chinh chien, va neu ho say sua khi ve hau cu thi cap chi huy thuong thong cam. Sau Mua he do lua 1972, chien truong tro nen khoc liet, va bai tho nay noi len noi niem cua nguoi linh VNCH khi dat nuoc lam nguy. Mot thoi de say va mot thoi de chet. Dau sao di nua linh VNCH cung co lanh luong co tien tieu vat nen chuyen nhau nhet quen doi sau ngay hanh quan thanh cai thoi quen cua doi linh.

----------------------------------------------------------------------------------

Comment




  • Input symbols

LƯƠNG CHÂU TỪ - RƯỢU VÀ NỖI SẦU CHINH CHIẾN - PHẠM ĐỨC NHÌ

Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy
304
LƯƠNG CHÂU TỪ - RƯỢU VÀ NỖI SẦU CHINH CHIẾN

 

“Lương Châu” Và “Từ”  

 

Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy, trước đây là nơi hàng bao thế kỷ người Hồ và người Hán đánh nhau. Lương Châu Từ là một điệu hát cổ nói về chuyện trận mạc biên ải. Những điệu hát cổ như: Thượng Chi Hồi, Chiến Thành NamThương Tiến TửuQuân Mã HoàngViễn Như KỳHoàng Tước HànhLạc Mai Hoa, v.v... được các thi nhân thời trước lấy làm đầu đề để sáng tác. (thivien.net/Vương-Hàn/Lương-Châu-từ-kỳ-1/poem) (1)

 

Từ, nói chung, là một khúc nhạc. Có rất nhiều điệu Từ. Mỗi điệu có một từ phổ, tác giả phải tìm những chữ thích hợp về thanh âm với công thức từ phổ để điền vào. Sáng tác Từ còn gọi là Điền Từ.

 

Như vậy, có thể nói Lương Châu Từ là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, luật bằng, vần bằng được tác giả khéo léo điền vào ăn khớp với một từ phổ của xứ Lương Châu. Đo đó, Lương Châu Từ còn được gọi là Khúc Hát Lương Châu.

 

Với thơ thất ngôn tứ tuyệt thì “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”. Tuy nhiên, khi điền từ thì “nhất tam ngũ” nhiều khi cũng không được “bất luận” mà phải “uốn mình” cho hợp với thanh âm của công thức từ phổ.

 

Đây là bài bình thơ nên tôi chỉ bàn đến khía cạnh văn chương – nghĩa là sẽ đối xử với Lương Châu Từ như một bài thơ. Còn lãnh vực âm nhạc xin mời các cao nhân khác.

 

LƯƠNG CHÂU TỪ

 

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

VUONG HÀN (1)

 

2/ Ba Cách Hiểu – Ba Bản Dịch 

 

Câu thứ hai của bài thơ

 

Dục ẩm, tỳ bà mã thượng thôi

 

có 3 cách hiểu.

 

1/ Muốn uống (mà chưa uống) thì tiếng nhạc của nhóm nhạc công “cỡi ngựa chơi đàn tỳ bà” đã vang lên thúc giục, khuyên mời (uống rượu). Ở đây “tỳ bà mã thượng” được hiểu là nhóm nhạc công chuyên chơi đàn tỳ bà trên lưng ngựa.

 

2/ Muốn uống (mà chưa uống) thì ngay lập tức tiếng đàn tỳ bà đã vang lên thúc giục, khuyên mời (uống rượu). Ở đây “mã thượng” được hiểu là ngay lập tức, tức thì.

 

3/ Muốn uống nhưng tiếng đàn tỳ bà đã thúc giục lên ngựa ra đi.

 

Do câu thứ hai có 3 cách hiểu nên bài thơ có 3 bản dịch khác nhau.

 

1/

Rượu bồ đào rót vào chén dạ quang, mới dợm uống thì tiếng tỳ bà trên lưng ngựa đã giục giã khuyên mời. Đừng cười ta say vùi năm lăn trên bãi cát, anh nhé, vì xưa nay chinh chiến đã mấy ai sống sót mà về. (Khúc Hát Lương Châu, Chin Shun-Shin, Nguyễn Nam Trân dịch) (2)

2/

Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly

Mới dợm uống thì đàn tỳ bà đã ngay lập tức giục giã khuyên mời

Nếu có say nằm lăn trên bãi cát xin bạn chớ cười (sa trường là bãi cát, nơi tập họp quân, chờ lên đường)

Bởi xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.

(Tự dịch)

3/

Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, bác chớ cười (sa trường là chiến trường)
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.

(Wikisource) (3)                         

Tác Giả Và Bối Cảnh Của Bài Thơ

Tác giả của Lương Châu Từ là Vương Hàn (687 – 735) - tự Tử Vũ, người đất Tấn Dương (nay thuộc thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây). Thi đỗ Tiến Sĩ, đã từng được Tể Tướng Trương Thuyết mời về kinh đô làm Bí Thư Chính Tự, lo việc thư tịch.

 

Ông vốn con nhà giàu có, tính tình hào phóng phong lưu, hơi tự cao; khi uống rượu vui chơi thường sánh mình với các bậc vương hầu nên bị nhiều người đố kỵ. Năm 726, Trương Thuyết thất sủng phải giáng làm Trưởng Sử Nhữ Châu, Vương Hàn cũng bị đổi ra Tiên Châu (nay thuộc huyện Tây Phong tỉnh Liêu Ninh) làm chức nhàn quan hữu danh vô thực là Biệt giá. Sau ông lại bị biếm ra Đạo Châu và mất ở đấy.

 

Bài thơ là cảnh tiễn quân lên đường ra trấn nhậm (và chiến đấu) nơi miền biên ải. Quân thì đã tập họp đông đủ chờ lệnh. Lời thơ là tâm trạng của vị tướng chỉ huy đang nhận chén rượu tiễn đưa kèm những lời dặn dò, khích lệ của cấp trên (có thể là vua hoặc quan chức lớn hơn).

