Kinh Đời

Lời cầu nguyện của Tướng Douglas MacArthur cho con trai duy nhất

"Lạy Chúa, xin gầy dựng cho con một đứa con trai biết tự hào và bất khuất trong thất bại trung thực, và khiêm tốn và dịu dàng trong chiến thắng.


Con nhà tướng, vì ông bố vốn là một thiếu tướng của quân đội Hoa Kỳ, Tướng Douglas MacArthur có lần tâm sự “tôi học cỡi ngựa và bắn súng trước cả lúc biết đọc biết viết, thực ra, gần như trước cả lúc biết đi biết nói”. Điều này rất có thể đúng, vì ông sinh trong một doanh trại tại Little Rock, Arkansas, lúc ông bố là đại úy lục quân đóng tại đó. 

Tốt nghiệp hạng nhất tại West Point với số điểm học thuật 2424.12 trong tổng số tối đa 2470.00 điểm, một trong ba điểm tốt nghiệp cao nhất xưa nay, MacArthur được ưu tiên gia nhập ngành Kỹ Sư của Lục Quân Hoa Kỳ và được cử qua Phi Luật Tân năm 1903. Năm 1905, được cử qua Tokyo làm tùy viên cho bố lúc ấy là một thiếu tướng. Năm 1906, hai bố con thăm Ấn Độ qua ngả Thượng Hải, Hồng Kông, Java và Singapore. Trên đường trở lại Nhật, hai bố con thăm Trung Hoa qua ngả Băng Cốc và Sài Gòn. Cuối năm đó, hai bố con trở lại Hoa Kỳ. Thăng đại úy năm 1911. Năm 1915, thăng thiếu tá. Năm 1916, đứng đầu Phòng Thông Tin của Bộ Chiến Tranh (Thế Chiến I), sau đó là tham mưu trưởng của Sư Đoàn 42 (Sư Đoàn “Cầu Vồng”, sư đoàn đầu tiên bao gồm đơn vị của nhiều tiểu bang khác nhau, do đề nghị của chính MacArthur) với hàm lon đại tá. Sư đoàn được huấn luyện đặc biệt về lối đánh chiến trường mở rộng, chứ không phải chiến trường hầm trú (trench). Năm 1917, sư đoàn được điều động qua Pháp. Được đeo lon chuẩn tướng tháng Sáu, 1918 và được cử chỉ huy Lữ Đoàn Lục Quân 84 lúc quân Đức bắt đầu rút lui. Trong thời gian ở đây, ông liên tiếp lãnh 7 huy chương Ngân Tinh (Silver Star). Ngày 10 tháng Mười Một, 1918, một ngày trước khi đình chiến, ông được cử làm tư lệnh Sư Đoàn 42 trong một thời gian ngắn. 

Trở về Hoa Kỳ, ông được đề cử làm tổng giám thị trường võ bị West Point năm 1919, nhờ thế vẫn được giữ cấp bậc chuẩn tướng chứ không bị trở lại hàng thiếu tá thực thụ như phần đông người đồng thời. Ở đây ông đã thực hiện nhiều cải cách như việc tái lập học trình 4 năm cho các sinh viên sĩ quan. 

Năm 1922, sau khi cưới Louise, một người thừa kế nhiều triệu đôla, đã có hai con, ông rời West Point lên đường qua Phi Luật Tân, nhậm chức chỉ huy Vùng Quân Sự Manila, tư lệnh Lữ Đoàn 23 Lục Quân thuộc Sư Đoàn Phi Luật Tân. Năm 1925, lúc 44 tuổi, ông được thăng thiếu tướng, trẻ nhất của Lục Quân. Liền sau đó, ông trở lại Hoa Kỳ. Năm 1927, hai vợ chồng ly thân. 

MacArthur đa năng đến độ cùng năm đó, ông được đề cử làm chủ tịch uỷ ban thế vận Hoa Kỳ với nhiệm vụ chuẩn bị đoàn Hoa Kỳ cho Thế Vận Mùa Hè năm 1928 tại Amsterdam. Thành công rực rỡ tại thế vận này với 24 huy chương vàng, 17 kỷ lục thế vận và 7 kỷ lục thế giới, ông được lệnh trở lại chỉ huy Phân Bộ Phi Luật Tân. Năm 1929, Louise chính thức ly dị ông vì cho rằng ông “không có khả năng chu cấp”. 

