Đoạn Đường Chiến Binh
Mong một lần sang Hạ Lào, nơi chồng hy sinh
Tác Giả: Việt Hùng/Người Việt
SÀI GÒN (NV) - Năm nay, 2016, là đúng 45 năm ngày mất của cố Ðại
Úy Nguyễn Văn Ðương (1971-2016), Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. Ðại Úy Ðương hy sinh tại chiến trường Hạ Lào vào đầu năm 1971,
và được mọi người biết đến như một huyền thoại qua tác phẩm bất hủ của
nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, “Anh Không Chết Ðâu Anh.” Phóng viên Việt Hùng
của Người Việt đến thăm bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương, nhũ danh Trần Thị
Mai, tại tư gia ở Quận 11, Sài Gòn và được bà dành cho cuộc phỏng vấn
dưới đây.
Bà Trần Thị Mai bên di ảnh chồng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Việt Hùng (NV): Xin bà cho biết ký ức về thời gian Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương hy sinh ở mặt trận Hạ Lào?
Bà
Trần Thị Mai (TTM): Tôi còn nhớ những ngày đó, nó rơi vào những ngày
cuối Tháng Hai Dương Lịch, 1971. Lúc đó tôi lên phòng hậu cứ để lãnh
lương của anh Ðương, thì được một người lính nhảy dù, buồn bã nói với
tôi là “một tuần nữa chắc chị có khăn mới đeo.” Lúc đó tôi không biết
khái niệm “khăn mới” là gì hết.
Một tuần sau, tôi nhận được giấy
báo mất tích của anh Ðương tại đồi 31, căn cứ Hạ Lào (tức vào sâu trong
vùng biên giới nước Lào khoảng 25km). Lúc đó tôi vẫn còn hy vọng. Tôi
cầu nguyện và xin lá xâm trên chùa, thì được thầy cho biết là “người này
đang gặp đại nạn.” Tuy vậy, tôi vẫn còn rất tin tưởng là chồng mình còn
sống.
Thế nhưng anh Ðương, ảnh rất là “linh.” Sau đó khoảng 3
ngày thì tôi nằm ngủ mơ, trong giấc mơ, tôi thấy anh Ðương về nhà trong
tình trạng bị thương ở chân, vẫn còn mặc bộ đồ lính và nói với tôi là
“lần này anh đi không trở lại được, em ở nhà ráng nuôi các con khôn lớn.
Anh vẫn luôn che chở cho mẹ con em.” Tôi òa khóc! Giật mình tỉnh dậy
thì không thấy ai bên mình hết. Lúc đó thì tôi tin là anh Ðương đã mất.
Sau
đó đúng 3 ngày thì tôi nhận được giấy báo tử của chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa, đề ngày mất là 24 Tháng Hai, 1971, nhằm 29 Tháng Giêng, năm
Tân Hợi. Bởi vậy gia đình tôi vẫn luôn cúng giỗ cho anh Ðương vào ngày
29 tháng Giêng âm lịch. Năm nay là nhằm ngày 7 Tháng Ba Dương Lịch.
Với bà Mai, “anh Ðương vẫn mãi sống trong tim mình.” (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
NV: Về thông tin những giây phút cuối đời của Ðại Úy Ðương, bà có nắm được gì không?
TTM:
Lần cuối anh Ðương ở nhà là vào Mồng Một Tết Tân Hợi 1971. Qua ngày
Mồng Hai anh được lệnh phải vào gấp trong trại, và anh gọi điện về là sẽ
đi chiến dịch quan trong, nên mẹ con ở nhà ăn tết vui vẻ. Sang Mồng Ba
thì toàn bộ Sư Ðoàn Nhảy Dù đã âm thầm di chuyển bằng không vận từ các
căn cứ gần Sài Gòn ra Ðông Hà, Quảng Trị.