 

Vì thế, nếu cho rằng “mới dợm uống thì đàn tỳ bà trên lưng ngựa đã giục giã khuyên mời” (cách hiểu 1) hoặc “mới dợm uống thì ngay lập tức tiếng đàn tỳ bà đã vang lên giục giã khuyên mời (uống rượu)” (cách hiểu 2) và sau đó “nếu có say vùi nằm lăn trên bãi cát (nơi quân lính tập họp) xin bạn đừng cười bởi xưa nay chinh chiến mấy ai trở về” thì rõ ràng không hợp với bối cảnh của bài thơ.

 

Có mấy điểm hơi khó chấp nhận:

 

1/ Rượu bồ đào hảo hạng và chén ngọc lưu ly là những món quý thời bấy giờ nên khó có đủ để “mời’ cả đoàn quân uống đến mức “say vùi nằm lăn trên bãi cát”.

2/ Chuẩn bị xuất quân mà lại chuốc rượu cho cả tướng lẫn binh sĩ “say vùi nằm lăn trên bãi cát” thì không “thực tế” chút nào.

 

Tác Giả Có Phải Là Nhân Vật Chính Trong Bài Thơ?

 

Vương Hàn đỗ Tiến Sĩ, đã từng làm Bí Thư Chính Tự (chuyên về thư tịch) ở kinh đô nên không phải là võ quan - nhân vật chính (speaker) trong bài Lương Châu Từ. Có lẽ từng được chứng kiến nhiều buổi lễ tiễn quân lên đường, trong đó có một số vị tướng ông quen biết đã ra đi không về, nên sự thương cảm chất chứa trong lòng thôi thúc ông viết bài thơ.

 

Vốn con nhà giàu có, tính tình hào phóng, hay mở tiệc rượu vui chơi nên bài thơ của ông là lời kêu gọi sự thông cảm, bao dung cho những thái độ, hành động “hơi khó coi” của những người phải “bỏ dở cuộc vui” ở hậu phương để lên đường chinh chiến nơi miền biên ải, sống chết khó lường.

 

 “Lương Châu Từ” Là Bài Thơ Về Rượu Hay Về Nỗi Sầu Chinh Chiến?

 

Lương Châu Từ chỉ có 4 câu, 28 chữ nhưng nếu đọc lên hoặc ngâm nga thì có đến 16 chữ thấm đẫm hơi men, thơm nồng mùi rượu (câu 1, câu 3 và 2 chữ “Dục ẩm” của câu 2), 12 chữ còn lại (5 chữ sau của câu 2 và cả câu 4) bao phủ một không khí ly biệt, chết chóc, thê lương của chiến tranh. Cả bài thơ là một nỗi buồn sầu bao la, sâu lắng.

 

Câu hỏi được đặt ra ở đây là “Ý chính của bài thơ là gì? Rượu hay Chiến Tranh?” Tác giả mượn rượu để nói về chiến tranh hay mượn chiến tranh để nói về rượu?

 

Trong Say Đi Em, Vũ Hoàng Chương mượn rượu để nói đến nỗi tủi nhục, uất ức, buồn sầu (nói chung là thành sầu) của mình trước cảnh quê hương tan nát dưới gót giầy xâm lược của thực dân Pháp.

Nguyễn Bá Trác qua Hồ Trường mượn rượu để bày tỏ tâm trạng bất đắc chí của một sĩ phu yêu nước.

 

Chúng ta thử cùng xem cách dàn ý của Lương Châu Từ: (Tôi xin được dịch sát và thay đổi thứ tự các ý nhỏ để độc giả dễ phân biệt đâu là ý chính của tác giả và đâu là những ý phụ tác giả mượn để diễn đạt ý chính đó).

 

Rượu ngon chưa kịp uống (chưa được say) đã có tiếng tỳ bà giục lên ngựa (ra đi) mà chinh chiến thì xưa nay có mấy ai (sống sót) trở về nên nếu có say khướt, nằm dài giữa chiến trường xin bạn thông cảm, đừng chê cười.

 

Phần chữ in đậm là ý chính và phần chữ nghiêng là những ý mượn.

 

Như vậy, khác với Say Đi Em và Hồ Trường, Lương Châu Từ mượn chuyện chén rượu ngon chưa kịp uống và sự sống chết bất thường của chinh nhân rồi dùng thủ pháp “xạo nghệ thuật” biện minh và kêu gọi sự bao dung, thông cảm cho việc say khướt đến mức lố bịch ngoài chiến trường.

 

Cũng xin nói thêm là vào cuộc chinh chiến không phải lúc nào chinh nhân cũng cầm guơm giáo lăn xả vào đâm chém, sống chết với quân địch. Cũng có nhiều khoảng thới gian giữa những trận đánh - có khi rất dài - tướng tá, binh sĩ được thảnh thơi, dưỡng sức, vui chơi. Đó là lúc tìm những cuộc vui nho nhỏ cho qua ngày tháng và cũng có khi “say khướt, nằm dài giữa chiến trường” như đã nói ở trên.

 

Một điểm đặc biệt trong Lương Châu Từ là không biết vô tình hay cố ý Vương Hàn đã cho “ý mượn” được tiến lên vị trí ngang hàng với ý chính.

 

1/ Bằng câu “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” ông đã thổi phồng quá lố con số những người ra đi không về đến nỗi nhà phê bình Thu Tứ phải lên tiếng:

“Ờ, mà đi thường cũng nhiều về chớ đâu tới nỗi hiếm. Trận nào đây mà người dự bi quan thế?” (Lương Châu Từ Của Vương Hàn, Thu Tứ, gocnhin.net) (4)

 

2/ Câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” thuộc phần “ý mượn” nhưng lại được đặt ở cuối bài làm nhiệm vụ của câu kết nên lưu lại ấn tượng mạnh hơn.

Chính vì thế tuy phần nói về chiến tranh chỉ là phụ, là “ý mượn”, nhưng không khí ly biệt, chết chóc của chiến tranh 

trong bài thơ có vẻ như không thua kém hình ảnh “túy ngọa sa trường” tý nào – dù hình ảnh này đã được thủ pháp “xạo nghệ thuật” tô vẽ thêm rất nhiều.