Năm 1930, ông được đề cử làm Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ. Trong tư cách này, ông đã khai triển kế hoạch động viên mới và đã ký thoả hiệp với hải quân để phân nhiệm giữa các ngành quân đội với nhau. Nhờ công trạng làm tham mưu trưởng, năm 1935 ông là người đầu tiên được huy chương Purple Hearts. 

Cũng năm này, ông được TT Manuel Quezon của Phi Luật Tân yêu cầu giám sát việc thành lập lục quân Phi Luật Tân, với hàng thống chế. Đây là lần thứ năm ông phục vụ tại Viễn Đông. Ông mang theo Thiếu Tá D. Eisenhower đi cùng. Cùng đi có mẹ ông và Jean Marie Faircloth, một phụ nữ 37 tuổi chưa chồng, giao thiệp rộng, người ông sẽ kết hôn năm 1937. Từ người vợ này, ông có người con trai duy nhất là Arthur MacArthur IV, sinh năm 1938 tại Manila, sau khi ông chính thức rút lui khỏi lục quân.

Tuy nhiên, năm 1941, thời Thế Chiến II, TT Roosevelt gọi ông trở lại nhiệm vụ với lon thiếu tướng, làm tư lệnh Lực Lượng Quân Sự Hoa Kỳ tại Viễn Đông (USAFFE). Ngay ngày hôm sau, ông được thăng trung tướng, rồi đại tướng vào một tháng sau. Chính trong giai đoạn này xẩy ra cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng và lực lượng của ông tại Phi Luật Tân bị lần lượt tràn ngập. Manila bị bỏ ngỏ, đại quân rút về Bataan. Đến tháng Hai, năm 1942, với sức tấn công thần tốc của Nhật, được lệnh của TT Roosevelt, ông chuyển bộ chỉ huy qua Úc. Chính trong thời gian này, ông được chọn là Người Cha Của Năm 1942, một vinh dự ông hết sức hãnh diện.

Ông viết cho Ủy Ban Toàn Quốc Ngày Của Cha: “Tôi là người lính chuyên nghiệp và hãnh diện vì nghề này, nhưng tôi hãnh diện hơn, vô cùng hãnh diện hơn, được làm một người cha. Người lính tiêu diệt để xây dựng; người cha chỉ biết xây dựng, không bao giờ tiêu diệt cả. Một người có nhiều tiềm năng chết chóc; người kia hiện thân cho sáng tạo và sự sống. Và dù đạo quân chết chóc có hùng mạnh, các tiểu đoàn sự sống còn hùng mạnh hơn nhiều. Tôi hy vọng rằng khi tôi qua đi, con tôi sẽ nhớ tới tôi, không phải từ chiến trường mà từ mái ấm gia đình, nhắc đi nhắc lại với con lời cầu nguyện đơn sơ hàng ngày: ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời’”. 

Cũng trong thời gian ở Úc với chức Tư Lệnh Tối Cao Lực Lượng Đồng Minh tại Tây Nam Thái Bình Dương, Tướng MacArthur đã viết lời cầu nguyện bất hủ của ông cho đứa con trai duy nhất của mình:

"Lạy Chúa, xin gầy dựng cho con một đứa con trai mạnh mẽ đủ để biết khi nào nên yếu ớt và can đảm đủ để đối diện với chính mình khi sợ sệt; một đứa con trai biết tự hào và bất khuất trong thất bại trung thực, và khiêm tốn và dịu dàng trong chiến thắng. 

"Xin gầy dựng cho con một đứa con trai mà ý muốn sẽ không thay thế việc làm; một đứa con trai biết Chúa và biết rằng biết mình là viên đá nền tảng của nhận thức.

"Con xin Chúa hướng dẫn cháu không đi theo con dường nhàn nhã và dễ chịu, nhưng là con đường cố gắng, nhiều khó khăn và thách thức. Ở đây, xin giúp cháu học cách đứng thẳng trong gió bão; ở đây xin giúp cháu học cách biết cảm thương những ai thất thế. 