Lần lượt các đơn vị Dù
đã được không tải đến những địa điểm ấn định từ trước, phối hợp với các
đơn vị khác, thực hiện cuộc hành quân mang tên là “Hành Quân Lam Sơn
719” nhằm tiến quân đánh thẳng vào các căn cứ tiếp vận quan trọng của
Cộng Sản ở đường mòn Hồ Chí Minh, vùng Hạ Lào (tức là vượt biên 25 km
qua lãnh thổ Lào). Con số 719 là gồm 71 là năm 1971 và số 9 là Quốc Lộ
9, con đường huyết mạch để chuyển quân trong chiến dịch này. Vì vậy có
tên gọi “Hành Quân Lam Sơn 719.”
Sau này khi tôi nghe các anh
lính cũng là lính Nhảy Dù trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719 kể lại
thì lúc giáp chiến với quân đôi Bắc Việt là vào 19 giờ tối ngày 24 Tháng
Hai, 1971. Cả pháo đội 3 của anh Ðương đều bị trúng đạn, đường tiếp
viện bị cắt, biết không thể thoát, anh Ðương ra lệnh cho các anh em
tuyến dưới ai tháo chạy được thì cứ chạy. Còn anh Ðương vẫn ở lại với
một chân bị thương rất nặng, sau đó anh tuẫn tiết bằng khẩu súng tự bắn
vào đầu mình.
Qua hôm sau là ngày 25 Tháng Hai, 1971, cả căn cứ
31 thuộc vùng Hạ Lào đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội
Bắc Việt. Rất nhiều người lính VNCH đã bỏ mạng nơi đây... (khóc)
NV: Rồi sau năm 1975 cuộc sống gia đình bà ra sao?
TTM:
Từ năm 1971 đến 1975 thì tôi vẫn còn lương của chính quyền VNCH, nên
tuy một mình, tôi vẫn đủ nuôi 4 đứa con (3 trai 1 gái). Tuy nhiên sau
năm 1975 thì cuộc sống gia đình tôi bắt đầu gặp rất nhiều khó khăn. Ðầu
tiên là từ phía chính quyền CSVN, thời gian đầu họ “kiểm tra hộ khẩu”
nhà tôi liên tục. Có nhiều đêm tôi không dám ở nhà vì sợ cảm giác “gõ
cửa lúc nửa đêm.”
Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề
mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng.
Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và
đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ
quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả
hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ hít phải mùi cao su quá
nhiều và ăn uống kham khổ nên đổ bệnh.
Nguyễn Viết Xa, con trai cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, bên bàn thờ thân phụ. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Ðứa
con trai út đang sống với tôi là Nguyễn Viết Xa, năm nay đã 47 tuổi,
lúc bố mất, nó mới có 2 tuổi à. Hiện nay nó đang làm nghề chạy xe ôm.
Còn đứa con gái thì lấy chồng ở bên phía nhà chồng.
Bản thân tôi
năm nay đã bước sang tuổi 76, bệnh tật đầy mình, một con mắt đã mù hẳn
vì nhà sập trong quá khứ. Hiện nay căn nhà tôi đang ở là của bố mẹ chồng
(tức bố mẹ anh Ðương).
NV: Với tư cách là vợ người anh hùng đã hy sinh vì sự bình yên của miền Nam, bà có mong muốn điều gì?
TTM:
Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang
vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất
khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến
được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng. Từ ngày anh ấy mất cho đến giờ,
tôi chưa một lần được sang vùng đất đó, vì nhiều lý do, trong đó vì
không có kinh phí và người dẫn đường, cùng với những bộn bề của cuộc
sống làm tôi vẫn chưa thực hiện được mong muốn của mình.
NV: Với những thăng trầm của cuộc sống, điều gì khiến bà cảm thấy hối tiếc nhất, và tự hào nhất?
TTM:
Ðiều tôi hối tiếc là chưa nuôi dạy con được tốt. Bốn đứa con không đứa
nào được học hành đàng hoàng. Hai đứa đầu thì đã mất, đứa con gái lấy
chồng thì cũng tạm ổn, nhưng thằng con trai út thì vẫn phải hành nghề xe
ôm kiếm sống qua ngày. Tôi có lỗi với anh Ðương về điều này (khóc).