Phương cách có hơi bá đạo (thổi phồng quá lố) nhưng với độc giả của Lương Châu Từ lại đạt hiệu quả cao. Họ rất dễ thông cảm với hành động “tìm những cuộc vui nho nhỏ” ngoài chiến trường dù lắm khi đi đến chỗ “khó coi” như “túy ngọa sa trường”. 

Sau đây là vài khuyết điểm của bài thơ:

 

Thổi Phồng Quá Lố.

 

Như đã nói ở trên, “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” là câu thơ hơi “xa sự thật”. Tuy nó đóng góp rất nhiều cho việc vẽ lên bức tranh chết chóc, thê lương một cách đáng sợ của chiến tranh, giúp thuyết phục đám đông độc giả dễ tính thông cảm, chấp nhận hình ảnh “túy ngọa sa trường” của chinh nhân. Nhưng nó cũng để lại một vết ố không nhỏ trong bài thơ dưới mắt những người làm công việc thẩm định giá trị nghệ thuật thơ ca.

 

Mời độc giả thử để ý câu thơ:

 

Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu

 

Câu thơ này có 2 phần. “Tửu phùng tri kỷ” là phần “gốc”, là chỗ dựa, là cái cớ để tác giả vin vào đó mà “xạo tới bến”, “nói một tấc đến giời”.  “Thiên bôi thiểu” là phần “ngọn”, là phần “nói một tấc đến giời” đó. Do có “phần gốc” hợp lý, vững chãi làm chỗ dựa nên phần ngọn dù cường điệu hết cỡ, dù “xạo tới bến” vẫn rất dễ được chấp nhận. Uống rượu gặp tri kỷ thì nghìn chén cũng là ít. “Nghìn chén cũng là ít” là quá xa sự thực, quá xạo, quá vô lý. Nhưng cái quá xạo, quá vô lý ấy đã “tạo sự đột phá, thay đổi cái trật tự đời thường bằng cái phi lý mà có lý trong nghệ thuật” nên đã làm mới câu thơ và được hoan nghênh nhiệt liệt. Đó là biện pháp tu từ có tên “lối nói thậm xưng” mà trong một số bài viết tôi gọi là “xạo nghệ thuật”.

 

Cũng vì sự quá lố của câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà thủ pháp “xạo nghệ thuật” trong Lương Châu Từ đã bị giảm hiệu quả khá nhiều.

 

Cái Kẹt Của Thơ Tứ Tuyệt

 

Thử tưởng tượng đang xem một pha đá phạt trong bóng đá. Điểm đá phạt ở ngoài nhưng ngay sát vòng 16 mét 50 trước khung thành đối phương. Cầu thủ được huấn luyện viên chỉ định đá phạt cầm bóng đặt vào vị trí. Những cầu thủ khác của cả hai đội cũng tùy nhiệm vụ của mình mà dàn quân. Ai cũng sẵn sàng để nếu bóng bật ra là tìm cách đưa bóng vào khung thành (nếu là đội công) hoặc cản phá (nếu là đội thủ). Thế rồi tiếng còi của trọng tài vang lên, cầu thủ đá phạt - bằng kỹ thuật và kinh nghiệm của riêng mình – sút bóng qua hàng rào người, vào lưới. Tiếng reo hò, vỗ tay của khán giả vang dậy cầu trường.

 

Nhưng nếu bóng đá mà chỉ toàn những cú đá phạt như vậy thì chán chết. Khán giả sẽ không thấy được tài sắp xếp thế trận của huấn luyện viên, không thấy được khả năng chận bóng, đi bóng, lừa bóng, sút bóng “sống”, cản phá bóng, khả năng phối hợp nhịp nhàng với đồng đội khi lên công, lúc về thủ của cầu thủ. Khán giả sẽ không có những giây phút đứng tim khi đội bóng cao hứng chơi xuất thần, có những đường chuyền “đẹp như mơ”, những cú sút “không thể tin là có thực” đưa bóng vào cầu môn đối phương. Tất cả đã đưa bóng đá lên ngôi “thể thao vua”, thu hút sự yêu mến đến cuồng nhiệt của hảng tỷ người trên thế giới.

 

Cũng vậy, một bài thơ ngắn cỡ tứ tuyệt không đủ chữ để thi sĩ trổ tài điều binh khiển tướng, sắp xếp đội hình cho một trận đánh có tầm vóc. Đề tài thường rộng, chung chung, không đủ không gian và thời gian đi vào tâm tình riêng tư của nhân vật để cảm xúc có cơ hội dâng lên cao ngất.

 

Trong Lương Châu Từ, bóng dáng của lý trí vẫn còn rất rõ nét trong từng chữ, từng câu thơ. Tứ thơ không đủ dài để độc giả thấy được sự “vận động” của ngôn ngữ, để cảm xúc có sóng sau dồn sóng trước, lớn mạnh đến mức đẩy lý trí đi chỗ khác chơi, tạo được cao trào cho hồn thơ xuất hiện.

 

Hai Chữ “Dục Ẩm” Vừa Dở Lại Vừa Hay Tuyệt

 

Một điểm hơi xa thực tế nữa đến từ hai chữ “Dục ẩm” – trong ngữ cảnh của bài thơ có nghĩa là “muốn uống”, “toan uống”, “chưa kịp uống”. Như đã nói ở trên, bài thơ là khung cảnh tiễn quân lên đường ra trấn nhậm (và chiến đấu) nơi vùng biên ải. Quân thì đã tề tựu đông đủ; tướng thì đang nhận chén rượu tiễn đưa kèm những lời dặn dò của vua hoặc một quan chức lớn hơn.

 

Nghe dặn dò xong, hớp vội chén rượu, vị tướng bước ra cổng thì đàn tỳ bà trỗi lên thúc giục ông lên ngựa – và cũng thúc giục cả đoàn quân - lên đường. Dốc cạn chén rượu chưa hết một giây nên chuyện “chưa kịp uống” là rất khó xảy ra.  Thêm vào đó, cái cảnh bỏ lại chén rượu cấp trên ban thưởng để lên ngựa dẫn quân ra trận là rất ‘khó coi”. Vội vã như thế không phải lối; vừa bất kính với cấp trên, vừa không hợp với cung cách ứng xử của một vị tướng.

 

Hơn nữa, người chỉ huy ban nhạc đàn tỳ bà đâu phải “muốn chơi lúc nào cũng được” mà phải trổi nhạc đúng thời điểm đã được căn dặn trước (lúc vị tướng uống rượu xong).

 

Thấy ra điểm bất hợp lý này nên một nhà thơ, nhà văn, nhà sử học người Anh ông Pierre Stephen Robert Payne (1911-1983), đã dịch bài thơ ra tiếng Anh như sau:

 The Song of Diangchow

The beautiful grape wine, the night-glittering cups 
Drinking or not drinking, the horns summon you to mount. 
Do not laugh if I am drunk on the sandy battlefield 
From ancient times, how many warriors ever returned! 

(Lương Châu Từ, Lý Văn Quý) (5)

 

trong đó câu thứ 2

 

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi” được dịch là “Uống hay không uống, tù và đã giục lên ngựa”.

 

Tuy nhiên, “Dục ẩm” cũng có cái hay của nó. “Muốn uống”, “chưa kịp uống” nếu hiểu rộng ra còn có nghĩa là “cuộc vui chưa trọn”. Mà cuộc vui trên đời đâu phải chỉ có rượu. “Cuộc vui chưa trọn” còn có thể là ái ân phu thê đứt đoạn, tình yêu lứa đôi dở dang, ơn cha chưa trả, nghĩa mẹ chưa đền, những dự tính, ước mơ chưa thực hiện … và còn muôn ngàn thứ khác nữa.

 

Lên đường chinh chiến không phải chỉ đem mạng sống của mình “đùa” với giáo gươm, súng đạn mà còn là chấp nhận nhiều mất mát hy sinh khác; đó là chấp nhận giã từ biết bao “cuộc vui chưa trọn” của đời người.

 

Bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan có nói gì đến chết chóc ngoài chiến trường đâu. Anh chồng chiến binh mới cưới vợ và 3 người anh của vợ cũng đều là bộ đội, vẫn sống nhăn trong khi cô vợ ở hậu phương yên bình thì lại …  chết đuối trong lúc đi giặt quần áo ở bờ sông. (Lời Tự Thuật Của Hữu Loan, Tác Giả Màu Tím Hoa Sim) (6)

 

Tội ác của chiến tranh trong Màu Tím Hoa Sim không phải là những cái chết của người lính ngoài chiến trường mà là sự chia xa, phải giã từ những “cuộc vui chưa trọn”. Sau đây là vài chi tiết làm quặn thắt lòng người:

 

1/

Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân

Đám cưới mà cô dâu không có thời gian (và tiền) để may áo cưới. Chú rể mặc đồ lính, đôi giầy vẫn còn vết bùn chưa giặt sạch.

 

2/

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Được 2 tuần phép nhưng phải để một tuần hâm nóng tình xưa, “tuần sau đó” mới kết hôn. Như vậy, cưới vợ xong, chỉ có một tuần trăng mật; đang mặn nồng đã phải chia tay lên đường ra đơn vị. (6)

 

3/

Ba người anh được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Đám cưới của em gái không được về dự, rồi quan san cách trở đến mức “biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng” thì quả là vô cùng đau xót.

 

Ở đây con người không bị đổ chung vào một thúng kiểu “cá mè một lứa” như Lương Châu Từ mà là một cá thể có tâm trạng và cảm xúc riêng biệt. Hữu Loan đã đủ tài năng và nhạy cảm để qua Màu Tím Hoa Sim, cho độc giả thấy một khuôn mặt khác của chiến tranh, không sặc mùi xương máu, chết chóc mà có vẻ rất hiền lảnh - hiền lành nhưng đã nhẫn tâm cướp đi những thứ quý giá nhất của con người.

 

Vương Hàn, qua Lương Châu Từ, chỉ với hai chữ “Dục ẩm”, đã bóng gió nói đến những “cuộc vui chưa trọn”, những thứ quý giá nhất đó. Có điều vì thể thơ tứ tuyệt “thiếu quân” nên điều muốn nói không được đậm nét và mãnh liệt như Màu Tím Hoa Sim.

 

Con người trong hoàn cảnh đó có sống cũng chỉ là cái sống sinh học của thể xác, còn những thứ để con người được sống như một Con Người đã bị chiến tranh cướp mất.

 

Sống như thế, đến cuối đời nhìn lại, quãng thời gian đó chẳng khác gì mình đã chết.

 

“Tử Biệt” “Sinh Ly” Trong Cuộc Nội Chiến Bắc Nam

 

Mới đây, nhân ngày 30 tháng Tư (2019), tôi đọc được đoạn thơ của nhà giáo Thái Bá Tân (qua emails):

 

Bộ đội Miền Bắc chết
Một triệu một trăm nghìn. 
Số lính Miền Nam chết -
Hai trăm tám hai nghìn.
19 Tháng Tư, 2019

(Thái Bá Tân, 30 Tháng Tư, 1975)

 

Tác giả không chú thích nên tôi không biết nguồn gốc của những con số ấy. Nhưng tôi không tin là ông viết bừa, nói bậy. Thứ nhất, vì uy tín của mình; thứ hai, nếu “được hỏi thăm” mà ú ớ, không biết những con số đó xuất xứ từ đâu thì … kẹt lắm - cả về trách nhiệm dân sự lẫn hình sự.

 

“Một triệu một trăm nghìn” bộ đội chết là con số rất lớn (so với dân số Miền Bắc thời chiến tranh) nhưng đã tương xứng với câu thơ “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” chưa, thì còn tùy độc giả nhận định. Có điều tôi dám xác quyết là nỗi khổ, nỗi buồn “sinh ly” của bộ đội và người dân Miền Bắc so với binh lính và người dân Miền Nam thì khác nhau một trời một vực.

 

Tôi có ông anh họ ở Kiến An. Cuối năm 1988 tôi về quê tìm đường vượt biên, gặp nhau hắn tâm sự:

 

Tớ vừa đến tuổi, chưa biết yêu, chưa nếm mùi đàn bà, đã phải lên đường vào Nam. Không nhớ là mấy năm sau, gặp thằng bạn cùng lớp ở rừng Quảng Đức, hỏi thăm chuyện gia đình thì nó vừa cười vừa nói “Tao có khác gì mày. Trời sinh ra cái b. của tụi mình chỉ để đái thôi”.

 

Chỉ một câu nói đùa nhẹ nhàng mà làm xót xa biết bao nhiêu cõi lòng, làm nhức nhối biết bao nhiêu trái tim. Bởi nếu cái b. chỉ để đái, thế còn “cái ấy” của phụ nữ thì sao? Rồi còn sợi dây tình cảm nối người này với những người khác; chính sợi dây đó làm đời sống tinh thần của con người thêm phần phong phú. Thiếu nó, thiếu chút ít thì còn cố chịu được, chứ thiếu nhiều thì “chất người” sẽ nhạt dần đi, còn vắng bặt nó thì con người sẽ không còn là con người nữa. 

 

 Những người lính ở Miền Nam cũng đau thương mất mát nhưng không đến nỗi ghê gớm như vậy. Họ được chiến đấu ở “sân nhà” nên hậu phương gần gũi hơn, mất mát về mặt tình cảm ít hơn, nhẹ hơn. Những “cuộc vui dang dở” thường có cơ hội lập lại để “vui trọn đêm nay”. Nhưng mất mát dù có nhẹ hơn chút ít cũng vẫn là mất mát, cũng để lại những vết thương, những nỗi đau sâu đậm trong tâm hồn mỗi người, chữa trị phải tốn rất nhiều thời gian và công sức.

 

Tóm Tắt Giá Trị Nghệ Thuật Của Bài Thơ

 

ƯU ĐIỂM:

 

1/ Tứ thơ hay: Lương Châu Từ mượn chuyện sống chết bất kỳ của chinh nhân trong chiến tranh để biện minh (xin thông cảm) cho một số thái độ, hành động của người lính ngoài chiến trường. “Túy ngọa sa trường” chỉ là một thí dụ.

 

2/ Tính nhân Bản: Cái hay tuyệt của bài thơ nằm ở 2 chữ “Dục ẩm” – có ý nói tiệc rượu chưa tàn, nói rộng ra là “cuộc vui chưa trọn”. Chiến tranh là tử biệt, sinh ly (chưa nói đến sự tàn phá về vật chất). Nhưng  người đời thường chú trọng phần “tử biệt” mà coi nhẹ phần “sinh ly”. Chính “sinh ly” đã bóp nghẹt chữ “tình” để con người chỉ còn là những cỗ máy lao vào chém giết. Vương Hàn, bằng 2 chữ “Dục ẩm” đã sử dụng thủ pháp “gợi, không kể” (Show, Don’t Tell) một cách điệu nghệ làm nổi bật chữ “tình” bị bóp nghẹt đó. Tính nhân bản của bài thơ rất sâu đậm.

 

3/ Mặc dù trong bài thơ, chiến tranh chỉ được mượn để biện minh cho một số thái độ và hành động của người lính ngoài chiến trường nhưng chính hình ảnh chiến tranh lại hiện lên rất đậm nét ở cả 2 mặt “tử biệt” và “sinh ly”. Có người còn đặt tựa cho bài viết của mình về bài thơ này là “Lương Châu Từ và Nỗi Buồn Chiến Tranh” hoặc “Lương Châu Từ - Khúc Bi Ca Thời Chiến”. Tôi cho rằng, trong trường hợp Lương Châu Từ, họ hoàn toàn có quyền làm như vậy.

 

KHUYẾT ĐIỂM:

 

1/ Hai chữ “Dục ẩm” (như đã nói ở trên) hơi không hợp lý.

 

2/ Câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” hơi “xa sự thực”, ảnh hưởng đến thủ pháp “xạo nghệ thuật” và độ khả tín của bài thơ.  Chỉ nên nói đại ý “chinh chiến thì sinh tử bất kỳ”.

 

3/ Bài thơ nặng về “kỹ thuật” (ngôn ngữ, hình tượng, “gợi không kể”), ít cảm xúc, lại quá ngắn nên không có chỗ cho cảm xúc lớn mạnh để tạo cao trào – không có cơ hội để hồn thơ xuất hiện.

 

Phổ Biến Rộng Rãi Nhờ Tứ Thơ

 

Thảm họa của chiến tranh quá khủng khiếp. Nó là nỗi sầu, nỗi lo sợ, nỗi ám ảnh lớn nhất của nhân loại. Mà muốn “phá thành sầu”, muốn quên sợ, muốn trốn ám ảnh thì không gì bằng rượu.  Vì thế Lương Châu Từ là bài thơ khá phổ biến, thỉnh thoảng được đọc trong các tiệc rượu, hoặc những lúc “trà dư tửu hậu” thời chiến tranh. Hơn nữa, nó ngắn, dễ thuộc lại là thơ Hán - Việt nên đọc cũng là một cách “khoe tài”. Những nhà Nho Hán rộng, những người có hiểu biết về văn chương, thơ phú thì không nói làm gì; ngay cả các ông một chữ Hán bẻ làm đôi không biết, nói đến thơ phú thì ù ù cạc cạc, cũng ráng học thuộc lòng bài thơ rồi nhờ người giảng giải để ghi nhớ, chờ cơ hội vào bàn nhậu là “trổ tài” góp vui với bà con cô bác. (Tôi đã được hân hạnh giúp vốn cho hơn một chục ông như vậy).

 

Bài thơ là tâm sự của một vị tướng chỉ huy, nhưng người đọc thơ không phải là tướng tá (sĩ quan) cũng không sao. Đã mặc áo lính là có thể ưỡn ngực với danh hiệu chinh nhân. Mà nếu không phải là chinh nhân cũng đâu có hề gì. Thảm họa của chiến tranh lớn quá. Bàn tay tàn ác, gớm ghiếc của nó – lúc trực tiếp, khi gián tiếp - có thể vươn tới tất cả mọi người, bất kể lính tráng hay dân thường. Rồi câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” có quá lố một chút thì cũng có gì mà ầm ĩ? Rạch ròi làm chi cái con số người sống sót trở về! Và như thế, dù là người đọc hay người nghe, rất dễ thả hết tâm hồn vào bài thơ, đồng cảm với tác giả - nghĩa là cũng mở lòng bao dung với thái độ, hành động của người lính ngoài chiến trường (hay khi về phép ở hậu phương) – đôi lúc thái quá, “khó coi” có khi còn hơn cả “túy ngọa sa trường” nữa.

 

Điểm thành công lớn của bài thơ là ở chỗ đó.

 

Kết Luận

 

Xét về nghệ thuật thơ, Lương Châu Từ vẫn còn đôi chỗ lộm cộm, nhưng nhờ tứ thơ hay, đầy tính nhân bản nên đã 13 thế kỷ trôi qua, nó vẫn chưa có dấu hiệu sẽ đi vào quên lãng. Theo tôi, đây là một bài thơ độc đáo. Với những người yêu thích cổ thi Trung Hoa, khi nhâm nhi ly bia, chén rượu, tách trà, nhớ đến nỗi sầu “sinh ly tử biệt” của chiến tranh, Lương Châu Từ rất dễ bước vào câu chuyện để “Mua vui cũng được một vài trống canh.”  

 

TEXAS 05/2019

PHẠM ĐỨC NHÌ

nhidpham@gmail.com

 

CHÚ THÍCH

 

1/

https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-H%C3%A0n/L%C6%B0%C6%A1ng-Ch%C3%A2u-t%E1%BB%AB-k%E1%BB%B3-1/poem-DYGad0thHvgCxK3Szp1zVQ 

 

2/

(http://chimvie3.free.fr/69/NNT_ChinShunShin_KhucLuongChau_069.htm

 

3/

https://vi.wikisource.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%A2u_t%E1%BB%AB

 

4/

http://www.gocnhin.net/cgi-bin/viewitem.pl?5927

 

5/

 http://www.svqy.org/frame/luongchautu.htm

 

6/

https://kimdunghn.wordpress.com/2014/08/13/loi-tu-thuat-cua-huu-loan-tac-gia-mau-tim-hoa-sim/

 

THAM KHẢO

 

1/ Bài Thơ Lương Châu Từ kỳ 1, Vương Hàn, Thi Viện

https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-H%C3%A0n/L%C6%B0%C6%A1ng-Ch%C3%A2u-t%E1%BB%AB-k%E1%BB%B3-1/poem-DYGad0thHvgCxK3Szp1zVQ

 

2/ Lương Châu Từ, Lý Văn Quý

 http://www.svqy.org/frame/luongchautu.htm

 

3/ Về Bài “Lương Châu Từ” Của Vương Hàn, Hà Việt Hùng, Làng Huệ

https://langhue.org/index.php/bien-khao/vien-tai-lieu-trau-cau/7813-ve-b%C3%A0i-lluong-chau-tu-cua-vuong-han-ha-viet-hung-vien-trau-cau

 

4/ Lương Châu từ, Wikipedia tiếng Việt

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_Ch%C3%A2u_t%E1%BB%AB

 

5/ Lương Châu Từ, Nguyễn Hoài Văn

http://nguyen.hoai.van.pagesperso-orange.fr/LuongChauTu.htm

 

6/ Lương Châu Từ, Khai Phi Hạnh Nguyên

http://www.khaiphi.com/posts/luong-chau-tu/

 

7/ Lương Châu Từ - Khúc Bi Ca Thời Chiến, Lê Quang Đức

https://vnexpress.net/giai-tri/luong-chau-tu-khuc-bi-ca-thoi-chien-1973830.html

 

8/ Lương Châu Từ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh, Hình Phước Liên

http://www.ninhhoatoday.net/vanky32-8.asp

 

BẢN TIN MỚI NHẤT

Thiên nhiên đôi khi kỳ ảo đến mức nếu không được chụp lại, chẳng ai tin đó là thật

Mỗi năm một lần, những đợt sóng trên đảo Giáng Sinh lại được thay thế bằng nhiều triệu con cua đỏ

Xem Thêm

Tiền giấy của Nhật là đồng tiền sạch nhất thế giới

Nhân dân tệ là đồng tiền bẩn nhất châu Á

Xem Thêm

NN Trần Xuân Tin – Buồn Vui Đời Quân Ngũ

Nhân dịp nghe lại bản nhạc : Người Nhái Hành Khúc có câu : Liên Đoàn Người Nhái như những bày ma trơi, tay chiếc dầm bơi và tay mang súng thép . Khi tấn công như sóng thần dâng bờ .

Xem Thêm

Lại múa rối nước - Việt Nhân

(HNPĐ) Như vậy cuối cùng ngày 16/07/2019, cái gọi là nhà nước xã nghĩa qua con mõ (lê thị thu hằng), cũng đã loa loa

Xem Thêm

VẦNG TRĂNG BẠC - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Bởi vì em lỡ si cuồng trăng bạc Khiến đêm dâng dòng cổ nguyệt chan hoà

Xem Thêm

Những hình ảnh chứng minh người Nhật luôn đi trước thế giới

Có nhiều lý do khiến Nhật Bản là quốc gia độc đáo nhất thế giới. Những phát minh của người Nhật Bản cho các vấn đề hàng ngày đã chứng minh điều đó.