"Xin gầy dựng cho con một đứa con trai có trái tim trong sáng, có mục đích cao; một đứa con trai biết làm chủ bản thân mình trước khi tìm cách làm chủ người khác; một đứa con trai biết tiến sâu vào tương lai nhưng không bao giờ quên quá khứ. 

"Và sau khi những điều trên đã là của cháu, con xin Chúa thêm cho cháu đủ tâm thức hài hước để cháu luôn nghiêm túc nhưng không bao giờ qúa coi trọng mình. Xin Chúa ban cho cháu lòng khiêm nhường để cháu luôn nhớ tính giản đơn của sự cao cả chân thực, tâm thức cởi mở của đức khôn ngoan thực sự, và tính yếu ớt của sức mạnh đích thực. 

"Lúc ấy, Con, bố cháu, sẽ dám thầm thì rằng 'con đã không sống uổng công'”


Vũ Văn An10/27/2014(vietcatholic)


A Father’s Prayer from Gen. Douglas MacArthur

  Written by Scott Williams

In June, 1942, General Douglas MacArthur was namedNational Father of the Year. The honor came just three months after he moved his family to the Philippines to lead the U.S. Pacific campaign of World War II, a level of honor and responsibility realized by few men. His statement in receiving the award truly revealed his heart and priorities.

father's prayer

“By profession I am a soldier and take pride in that fact. But I am prouder — infinitely prouder — to be a father.

A soldier destroys in order to build; the father only builds, never destroys. The one has the potentiality of death; the other embodies creation and life.

And while the hordes of death are mighty, the battalions of life are mightier still. It is my hope that my son, when I am gone, will remember me not from the battle but in the home repeating with him our simple daily prayer, ‘Our Father Who Art in Heaven.'”

In the early days of that war and campaign, MacArthur acknowledged his dependence on a Heavenly Father when he composed “A Father’s Prayer”:

“Build me a son, O Lord, who will be strong enough to know when he is weak, brave enough to face himself when he is afraid, one who will be proud and unbending in honest defeat, and humble and gentle in victory.

“Build me a son whose wishes will not take the place of deeds; a son who will know Thee — and that to know himself is the foundation stone of knowledge. 

“Lead him, I pray, not in the path of ease and comfort, but under the stress and spur of difficulties and challenge. Here let him learn to stand up in the storm; here let him learn compassion for those who fail …” 

“Build me a son whose heart will be clear, whose goal will be high; a son who will master himself before he seeks to master other men; one who will reach into the future, yet never forget the past.

“And after all these things are his, add, I pray, enough of sense of humor, so that he may always be serious, yet never take himself too seriously.

“Give him humility, so that he may always remember the simplicity of true greatness, the open mind of true wisdom, and the meekness of true strength.

“Then, I, his father, will dare to whisper, ‘I have not lived in vain.'”

What is your Father’s Prayer for your children? You’ll probably never achieve the level of accomplishment of General Douglas MacArthur, but when all is said and done, what will make you whisper “I have not lived in vain”?


A Father's Prayer by General Douglas MacArthur

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Lời cầu nguyện của Tướng Douglas MacArthur cho con trai duy nhất

"Lạy Chúa, xin gầy dựng cho con một đứa con trai biết tự hào và bất khuất trong thất bại trung thực, và khiêm tốn và dịu dàng trong chiến thắng.


Con nhà tướng, vì ông bố vốn là một thiếu tướng của quân đội Hoa Kỳ, Tướng Douglas MacArthur có lần tâm sự “tôi học cỡi ngựa và bắn súng trước cả lúc biết đọc biết viết, thực ra, gần như trước cả lúc biết đi biết nói”. Điều này rất có thể đúng, vì ông sinh trong một doanh trại tại Little Rock, Arkansas, lúc ông bố là đại úy lục quân đóng tại đó. 

Tốt nghiệp hạng nhất tại West Point với số điểm học thuật 2424.12 trong tổng số tối đa 2470.00 điểm, một trong ba điểm tốt nghiệp cao nhất xưa nay, MacArthur được ưu tiên gia nhập ngành Kỹ Sư của Lục Quân Hoa Kỳ và được cử qua Phi Luật Tân năm 1903. Năm 1905, được cử qua Tokyo làm tùy viên cho bố lúc ấy là một thiếu tướng. Năm 1906, hai bố con thăm Ấn Độ qua ngả Thượng Hải, Hồng Kông, Java và Singapore. Trên đường trở lại Nhật, hai bố con thăm Trung Hoa qua ngả Băng Cốc và Sài Gòn. Cuối năm đó, hai bố con trở lại Hoa Kỳ. Thăng đại úy năm 1911. Năm 1915, thăng thiếu tá. Năm 1916, đứng đầu Phòng Thông Tin của Bộ Chiến Tranh (Thế Chiến I), sau đó là tham mưu trưởng của Sư Đoàn 42 (Sư Đoàn “Cầu Vồng”, sư đoàn đầu tiên bao gồm đơn vị của nhiều tiểu bang khác nhau, do đề nghị của chính MacArthur) với hàm lon đại tá. Sư đoàn được huấn luyện đặc biệt về lối đánh chiến trường mở rộng, chứ không phải chiến trường hầm trú (trench). Năm 1917, sư đoàn được điều động qua Pháp. Được đeo lon chuẩn tướng tháng Sáu, 1918 và được cử chỉ huy Lữ Đoàn Lục Quân 84 lúc quân Đức bắt đầu rút lui. Trong thời gian ở đây, ông liên tiếp lãnh 7 huy chương Ngân Tinh (Silver Star). Ngày 10 tháng Mười Một, 1918, một ngày trước khi đình chiến, ông được cử làm tư lệnh Sư Đoàn 42 trong một thời gian ngắn. 

Trở về Hoa Kỳ, ông được đề cử làm tổng giám thị trường võ bị West Point năm 1919, nhờ thế vẫn được giữ cấp bậc chuẩn tướng chứ không bị trở lại hàng thiếu tá thực thụ như phần đông người đồng thời. Ở đây ông đã thực hiện nhiều cải cách như việc tái lập học trình 4 năm cho các sinh viên sĩ quan. 

Năm 1922, sau khi cưới Louise, một người thừa kế nhiều triệu đôla, đã có hai con, ông rời West Point lên đường qua Phi Luật Tân, nhậm chức chỉ huy Vùng Quân Sự Manila, tư lệnh Lữ Đoàn 23 Lục Quân thuộc Sư Đoàn Phi Luật Tân. Năm 1925, lúc 44 tuổi, ông được thăng thiếu tướng, trẻ nhất của Lục Quân. Liền sau đó, ông trở lại Hoa Kỳ. Năm 1927, hai vợ chồng ly thân. 

MacArthur đa năng đến độ cùng năm đó, ông được đề cử làm chủ tịch uỷ ban thế vận Hoa Kỳ với nhiệm vụ chuẩn bị đoàn Hoa Kỳ cho Thế Vận Mùa Hè năm 1928 tại Amsterdam. Thành công rực rỡ tại thế vận này với 24 huy chương vàng, 17 kỷ lục thế vận và 7 kỷ lục thế giới, ông được lệnh trở lại chỉ huy Phân Bộ Phi Luật Tân. Năm 1929, Louise chính thức ly dị ông vì cho rằng ông “không có khả năng chu cấp”. 

Năm 1930, ông được đề cử làm Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ. Trong tư cách này, ông đã khai triển kế hoạch động viên mới và đã ký thoả hiệp với hải quân để phân nhiệm giữa các ngành quân đội với nhau. Nhờ công trạng làm tham mưu trưởng, năm 1935 ông là người đầu tiên được huy chương Purple Hearts. 

Cũng năm này, ông được TT Manuel Quezon của Phi Luật Tân yêu cầu giám sát việc thành lập lục quân Phi Luật Tân, với hàng thống chế. Đây là lần thứ năm ông phục vụ tại Viễn Đông. Ông mang theo Thiếu Tá D. Eisenhower đi cùng. Cùng đi có mẹ ông và Jean Marie Faircloth, một phụ nữ 37 tuổi chưa chồng, giao thiệp rộng, người ông sẽ kết hôn năm 1937. Từ người vợ này, ông có người con trai duy nhất là Arthur MacArthur IV, sinh năm 1938 tại Manila, sau khi ông chính thức rút lui khỏi lục quân.

Tuy nhiên, năm 1941, thời Thế Chiến II, TT Roosevelt gọi ông trở lại nhiệm vụ với lon thiếu tướng, làm tư lệnh Lực Lượng Quân Sự Hoa Kỳ tại Viễn Đông (USAFFE). Ngay ngày hôm sau, ông được thăng trung tướng, rồi đại tướng vào một tháng sau. Chính trong giai đoạn này xẩy ra cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng và lực lượng của ông tại Phi Luật Tân bị lần lượt tràn ngập. Manila bị bỏ ngỏ, đại quân rút về Bataan. Đến tháng Hai, năm 1942, với sức tấn công thần tốc của Nhật, được lệnh của TT Roosevelt, ông chuyển bộ chỉ huy qua Úc. Chính trong thời gian này, ông được chọn là Người Cha Của Năm 1942, một vinh dự ông hết sức hãnh diện.

Ông viết cho Ủy Ban Toàn Quốc Ngày Của Cha: “Tôi là người lính chuyên nghiệp và hãnh diện vì nghề này, nhưng tôi hãnh diện hơn, vô cùng hãnh diện hơn, được làm một người cha. Người lính tiêu diệt để xây dựng; người cha chỉ biết xây dựng, không bao giờ tiêu diệt cả. Một người có nhiều tiềm năng chết chóc; người kia hiện thân cho sáng tạo và sự sống. Và dù đạo quân chết chóc có hùng mạnh, các tiểu đoàn sự sống còn hùng mạnh hơn nhiều. Tôi hy vọng rằng khi tôi qua đi, con tôi sẽ nhớ tới tôi, không phải từ chiến trường mà từ mái ấm gia đình, nhắc đi nhắc lại với con lời cầu nguyện đơn sơ hàng ngày: ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời’”. 

Cũng trong thời gian ở Úc với chức Tư Lệnh Tối Cao Lực Lượng Đồng Minh tại Tây Nam Thái Bình Dương, Tướng MacArthur đã viết lời cầu nguyện bất hủ của ông cho đứa con trai duy nhất của mình:

"Lạy Chúa, xin gầy dựng cho con một đứa con trai mạnh mẽ đủ để biết khi nào nên yếu ớt và can đảm đủ để đối diện với chính mình khi sợ sệt; một đứa con trai biết tự hào và bất khuất trong thất bại trung thực, và khiêm tốn và dịu dàng trong chiến thắng. 

"Xin gầy dựng cho con một đứa con trai mà ý muốn sẽ không thay thế việc làm; một đứa con trai biết Chúa và biết rằng biết mình là viên đá nền tảng của nhận thức.

"Con xin Chúa hướng dẫn cháu không đi theo con dường nhàn nhã và dễ chịu, nhưng là con đường cố gắng, nhiều khó khăn và thách thức. Ở đây, xin giúp cháu học cách đứng thẳng trong gió bão; ở đây xin giúp cháu học cách biết cảm thương những ai thất thế. 

"Xin gầy dựng cho con một đứa con trai có trái tim trong sáng, có mục đích cao; một đứa con trai biết làm chủ bản thân mình trước khi tìm cách làm chủ người khác; một đứa con trai biết tiến sâu vào tương lai nhưng không bao giờ quên quá khứ. 

"Và sau khi những điều trên đã là của cháu, con xin Chúa thêm cho cháu đủ tâm thức hài hước để cháu luôn nghiêm túc nhưng không bao giờ qúa coi trọng mình. Xin Chúa ban cho cháu lòng khiêm nhường để cháu luôn nhớ tính giản đơn của sự cao cả chân thực, tâm thức cởi mở của đức khôn ngoan thực sự, và tính yếu ớt của sức mạnh đích thực. 

"Lúc ấy, Con, bố cháu, sẽ dám thầm thì rằng 'con đã không sống uổng công'”


Vũ Văn An10/27/2014(vietcatholic)


A Father’s Prayer from Gen. Douglas MacArthur

  Written by Scott Williams

In June, 1942, General Douglas MacArthur was namedNational Father of the Year. The honor came just three months after he moved his family to the Philippines to lead the U.S. Pacific campaign of World War II, a level of honor and responsibility realized by few men. His statement in receiving the award truly revealed his heart and priorities.

father's prayer

“By profession I am a soldier and take pride in that fact. But I am prouder — infinitely prouder — to be a father.

A soldier destroys in order to build; the father only builds, never destroys. The one has the potentiality of death; the other embodies creation and life.

And while the hordes of death are mighty, the battalions of life are mightier still. It is my hope that my son, when I am gone, will remember me not from the battle but in the home repeating with him our simple daily prayer, ‘Our Father Who Art in Heaven.'”

In the early days of that war and campaign, MacArthur acknowledged his dependence on a Heavenly Father when he composed “A Father’s Prayer”:

“Build me a son, O Lord, who will be strong enough to know when he is weak, brave enough to face himself when he is afraid, one who will be proud and unbending in honest defeat, and humble and gentle in victory.

“Build me a son whose wishes will not take the place of deeds; a son who will know Thee — and that to know himself is the foundation stone of knowledge. 

“Lead him, I pray, not in the path of ease and comfort, but under the stress and spur of difficulties and challenge. Here let him learn to stand up in the storm; here let him learn compassion for those who fail …” 

“Build me a son whose heart will be clear, whose goal will be high; a son who will master himself before he seeks to master other men; one who will reach into the future, yet never forget the past.

“And after all these things are his, add, I pray, enough of sense of humor, so that he may always be serious, yet never take himself too seriously.

“Give him humility, so that he may always remember the simplicity of true greatness, the open mind of true wisdom, and the meekness of true strength.

“Then, I, his father, will dare to whisper, ‘I have not lived in vain.'”

What is your Father’s Prayer for your children? You’ll probably never achieve the level of accomplishment of General Douglas MacArthur, but when all is said and done, what will make you whisper “I have not lived in vain”?


A Father's Prayer by General Douglas MacArthur

BẢN TIN MỚI NHẤT

Phật giáo hiện nay suy đồi

Cho dù có chùa to, Phật lớn khắp nơi, tu sĩ rất nhiều,

Xem Thêm

Những Hậu Quả Tệ Hại Do Chủ Trương "Bỏ Phiếu Bằng Thư"

Trong những giấy tờ gửi tới gia đình tôi và gia đình ông cậu nhà tôi đã cho thấy ... đã cố tình loại bỏ tên TT Donald Trump và trên các phiếu bầu.

Xem Thêm

ĐỂ DÀNH. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Ô hay em vẫn quan san Chưa nghe hơi thở anh than vãn buồn

Xem Thêm

Vì sao có khoảng cách cha mẹ Việt kiều và con ở Mỹ? = Lương Tạ

Bối cảnh xã hội nóng bỏng làm nổi bật sự khác biệt giữa một số đông của thế hệ trước được giáo dục qua trung học ở Việt Nam và thế hệ sau được giáo dục ở Mỹ gần đây.

Xem Thêm

Tại sao thế giới hờ hững với thành công Vắccine phòng chống Covid 19 của Nga - Mai Tú Ân

Hôm qua nước Nga đã tổ chức họp báo để cho thế giới biết nước Nga đã thành công khi chế ra Vắccin

Xem Thêm

Họa vần: RƯỢU THUỐC

Rượu thuốc mà ngâm với rễ nhàu. Uống vào nhức mỏi biến đi đâu

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Một bức ảnh, vạn lời nó

Joe vat vo da khang dinh : neu dac cu,y se thay doi the che..." the che nao thi y khong noi.Viec tau cong muon chiem nuoc My thi da ro rang co ke hoach han hoi tu 2005 va da duoc cong khai pho bien va moc quyet dinh : 2025 va 2050 de nam tron the gioi. Viec bau cu 11-2020 toi day,co the gia dinh nhu the nay : con Lua se pha roi bau cu,va vi mot ly do nao do,bau cu bat thanh va theo hien phap,T.T Trump se het hieu luc va phai ban giao chuc vu cho tan tong thong, ma tan T.T lai chua co vi truc trac phieu bau.Vay theo hien phap,nguoi thu 03 duoc quyen giu chuc vu T.T tam thoi la mu nancy va khi nancy lam T.T,cho du la t.t tam thoi,mu ta van co toan quyen hien dinh va khi do con lua tung hoang ngang doc.....buon qua,hau xet.

Xem Thêm

Đề bài : Chuyện cụ Biden

Đọc Vu Linh viết bài nào cũng có lý , qua đây mới biết bộ mặt thật của Joe biden đối với người tỵ nạm Việt , 33t làm tns có những kẻ ngu mới tin là ông ta thiếu suy nghĩ ? óc bã đậu . cám ơn VŨ LINH ....

Xem Thêm

Đề bài :Bàn về “Lói ngọng” Phạm Thị Hoài

Tôi sinh ra và lớn lên ở Hải dương, một nơi đã từng mang cái tên thơ mộng là Đông Thành. Từ hơn 60 năm trước, thời tiểu học của chúng tôi chưa từng có chuyện nói ngọng "nờ", "lờ" cả trong nhà trường và ngoài xã hội.. Bà bác tôi, cụ chủ hiệu bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, lúc sinh thời đã từng khoe với bạn bè là: " Con cháu chúng tôi ăn nói lịch thiệp, đoan trang hơn cả người Hà nội...". Nói như vậy để thấy rằng: cái gọi là "ngữ âm vùng, miền" người ta đã du nhập vào Đông thành của chúng tôi từ năm 1954 và cả về sau này. Người Hải dương "chính cống" không bao giờ nói ngọng. Không biết ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục có phải "đồng hương" không vậy ? Cảm ơn tác giả Phạm Thị Hoài đã viết lên cái khắc khoải về văn hóa vùng, miền của Người Hải Dương "chính cống"...

Xem Thêm

Đề bài :Bàn về “Lói ngọng” Phạm Thị Hoài

Tôi sinh ra và lớn lên ở Hải dương, một nơi đã từng mang cái tên thơ mộng là Đông Thành. Từ hơn 60 năm trước, thời tiểu học của chúng tôi chưa từng có chuyện nói ngọng "nờ", "lờ" cả trong nhà trường và ngoài xã hội.. Bà bác tôi, cụ chủ hiệu bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, lúc sinh thời đã từng khoe với bạn bè là: " Con cháu chúng tôi ăn nói lịch thiệp, đoan trang hơn cả người Hà nội...". Nói như vậy để thấy rằng: cái gọi là "ngữ âm vùng, miền" người ta đã du nhập vào Đông thành của chúng tôi từ năm 1954 và cả về sau này. Người Hải dương "chính cống" không bao giờ nói ngọng. Không biết ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục có phải "đồng hương" không vậy ? Cảm ơn tác giả Phạm Thị Hoài đã viết lên cái khắc khoải về văn hóa vùng, miền của Người Hải Dương "chính cống"... Hoàng Nguyễn

Xem Thêm

Đề bài :Bàn về “Lói ngọng” Phạm Thị Hoài

Bài viết phân tích tật nói ngọng của dàn lảnh đạo cao cấp VN hiện nay rất sâu sắc và hữu ích ,tuy nhiên bây giờ tật nói ngọng này đã ăn sâu thành lề lối nên khó thay đổi. Cái đáng nói đến là nguyên nhân ,từ xa xưa thời cách mạng tháng tám ,Đảng VC và cấp lảnh đạo có chủ trương nêu cao giai cấp tiên tiến là công nông ,còn giai cấp địa chủ tư sản là kẻ thù phải tiêu diệt giết sạch ,mà đại đa số thành phần cốt cán công nông là dân quê ,hoặc lao động chân tay cho nên tật nói ngọng rất phổ biến ,còn đám tiểu tư sản hay trí thức muốn sống sót thì bắt buộc phải cúi mình nương theo quần chúng nếu không muốn bị đem ra đấu tố ,mà trước hết là cố gắng hòa đồng bằng cách tập nói ngọng ,không còn kiểu ăn nói văn hoa lịch lãm ,từ đó phong trào nói ngọng trở thành biểu trưng của giai cấp cách mạng tiên tiến.Nhà nhà nói ngọng ,người người nói ngọng lâu dần không ai thấy khó chịu khi nghe người khác và ngay cả bản thân cùng gia đình cũng nói ngong.. niu..no !! Nếu tác giả sinh trong thời đó thì bây giờ có lẻ không có bài phân tích này .

Xem Thêm

Đề bài :Bản Tuyên Ngôn của Người Mỹ Gốc Việt ủng hộ Ứng Cử Viên Joe Bide

Một bài viết trào phúng đầy ý nghĩa ! Một bài viết "dành cho những người thông minh", không phải "cho những kẻ tầm thường". Cảm ơn tác giả.

Xem Thêm

Đề bài :Bản Tuyên Ngôn của Người Mỹ Gốc Việt ủng hộ Ứng Cử Viên Joe Bide

Toi la nguoi Vietnam ty nan tai My.Nhung toi KHONG ghi ten vao to chuc Vietnamese-Americans va toi khang dinh : Toi CHUA quyet dinh bau phieu cho ai ca.Xin dung loi dung va gom chung nhung nguoi Vietnam o My va cai hoi nay,vao hay khong la quyen tu do cua moi nguoi.Toi khang dinh va toi chiu trach nhiem ve su khang dinh nay./-

Xem Thêm

Đề bài :Khấn Người Tình Địch - Tràm Cà Mau

Có gì đâu ông bạn JUDO ! Tốt hơn hết mỗi khi thấy còm có tên DON VU thì coi như "bãi rác", tránh cho xa...Thế thôi !!!

Xem Thêm

Đề bài :Nữ dân biểu gốc Việt bị đồng hương chụp mũ vì ủng hộ BLM

Search these links below, please: https://www.vietbf.com/forum/showthread.php?t=1364608 https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/cong-dong/ung-ho-blm-dan-bieu-goc-viet-bi-chup-than-cong-doanh-gia-goc-viet-bi-doa-giet/ http://www.vsam1040.com/vi-vn/tin-tuc/tin-nguoi-viet-hai-ngoai/nu-dan-bieu-goc-viet-bi-dong-huong-chup-mu-vi-ung

Xem Thêm

TIN MỚI

Phật giáo hiện nay suy đồi

Cho dù có chùa to, Phật lớn khắp nơi, tu sĩ rất nhiều,

Xem Thêm

Những Hậu Quả Tệ Hại Do Chủ Trương "Bỏ Phiếu Bằng Thư"

Trong những giấy tờ gửi tới gia đình tôi và gia đình ông cậu nhà tôi đã cho thấy ... đã cố tình loại bỏ tên TT Donald Trump và trên các phiếu bầu.

Xem Thêm

ĐỂ DÀNH. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Ô hay em vẫn quan san Chưa nghe hơi thở anh than vãn buồn

Xem Thêm

Vì sao có khoảng cách cha mẹ Việt kiều và con ở Mỹ? = Lương Tạ

Bối cảnh xã hội nóng bỏng làm nổi bật sự khác biệt giữa một số đông của thế hệ trước được giáo dục qua trung học ở Việt Nam và thế hệ sau được giáo dục ở Mỹ gần đây.

Xem Thêm

Tại sao thế giới hờ hững với thành công Vắccine phòng chống Covid 19 của Nga - Mai Tú Ân

Hôm qua nước Nga đã tổ chức họp báo để cho thế giới biết nước Nga đã thành công khi chế ra Vắccin

Xem Thêm

Họa vần: RƯỢU THUỐC

Rượu thuốc mà ngâm với rễ nhàu. Uống vào nhức mỏi biến đi đâu

Xem Thêm

Kẻ qua sông an toàn lại đạp người sắp chết đuối - Nguyễn Dư

Người ta chắc chưa quên, trước đây trên mạng có phổ biến những hình ảnh chụp quan chức

Xem Thêm

Thế giới hôm nay: 12/08/2020

Hôm qua Nga cho biết họ đã phê duyệt vắc xin covid-19 do các nhà khoa học trong nước phát triển.

Xem Thêm

Thủ tướng VN Rước đuốc Olympic China vào Thành Hồ ..- Nguyễn Bá Chổi.

(HNPD) Thủ tướng VN Rước đuốc Olympic China vào Thành Hồ ..- Nguyễn Bá Chổi.

Xem Thêm

Không chó thì bắt mèo ăn phân - Lê Huy Trứ

Kamala không được đa số Mỹ đen lẫn Mỹ trắng, và đa số thiểu số ủng hộ.

Xem Thêm