Còn
điều tôi tự hào nhất thì chắc chắn là về anh Ðương. Tôi tự hào khi có
được người chồng anh dũng như vậy. Bản thân tôi không “đi bước nữa” cũng
vì lý do này. Với tôi anh Ðương vẫn luôn là người anh hùng trong tim
tôi!
Cho đến bây giờ, lâu lâu tôi vẫn mở bản nhạc “Anh Không Chết
Ðâu Anh” để nghe. Tôi thuộc làu từng lời bài hát đó, nhưng vẫn cứ thích
nghe đi nghe lại và ngồi hát một mình vu vơ (cười).
NV:
Cảm ơn bà đã dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn này. Xin chúc bà được
nhiều sức khỏe và mong bà sớm thực hiện được ước muốn của mình là được
sang vùng Hạ Lào để nhìn thấy nơi Ðại Úy Ðương đã anh dũng hy sinh. Biết
đâu điều kỳ diệu sẽ đến, khi bà tìm được xương cốt của cố đại úy.
TTM: Cảm ơn Người Việt rất nhiều. Xin chúc độc giả quý báo một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.
Anh Không Chết Ðâu Anh
Tác giả: Trần Thiện Thanh
Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Ðương
Tôi vẫn thấy đêm đêm, một bóng dù sáng trên đồi máu
Nghe trong đêm kêu gào, từng tiếng súng pháo đếm mau
Và tiếng súng tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi
Anh, anh không chết đâu em, anh chỉ về với mẹ mong con
Anh vẫn sống thênh thang, trong lòng muôn người biết thương đời lính
Trong tim cô sinh viên hay buồn thường nhắc nhở những chiến công
Chuyện nước mắt ướt sân trường đại học chuyện anh riêng anh riêng anh
Ôi đất mát trên đồi xanh, tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
Ðâu cánh dù ôm gió, đây cánh dù ôm kín đời anh
Trong những tiếng reo hò kia, lẻ loi tiếng súng anh nhiệm màu
Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh
Không, anh không, anh không chết đâu em, anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua
Tôi thấy mắt anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ
Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân
Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh...
Bàn ra tán vào (1)
----------------------------------------------------------------------------------
Mong một lần sang Hạ Lào, nơi chồng hy sinh
Tác Giả: Việt Hùng/Người Việt
SÀI GÒN (NV) - Năm nay, 2016, là đúng 45 năm ngày mất của cố Ðại
Úy Nguyễn Văn Ðương (1971-2016), Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa. Ðại Úy Ðương hy sinh tại chiến trường Hạ Lào vào đầu năm 1971,
và được mọi người biết đến như một huyền thoại qua tác phẩm bất hủ của
nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, “Anh Không Chết Ðâu Anh.” Phóng viên Việt Hùng
của Người Việt đến thăm bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương, nhũ danh Trần Thị
Mai, tại tư gia ở Quận 11, Sài Gòn và được bà dành cho cuộc phỏng vấn
dưới đây.
Bà Trần Thị Mai bên di ảnh chồng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Việt Hùng (NV): Xin bà cho biết ký ức về thời gian Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương hy sinh ở mặt trận Hạ Lào?
Bà
Trần Thị Mai (TTM): Tôi còn nhớ những ngày đó, nó rơi vào những ngày
cuối Tháng Hai Dương Lịch, 1971. Lúc đó tôi lên phòng hậu cứ để lãnh
lương của anh Ðương, thì được một người lính nhảy dù, buồn bã nói với
tôi là “một tuần nữa chắc chị có khăn mới đeo.” Lúc đó tôi không biết
khái niệm “khăn mới” là gì hết.
Một tuần sau, tôi nhận được giấy
báo mất tích của anh Ðương tại đồi 31, căn cứ Hạ Lào (tức vào sâu trong
vùng biên giới nước Lào khoảng 25km). Lúc đó tôi vẫn còn hy vọng. Tôi
cầu nguyện và xin lá xâm trên chùa, thì được thầy cho biết là “người này
đang gặp đại nạn.” Tuy vậy, tôi vẫn còn rất tin tưởng là chồng mình còn
sống.