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :CHEN XIANGMEI: THẾ LỰC BÍ ẨN TRONG CHÍNH TRƯỜNG MỸ By Robert D. McFadden

Nguoi My rat ky viec ngoai quoc can thiep vao bau cu Tong Thong. Ba nay xui duc TT Thieu giup Nixon danh bai UCV Dan Chu dua den hau qua la su tra thu cua dang DC ngung vien tro cho VNCH. Roi Nixon lai ban dung VNCH va Dai Loan cho CS.

Xem Thêm

Đề bài :Hồ sơ quý hiếm An táng hai Ông Ngô-Đình-Diệm và Ngô-Đình-Nhu,

Chinh nhung thanh phan tranh dau dao chanh nay thang 4 nam 1975 mang sung AK47 chiem truong DH Van Hanh roi mang bang do bat giam cac vien chuc VNCH. Mot so sinh vien hoc sinh tranh dau nam vung giup CS chon song 5000 nguoi tai Hue nam Mau Than 1968. Trong luc VNCH dang danh nhau voi Cong san thi nhung ke bieu tinh chong doi chanh phu VNCH chi lam loi cho Cong San. Nay da hon 40 nam sau cuoc chien thi phai luan cong va toi cua nhung nguoi lam mat nuoc de lam sang to lich su. Quan VNCH khong thua CS de dang neu chung ta co lanh tu yeu nuoc, biet de quyen loi dan toc tren tien bac danh loi.

Xem Thêm

Đề bài :Hải Quân Đại tá Hồ Tấn Quyền với Lực Lượng Hải Thuyền - Nguyễn Văn Ơn

Mấy ông Tướng Tá ngày xưa, không biết vô tình hay cố ý, hay đằng sau các ông có một con đường đi nào khác, hay ngoài việc thân Mỹ cũng 2 ba phe. Mấy ông nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà không mất Miền Nam mới là chuyện lạ. Tôi là lính, sau 75 mới hiểu ra rằng chúng tôi đã vì yêu Tổ Quốc , yêu Tự Do nên tình nguyện vào Quân ngủ nhưng chúng tôi không biết các ông đã âm thầm đâm sau lưng chúng tôi, các ông đã bán đứng linh hồn VNCH cho Vc, sau này tôi mới thấy các ông nhan nhản ngoài đường phố, các ông được Vc trân qúy được ở nhà mà không đi tù như chúng tôi, thật là mỉa mai, tôi xin nhắn ở Cmmt này nếu các ông còn sống hãy tự nhủ lòng mình có đúng chưa ? Tôi dấu tên nhưng địa danh Ninh Hoa Nha Trang , cán ông mang cấp bậc Th/tá và Đ/Úy đã bán đứng nguyên một Đại đội cho Vc. Nếu các ông còn sống cũng bị người đời nguyền rủa. Nhất là những anh em nào còn sống, đã bao năm dưới quyền của các ông,xin nhắc lại một qúa khứ tủi nhục và đau buồn.

Xem Thêm

Đề bài :Phát hiện Bản Đồ Việt Nam Trên Mô Hình Tượng Đài Tử Sĩ Hoàng Sa Không Có Quần Đảo Trường Sa

Muu do that Tuyet dieu cua bon cong san va nhung thanh phan phan boi,xa gi mot la co,xa gi vai ngan de lam mot tam bia,va xa gi chut cong lao han ma de nhan lai bong loc cua VC!va day la cai co cho bon cho de mao nhan khong co hoang-truong xa...Bia da moi tinh khoi…. dua nao lam bia ky niem nay,dang nhan lanh phat…..AN HUE !

Xem Thêm

Đề bài :Hồ sơ quý hiếm An táng hai Ông Ngô-Đình-Diệm và Ngô-Đình-Nhu,

That dung voi tieu de :" Ho so qui hiem".Nhung ong tuong tham du truc tiep dao chanh,va cai chet cua vi Tong Thong vang danh the gioi vi tai nang on dinh mot quoc gia tu con so ZERO tro thanh mot quoc gia phu cuong vao bac nhat a chau thoi do(1963).Vet o nhuc nay va o nhuc ban dung VNCH cua My khong mot but muc nao co the tay xoa va bao chua.Den nay,cung khong ngac nhien khi rat nhieu nuoc a chau-da khong con niem tin doi voi My nua,(that dang buon va may man cho TAIWAN,mem chut xiu nua neu nhu hill dac cu thi bai hoc VNCH duoc lap lai).Nuoc My va nguoi My noi rieng,ho rat thuc te,thuc te den doi khi tan nhan.CACH CHO hon CUA CHO,vi sao nuoc My bi da so cac nuoc tren the gioi ghet bo,du van ngua tay nhan vien tro?Cau hoi nay,phai de cho chinh dan My ho moi tra loi duoc ro rang.Tro lai van de ho so qui hiem,khong hieu ai da con giu,ma mai toi nay moi boc lo ro rang,nhung vi tuong lanh da so la goc Phap,han da khong biet NHUC khi nhan 01 vali tien dollars khoang dau tren duoi 30 ngan dollars la so tien tra cho gia mau cua T.T+co van va cac vi dai ta+trung ta...va he qua mat nuoc 1975.Vao thoi buoi do,da mang toi quan ham tuong lanh,tuc nhien van hoa va giao duc,duc do phai co nhung tat ca deu dang gia 30.000 dollars,chia nhau ra 10 ten,moi ten 3000,thoi buoi do,mot dong dollar=400 dong tien VNCH.Ngay sau khi bi giet,da biet bao loi nguyen rua cua dan chung mien nam Viet nam do len dau cha con,dong ho cua 10 ten du dang(danh tu cua pho t.t Johnson) vay ma chung con gia mu sa mua choi bay choi bien:BON CHO DE HEN NHAT.mot quyen hoi ky da viet ro,de bo phieu de quyet dinh chung thi 09 GIET,01 THA.Do Mau khi gan chet,van hot hoang Lay cu,xin tha...Gia mau cua ca mot dong ho,cua ca mot dat nuoc va biet bao nhieu xuong mau da guc xuong de bao ve VNCH tat ca deu do lai tren dau bon cho nay va dong ho nha no,nhung ke uong mau chi vi 3000 dollars.Triet ly va he qua dong Phuong that ranh mach:GIEO NHAN thi GAT QUA. Luoi troi long long,tuy thua ma khong ai lot ra noi.Bon cho de Cong san cung the,tam mau dan lanh,de nen tham nhung uc hiep...cai qua no dang treo lo lung tren dau,nhu Pham van dong,ve gia moi lo vao chua tu....tu gi vay? bo dao de te thi thanh phat, noi the thi ra boi bac dao giao qua suc,cai QUA de dau ???

Xem Thêm

Đề bài :Hồ sơ quý hiếm An táng hai Ông Ngô-Đình-Diệm và Ngô-Đình-Nhu,

Den bay gio su that da ro la phe dao chanh cung tan ac. Neu dan chung va hoc sinh Saigon am muu cuop xac de dot tra thu thi ho con tan ac hon la phe cong san vi CS khi thay the che do chi bo phe nghia trang Bien Hoa nhung khong dem xac tu si VNCH ra dot. Dao chanh chi thay the che do cu voi nguoi xau. Loi tai nguoi My.

Xem Thêm

Đề bài : Tự Do Nhân Quyền Là Đây!

Ong Cha Oanh nay moi la nguoi nghia khi. Cach day khoang 20 nam, may ong trong cong dong VN Minnesota moi ong cha quoc doanh den choi, ong doi ha la co VNCH moi den. Vay ma ong chu tich cong dong VN Minnesota chiu ha la co vang truoc tru so de tiep don ong cha quoc doanh nay. Vu nay no lon vi cong dong VN Minn phan doi viec ha la co. Roi hai ben kien tung ra toa ve toi phi bang.

Xem Thêm

Đề bài :Hải Quân Đại tá Hồ Tấn Quyền với Lực Lượng Hải Thuyền - Nguyễn Văn Ơn

Cac tuong lanh VNCH nam 1963 ra lenh giet cac si quan VNCH nhu Ho Tan Quyen, Le Quang Tung, thi ho khong khac gi nhung du kich CS thieu hoc bat giet cac vien chuc VNCH. Nguoi My va cac tuong dao chanh nam 1963 roi cat vien tro nam 1974. Sau do cai lenh tiet kiem dan duoc dua 1 trieu quan VNCH vao the cung luc kiet. Neu biet duoc nguoi My se giet VNCH thi ta khong nen theo nguoi My.

Xem Thêm

Đề bài :LỖI KỸ THUẬT TRONG HAI BẢN NHẠC CỦA ĐỨC HUY - PHẠM ĐỨC NHÌ

Bạn hãy xem thêm vài ba bản nhạc nữa thôi,bạn sẽ thấy "Chẳng có gì để nói".Hahaaa...

Xem Thêm

Đề bài :Hàng trăm nghìn người nhảy sóng ở bãi biển nước đục ngầu

Cách nay 15 năm,cảnh này được đưa lên internet và nói là bên Tàu...Hihiii...15 năm sau,xuất hiện bên VN...Kết luận,Tàu nhập cảnh tắm biển của nó vào VN hay người Tàu sang VN sinh sống nhiều như bên...Tàu?

Xem Thêm

TIN MỚI

NN Trần Xuân Tin – Buồn Vui Đời Quân Ngũ

Nhân dịp nghe lại bản nhạc : Người Nhái Hành Khúc có câu : Liên Đoàn Người Nhái như những bày ma trơi, tay chiếc dầm bơi và tay mang súng thép . Khi tấn công như sóng thần dâng bờ .

Xem Thêm

Lại múa rối nước - Việt Nhân

(HNPĐ) Như vậy cuối cùng ngày 16/07/2019, cái gọi là nhà nước xã nghĩa qua con mõ (lê thị thu hằng), cũng đã loa loa

Xem Thêm

VẦNG TRĂNG BẠC - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Bởi vì em lỡ si cuồng trăng bạc Khiến đêm dâng dòng cổ nguyệt chan hoà

Xem Thêm

Những hình ảnh chứng minh người Nhật luôn đi trước thế giới

Có nhiều lý do khiến Nhật Bản là quốc gia độc đáo nhất thế giới. Những phát minh của người Nhật Bản cho các vấn đề hàng ngày đã chứng minh điều đó.

Xem Thêm

Nhục quốc tế thể: Dịch Tây ba lô ăn xin ở châu Á:

“Hãy cho tôi tiền đi vòng quanh thế giới”

Xem Thêm

MỘT NGÀY VỚI MÙA XUÂN HÀ NỘI kim thanh

Hà Nội mà tôi chưa bao giờ được thấy, nhưng biết qua thơ văn nhờ hồi đi lính bắt đầu đọc những tiểu thuyết tiền chiến và những tạp chí của mấy ông nhà văn, nhà thơ Bắc kỳ di cư

Xem Thêm

Kỷ niệm 50 năm ngày con người đặt chân lên mặt trăng

Ngày 20 Tháng Bảy, 1969, phi thuyền Apollo 11 đã đưa ba phi hành gia tới quỹ đạo mặt trăng.

Xem Thêm

CÂU CHUYỆN TÌNH TRONG QUÂN NGŨ -Trần Văn

Xuyên qua Rừng U Minh Thượng của Rạch Giá đi đường thủy xuống Rừng U Minh Hạ của Cà Mau, thường sử dụng con sông mang tên Trèm Trẹm

Xem Thêm

NGƯỜI TRUNG QUỐC KHÔNG CÒN XẤU XÍ - Cánh Cò

Bá Dương – nhà thơ, nhà văn, nhà báo và sử gia được tờ The New York Times mệnh danh là “Voltaire của Trung Quốc” bởi tác phẩm “Người Trung Quốc Xấu Xí” ...

Xem Thêm