Thế nhưng anh Ðương, ảnh rất là “linh.” Sau đó khoảng 3
ngày thì tôi nằm ngủ mơ, trong giấc mơ, tôi thấy anh Ðương về nhà trong
tình trạng bị thương ở chân, vẫn còn mặc bộ đồ lính và nói với tôi là
“lần này anh đi không trở lại được, em ở nhà ráng nuôi các con khôn lớn.
Anh vẫn luôn che chở cho mẹ con em.” Tôi òa khóc! Giật mình tỉnh dậy
thì không thấy ai bên mình hết. Lúc đó thì tôi tin là anh Ðương đã mất.
Sau
đó đúng 3 ngày thì tôi nhận được giấy báo tử của chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa, đề ngày mất là 24 Tháng Hai, 1971, nhằm 29 Tháng Giêng, năm
Tân Hợi. Bởi vậy gia đình tôi vẫn luôn cúng giỗ cho anh Ðương vào ngày
29 tháng Giêng âm lịch. Năm nay là nhằm ngày 7 Tháng Ba Dương Lịch.
Với bà Mai, “anh Ðương vẫn mãi sống trong tim mình.” (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
NV: Về thông tin những giây phút cuối đời của Ðại Úy Ðương, bà có nắm được gì không?
TTM:
Lần cuối anh Ðương ở nhà là vào Mồng Một Tết Tân Hợi 1971. Qua ngày
Mồng Hai anh được lệnh phải vào gấp trong trại, và anh gọi điện về là sẽ
đi chiến dịch quan trong, nên mẹ con ở nhà ăn tết vui vẻ. Sang Mồng Ba
thì toàn bộ Sư Ðoàn Nhảy Dù đã âm thầm di chuyển bằng không vận từ các
căn cứ gần Sài Gòn ra Ðông Hà, Quảng Trị.
Lần lượt các đơn vị Dù
đã được không tải đến những địa điểm ấn định từ trước, phối hợp với các
đơn vị khác, thực hiện cuộc hành quân mang tên là “Hành Quân Lam Sơn
719” nhằm tiến quân đánh thẳng vào các căn cứ tiếp vận quan trọng của
Cộng Sản ở đường mòn Hồ Chí Minh, vùng Hạ Lào (tức là vượt biên 25 km
qua lãnh thổ Lào). Con số 719 là gồm 71 là năm 1971 và số 9 là Quốc Lộ
9, con đường huyết mạch để chuyển quân trong chiến dịch này. Vì vậy có
tên gọi “Hành Quân Lam Sơn 719.”
Sau này khi tôi nghe các anh
lính cũng là lính Nhảy Dù trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719 kể lại
thì lúc giáp chiến với quân đôi Bắc Việt là vào 19 giờ tối ngày 24 Tháng
Hai, 1971. Cả pháo đội 3 của anh Ðương đều bị trúng đạn, đường tiếp
viện bị cắt, biết không thể thoát, anh Ðương ra lệnh cho các anh em
tuyến dưới ai tháo chạy được thì cứ chạy. Còn anh Ðương vẫn ở lại với
một chân bị thương rất nặng, sau đó anh tuẫn tiết bằng khẩu súng tự bắn
vào đầu mình.
Qua hôm sau là ngày 25 Tháng Hai, 1971, cả căn cứ
31 thuộc vùng Hạ Lào đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội
Bắc Việt. Rất nhiều người lính VNCH đã bỏ mạng nơi đây... (khóc)
NV: Rồi sau năm 1975 cuộc sống gia đình bà ra sao?
TTM:
Từ năm 1971 đến 1975 thì tôi vẫn còn lương của chính quyền VNCH, nên
tuy một mình, tôi vẫn đủ nuôi 4 đứa con (3 trai 1 gái). Tuy nhiên sau
năm 1975 thì cuộc sống gia đình tôi bắt đầu gặp rất nhiều khó khăn. Ðầu
tiên là từ phía chính quyền CSVN, thời gian đầu họ “kiểm tra hộ khẩu”
nhà tôi liên tục. Có nhiều đêm tôi không dám ở nhà vì sợ cảm giác “gõ
cửa lúc nửa đêm.”
Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề
mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng.
Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và
đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ
quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả
hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ hít phải mùi cao su quá
nhiều và ăn uống kham khổ nên đổ bệnh.
Nguyễn Viết Xa, con trai cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, bên bàn thờ thân phụ. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Ðứa
con trai út đang sống với tôi là Nguyễn Viết Xa, năm nay đã 47 tuổi,
lúc bố mất, nó mới có 2 tuổi à. Hiện nay nó đang làm nghề chạy xe ôm.
Còn đứa con gái thì lấy chồng ở bên phía nhà chồng.
Bản thân tôi
năm nay đã bước sang tuổi 76, bệnh tật đầy mình, một con mắt đã mù hẳn
vì nhà sập trong quá khứ. Hiện nay căn nhà tôi đang ở là của bố mẹ chồng
(tức bố mẹ anh Ðương).
NV: Với tư cách là vợ người anh hùng đã hy sinh vì sự bình yên của miền Nam, bà có mong muốn điều gì?
TTM:
Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang
vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất
khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến
được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng. Từ ngày anh ấy mất cho đến giờ,
tôi chưa một lần được sang vùng đất đó, vì nhiều lý do, trong đó vì
không có kinh phí và người dẫn đường, cùng với những bộn bề của cuộc
sống làm tôi vẫn chưa thực hiện được mong muốn của mình.
NV: Với những thăng trầm của cuộc sống, điều gì khiến bà cảm thấy hối tiếc nhất, và tự hào nhất?
TTM:
Ðiều tôi hối tiếc là chưa nuôi dạy con được tốt. Bốn đứa con không đứa
nào được học hành đàng hoàng. Hai đứa đầu thì đã mất, đứa con gái lấy
chồng thì cũng tạm ổn, nhưng thằng con trai út thì vẫn phải hành nghề xe
ôm kiếm sống qua ngày. Tôi có lỗi với anh Ðương về điều này (khóc).
Còn
điều tôi tự hào nhất thì chắc chắn là về anh Ðương. Tôi tự hào khi có
được người chồng anh dũng như vậy. Bản thân tôi không “đi bước nữa” cũng
vì lý do này. Với tôi anh Ðương vẫn luôn là người anh hùng trong tim
tôi!
Cho đến bây giờ, lâu lâu tôi vẫn mở bản nhạc “Anh Không Chết
Ðâu Anh” để nghe. Tôi thuộc làu từng lời bài hát đó, nhưng vẫn cứ thích
nghe đi nghe lại và ngồi hát một mình vu vơ (cười).
NV:
Cảm ơn bà đã dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn này. Xin chúc bà được
nhiều sức khỏe và mong bà sớm thực hiện được ước muốn của mình là được
sang vùng Hạ Lào để nhìn thấy nơi Ðại Úy Ðương đã anh dũng hy sinh. Biết
đâu điều kỳ diệu sẽ đến, khi bà tìm được xương cốt của cố đại úy.
TTM: Cảm ơn Người Việt rất nhiều. Xin chúc độc giả quý báo một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.
Anh Không Chết Ðâu Anh
Tác giả: Trần Thiện Thanh
Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Ðương
Tôi vẫn thấy đêm đêm, một bóng dù sáng trên đồi máu
Nghe trong đêm kêu gào, từng tiếng súng pháo đếm mau
Và tiếng súng tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi
Anh, anh không chết đâu em, anh chỉ về với mẹ mong con
Anh vẫn sống thênh thang, trong lòng muôn người biết thương đời lính
Trong tim cô sinh viên hay buồn thường nhắc nhở những chiến công
Chuyện nước mắt ướt sân trường đại học chuyện anh riêng anh riêng anh
Ôi đất mát trên đồi xanh, tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
Ðâu cánh dù ôm gió, đây cánh dù ôm kín đời anh
Trong những tiếng reo hò kia, lẻ loi tiếng súng anh nhiệm màu
Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh
Không, anh không, anh không chết đâu em, anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua
Tôi thấy mắt anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ
Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân
Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh...