Thân Hữu Tiếp Tay...
TẢN MẠN TÂN NIÊN BÍNH NGỌ 2026 - Lê Bá Vận
Bọ ngựa, còn được gọi là “ngựa nhà trời”, cặp càng sắc bén, đứng đầu loài ngựa?
Năm Bính Ngọ đến, người già khụ khấp khởi chào đón, được thêm một tuối thêm hi vọng đạt đại thọ, trẻ con vui mừng mặc áo mới, ăn nhiều mứt bánh, đánh bài vụ, lắc bầu cua cá. Số còn lại tuy vui vẻ đón Têt song trong lòng canh cánh nỗi già thêm một tuổi, khó giữ nét thanh xuân.
Năm Bính Ngọ là năm con ngựa, 12 năm sau ‘ngọ’ đến lại, giữ tên song đổi ho, là Mậu Ngọ 2038.
Sáu mươi năm trước (một giáp), năm 1966 cũng là Bính Ngọ, tiếp đến Tết Mậu Thân Huế,1968 tang tóc mà rồi đây, hai năm nữa sẽ là Mậu Thân 2028 lễ kỷ niệm.
Người Việt giỏi chữ nho biết ‘ngọ’ là ‘trưa’. Đúng ngọ là 12 giờ trưa. Ngọ phạn, ngọ thụy, ngọ dạ là ăn trưa, ngủ trưa, nửa đêm. Song dù kém đên đâu cũng biết ‘mã’ là ngựa, giỏi thì có đọc quyển “Tam thiên tự”, sách dạy 3.000 chữ Hán:
“Thiên là trời, địa đất… gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa …”
Cũng biết được ‘ngưu’ là trâu chứ không phải ‘sửu’ là trâu.
Tết Bính Ngọ năm nay trên văn đàn chuyện về con ngựa thư văn rất phong phú, các năm ‘ngọ’ trước cũng vậy, mọi khía cạnh đã được khai thác đến nỗi hầu như giờ đây không còn gì để viết thêm, vơ vét được chừng nào hay chừng ấy.
---------
I) Ngựa nhà trời. Trước tiên xin nói đến con bọ ngựa, ngựa nhà trời, đứng đầu loài ngựa, trên con ngựa Pegasus có cánh trong thần thoại Hi Lạp.
Trong tập truyện ‘Dế Mèn Phiêu Lưu Ký’ nhà văn Tô Hoài đã khắc họa nhân vật Bọ Ngựa (được gọi là Võ sĩ Bọ Ngựa) là một kẻ hợm mình, kiêu ngạo, hống hách nhưng lại u mê, dễ bị phỉnh nịnh. Võ sĩ Bọ Ngựa luôn nghĩ mình tài giỏi, thích khoe khoang võ nghệ với đôi càng sắc bén như kiếm và khả năng quan sát nhạy bén, nhưng cuối cùng nhận ra sai lầm.
Võ sĩ Bọ Ngựa là đối thủ chính của Dế Mèn trong một trận tranh hùng nảy lửa. Trận đấu giữa Dế Mèn và Bọ Ngựa không chỉ là một màn phô diễn sức mạnh mà còn mang ý nghĩa giáo dục về sự khiêm tốn và lòng hướng thiện trong hành trình trưởng thành của các nhân vật.
Bọ ngựa thật ra được xem là loài côn trùng có lợi nhiều hơn có hại vì chúng tiêu diệt nhiều côn trùng có hại, đặc biệt chúng ăn rất nhiều các loài rệp hại cây (Aphididae).[1]. Con cái lớn hơn, dái 48 – 76 mm; đực 40 – 61 mm. Chúng linh tính, vào nhà là điềm tốt. Ở nước ta bọ ngựa có nhiều từ Quảng Bình trở ra. Tôi thấy chúng đậu trên là cây, dài bằng ngón tay nhưng mảnh.
II) Khuyển mã. Sự trung thành, tận tâm: Ví như chó và ngựa, phục vụ chủ không điều kiện.
Ngựa văn chương hơn, xuất hiện mọi nơi: thi văn, nhạc, nhân danh, địa danh… thành ngữ, tục ngữ.
- “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” – Kiều.
- “Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết” (Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in) . Chinh phụ ngâm.
- Nhạc điệu ”Tẩu mã” nhạc cổ.
- Địa danh: Núi Bạch Mã, Huế. Sông Mã, Thanh Hóa.
- Nhân danh: Mã Viện, họ Tư Mã, Mã Gíám Slnh, Mã Long, Mã Phụng, Mã Ô (Thơ Mụ Đội).
Thành ngữ, tục ngữ… Chỉ sơ lược môt số thường gặp,. Không giải thích dông dài.
- Ngựa non háu đá: Thẳng như ruột ngựa: Ngựa quen đường cũ: Đầu trâu mặt ngựa: Lên xe xuống ngựa: Cưỡi ngựa xem hoa. Thay ngựa giữa dòng: Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ: Ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy
- Đĩ ngựa là từ chửi Nam Kỳ ví những người đờn bà dữ tợn, mượn từ Huế“ngựa Thượng Tứ”. Người đờn bà dữ dằn lúc nào cũng lồng lên .động đực.
- ‘Đừng bao giờ nhìn vào mõm ngựa được tặng" (thành ngữ tiếng Anh) khuyên không nên soi mói, chê bai hay đánh giá khắt khe giá trị của những món quà được tặng miễn phí.
- Mặt dài như ngựa: Miêu tả vẻ mặt buồn bã, thất vọng hoặc khi bị bắt quả tang điều gì đó. Fernandel (1903–1971) là danh hài, diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Pháp, được mệnh danh là "mặt ngựa" (gueule de cheval) do khuôn mặt dài đặc trưng, đặc biệt là phần hàm.
- Tâm viên ý mã (心猿意馬) là cụm từ ẩn dụ trong triết lý Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, ví tâm trí con người bất định, lăng xăng như con khỉ nhảy nhót (tâm viên) và suy nghĩ hoang dã, nhanh chóng như con ngựa chạy rông (ý mã). Cụm từ này mô tả trạng thái tư tưởng khó kiểm soát, dễ xao nhãng trước ngoại cảnh và đề cao sự tu luyện tĩnh tâm.
III) Chiến mã. Gắn bó với chủ, làm nên sự nghiệp. Sơ lược, bỏ qua các trường hợp ít được nói đến hoặc xa lạ trên thế giơi Vd. Bucephalus, con ngựa huyền thoại của Alexander Đại đế. Marengo: Chú ngựa Ả Rập nhỏ bé của Napoleon Bonaparte.
- Chiến mã Mông Cổ lập công đầu.. Là giống ngựa nhỏ, sức bền bỉ phi thường, đóng vai trò then chốt trong các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn ở thế kỷ XIII. Cao khoảng 1,4m, nặng 350kg, chúng nổi tiếng với khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, di chuyển nhanh, giúp kỵ binh Mông Cổ áp dụng chiến thuật cung kỵ cơ động, tạo nên đế quốc rộng lớn.
- Trong lịch sử và văn học, đặc biệt thời Tam Quốc, nhiều chiến mã nổi tiếng đã cứu chủ nhân thoát hiểm nhờ sự thông minh, trung thành và sức bền phi thường.
Ngựa Đích Lư (Lưu Bị): Trong trận Đàn Khê, Đích Lư nhảy vọt qua suối rộng, cứu Lưu Bị thoát chết.
Ngựa Tuyệt Ảnh (Tào Tháo): Trong trận Uyển Thành, mang Tào Tháo thoát khỏi sự truy sát của địch.
Ngựa Xích Thố (Lã Bố, Quan Vũ): Nổi tiếng, giúp chủ nhân thoát khỏi vòng vây hiểm nguy nhiều lần.
Ngựa Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử (Triệu Vân): Dũng mãnh đã cùng Triệu Tử Long vượt qua vòng vây quân Tào trong trận Đương Dương - Trường Bản.
Ngựa Ô Vân Đạp Tuyết (Trương Phi): Từng giúp Trương Phi dũng mãnh trong nhiều trận chiến.
Những chiến mã này thường được miêu tả có "linh tính", biết chủ gặp nguy..
- Chiến mã nổi tiếng nhất gắn liền với Quách Tĩnh trong tiểu thuyết Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung là Hãn Huyết Bảo Mã (hay còn gọi là Hồng Mã) có khả năng chạy nhanh như gió, vượt qua sông sâu lửa cháy, đóng vai trò quan trọng giúp Quách Tĩnh chống quân Kim, thoát hiểm nhiều lần.
IV) Đôi dép lốp chiến mã của Bác Hồ.
Đôi dép này cũng được gọi là "dép Cụ Hồ" (Ho Chi Minh sandals), được so sánh với những chiến mã nổi danh và đã đi vào thơ ca, nghệ thuật như một huyền thoại về bước chân của Người.
Đôi dép được làm ra vào khoảng năm 1947,[1] chế tạo từ một chiếc lốp ô tô quân sự của quân đội Pháp và được gửi tặng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vật lưu niệm về chiến thắng. Ông đã sử dụng hơn 20 năm, kể từ năm 1947, và cũng từng theo chân ông đi đến các quốc gia khác như Ấn Độ, và hiện nay được đặt trong Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh như một di vật của ông[4][5] .
Trong một lần đi công tác, Bác nói vui với các cán bộ đi cùng:“Đây là đôi hài vạn dặm trong truyện cổ tích ngày xưa. Đôi hài thần đất, đi đến đâu mà chẳng được”.
Gặp suối hoặc trời mưa trơn, bùn nước vào dép khó đi, Bác cẩn thận tụt dép xách tay. Mười một năm rồi vẫn đôi dép ấy. Các chiến sĩ cảnh vệ đã đôi ba lần “xin’’ Bác đổi dép, Bác bảo “vẫn còn đi được’’.
Cho đến lần đi thăm Ấn Độ, khi Bác lên máy bay, ngồi trong buồng riêng thì mọi người trong tổ cảnh vệ lập mẹo giấu dép đi, để sẵn một đôi giầy mới. Máy bay hạ cánh xuống Niu-đê-li, Bác tìm dép.
Mọi người thưa:“Có lẽ đã cất xuống khoang hàng của máy bay rồi… Thưa Bác….”
Bác đáp: “Bác biết các chú cất dép của Bác đi chứ gì. Nước ta còn chưa được độc lập hoàn toàn, nhân dân ta còn khó khăn, Bác đi dép cao su nhưng bên trong lại có đôi tất mới thế là đủ lắm mà vẫn lịch sự”. Bác ôn tồn nói tiếp. Vậy là các anh chiến sĩ phải trả lại dép để Bác đi vì dưới đất chủ nhà đang nóng lòng chờ đợi..
Trong suốt thời gian Bác ở Ấn Độ, nhiều chính khách, nhà báo, nhà quay phim… rất quan tâm đến đôi dép của Bác. Họ cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc độ, ghi ghi chép chép… làm tổ cảnh vệ lại phải một phen xem chừng và bảo vệ “đôi hài thần kỳ” ấy.
Bàn: Bác đi Ấn Độ năm 1958, đôi dép đã được dùng 11 năm, đã được đóng nhiều đinh để giữ quai bị tuột và đế dép đã mòn vẹt làm từ vỏ bánh xe, trông kệch cợm thì có miếng vá. Các quan khách, nhà báo đến bấm máy, quay phim vì thấy chuyện lạ đời, vật kỳ quặc, làm phóng sự, đưa tin chứ không phải để giới thiệu, phổ biến. Một đôi dép lốp mà phải lập một tổ chiến sĩ cảnh vệ để canh phòng ư?
Những năm 1947- 1948 Bác Hồ phải rút lui về Việt Bắc, Quân Pháp truy lùng gắt gao, đôi dép lốp bám sát gót Bác thoát hiểm, sau đó đeo chân Bác suốt đời, giúp Bác làm nên sự nghiệp, rạng danh năm châu. Khác gì những chiến mã xưa xông pha theo phò chúa, lưu danh?
Lê Bá Vận.
Bàn ra tán vào (0)
TẢN MẠN TÂN NIÊN BÍNH NGỌ 2026 - Lê Bá Vận
Bọ ngựa, còn được gọi là “ngựa nhà trời”, cặp càng sắc bén, đứng đầu loài ngựa?
Năm Bính Ngọ đến, người già khụ khấp khởi chào đón, được thêm một tuối thêm hi vọng đạt đại thọ, trẻ con vui mừng mặc áo mới, ăn nhiều mứt bánh, đánh bài vụ, lắc bầu cua cá. Số còn lại tuy vui vẻ đón Têt song trong lòng canh cánh nỗi già thêm một tuổi, khó giữ nét thanh xuân.
Năm Bính Ngọ là năm con ngựa, 12 năm sau ‘ngọ’ đến lại, giữ tên song đổi ho, là Mậu Ngọ 2038.
Sáu mươi năm trước (một giáp), năm 1966 cũng là Bính Ngọ, tiếp đến Tết Mậu Thân Huế,1968 tang tóc mà rồi đây, hai năm nữa sẽ là Mậu Thân 2028 lễ kỷ niệm.
Người Việt giỏi chữ nho biết ‘ngọ’ là ‘trưa’. Đúng ngọ là 12 giờ trưa. Ngọ phạn, ngọ thụy, ngọ dạ là ăn trưa, ngủ trưa, nửa đêm. Song dù kém đên đâu cũng biết ‘mã’ là ngựa, giỏi thì có đọc quyển “Tam thiên tự”, sách dạy 3.000 chữ Hán:
“Thiên là trời, địa đất… gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa …”
Cũng biết được ‘ngưu’ là trâu chứ không phải ‘sửu’ là trâu.
Tết Bính Ngọ năm nay trên văn đàn chuyện về con ngựa thư văn rất phong phú, các năm ‘ngọ’ trước cũng vậy, mọi khía cạnh đã được khai thác đến nỗi hầu như giờ đây không còn gì để viết thêm, vơ vét được chừng nào hay chừng ấy.
---------
I) Ngựa nhà trời. Trước tiên xin nói đến con bọ ngựa, ngựa nhà trời, đứng đầu loài ngựa, trên con ngựa Pegasus có cánh trong thần thoại Hi Lạp.
Trong tập truyện ‘Dế Mèn Phiêu Lưu Ký’ nhà văn Tô Hoài đã khắc họa nhân vật Bọ Ngựa (được gọi là Võ sĩ Bọ Ngựa) là một kẻ hợm mình, kiêu ngạo, hống hách nhưng lại u mê, dễ bị phỉnh nịnh. Võ sĩ Bọ Ngựa luôn nghĩ mình tài giỏi, thích khoe khoang võ nghệ với đôi càng sắc bén như kiếm và khả năng quan sát nhạy bén, nhưng cuối cùng nhận ra sai lầm.
Võ sĩ Bọ Ngựa là đối thủ chính của Dế Mèn trong một trận tranh hùng nảy lửa. Trận đấu giữa Dế Mèn và Bọ Ngựa không chỉ là một màn phô diễn sức mạnh mà còn mang ý nghĩa giáo dục về sự khiêm tốn và lòng hướng thiện trong hành trình trưởng thành của các nhân vật.
Bọ ngựa thật ra được xem là loài côn trùng có lợi nhiều hơn có hại vì chúng tiêu diệt nhiều côn trùng có hại, đặc biệt chúng ăn rất nhiều các loài rệp hại cây (Aphididae).[1]. Con cái lớn hơn, dái 48 – 76 mm; đực 40 – 61 mm. Chúng linh tính, vào nhà là điềm tốt. Ở nước ta bọ ngựa có nhiều từ Quảng Bình trở ra. Tôi thấy chúng đậu trên là cây, dài bằng ngón tay nhưng mảnh.
II) Khuyển mã. Sự trung thành, tận tâm: Ví như chó và ngựa, phục vụ chủ không điều kiện.
Ngựa văn chương hơn, xuất hiện mọi nơi: thi văn, nhạc, nhân danh, địa danh… thành ngữ, tục ngữ.
- “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” – Kiều.
- “Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết” (Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in) . Chinh phụ ngâm.
- Nhạc điệu ”Tẩu mã” nhạc cổ.
- Địa danh: Núi Bạch Mã, Huế. Sông Mã, Thanh Hóa.
- Nhân danh: Mã Viện, họ Tư Mã, Mã Gíám Slnh, Mã Long, Mã Phụng, Mã Ô (Thơ Mụ Đội).
Thành ngữ, tục ngữ… Chỉ sơ lược môt số thường gặp,. Không giải thích dông dài.
- Ngựa non háu đá: Thẳng như ruột ngựa: Ngựa quen đường cũ: Đầu trâu mặt ngựa: Lên xe xuống ngựa: Cưỡi ngựa xem hoa. Thay ngựa giữa dòng: Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ: Ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy
- Đĩ ngựa là từ chửi Nam Kỳ ví những người đờn bà dữ tợn, mượn từ Huế“ngựa Thượng Tứ”. Người đờn bà dữ dằn lúc nào cũng lồng lên .động đực.
- ‘Đừng bao giờ nhìn vào mõm ngựa được tặng" (thành ngữ tiếng Anh) khuyên không nên soi mói, chê bai hay đánh giá khắt khe giá trị của những món quà được tặng miễn phí.
- Mặt dài như ngựa: Miêu tả vẻ mặt buồn bã, thất vọng hoặc khi bị bắt quả tang điều gì đó. Fernandel (1903–1971) là danh hài, diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Pháp, được mệnh danh là "mặt ngựa" (gueule de cheval) do khuôn mặt dài đặc trưng, đặc biệt là phần hàm.
- Tâm viên ý mã (心猿意馬) là cụm từ ẩn dụ trong triết lý Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, ví tâm trí con người bất định, lăng xăng như con khỉ nhảy nhót (tâm viên) và suy nghĩ hoang dã, nhanh chóng như con ngựa chạy rông (ý mã). Cụm từ này mô tả trạng thái tư tưởng khó kiểm soát, dễ xao nhãng trước ngoại cảnh và đề cao sự tu luyện tĩnh tâm.
III) Chiến mã. Gắn bó với chủ, làm nên sự nghiệp. Sơ lược, bỏ qua các trường hợp ít được nói đến hoặc xa lạ trên thế giơi Vd. Bucephalus, con ngựa huyền thoại của Alexander Đại đế. Marengo: Chú ngựa Ả Rập nhỏ bé của Napoleon Bonaparte.
- Chiến mã Mông Cổ lập công đầu.. Là giống ngựa nhỏ, sức bền bỉ phi thường, đóng vai trò then chốt trong các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn ở thế kỷ XIII. Cao khoảng 1,4m, nặng 350kg, chúng nổi tiếng với khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, di chuyển nhanh, giúp kỵ binh Mông Cổ áp dụng chiến thuật cung kỵ cơ động, tạo nên đế quốc rộng lớn.
- Trong lịch sử và văn học, đặc biệt thời Tam Quốc, nhiều chiến mã nổi tiếng đã cứu chủ nhân thoát hiểm nhờ sự thông minh, trung thành và sức bền phi thường.
Ngựa Đích Lư (Lưu Bị): Trong trận Đàn Khê, Đích Lư nhảy vọt qua suối rộng, cứu Lưu Bị thoát chết.
Ngựa Tuyệt Ảnh (Tào Tháo): Trong trận Uyển Thành, mang Tào Tháo thoát khỏi sự truy sát của địch.
Ngựa Xích Thố (Lã Bố, Quan Vũ): Nổi tiếng, giúp chủ nhân thoát khỏi vòng vây hiểm nguy nhiều lần.
Ngựa Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử (Triệu Vân): Dũng mãnh đã cùng Triệu Tử Long vượt qua vòng vây quân Tào trong trận Đương Dương - Trường Bản.
Ngựa Ô Vân Đạp Tuyết (Trương Phi): Từng giúp Trương Phi dũng mãnh trong nhiều trận chiến.
Những chiến mã này thường được miêu tả có "linh tính", biết chủ gặp nguy..
- Chiến mã nổi tiếng nhất gắn liền với Quách Tĩnh trong tiểu thuyết Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung là Hãn Huyết Bảo Mã (hay còn gọi là Hồng Mã) có khả năng chạy nhanh như gió, vượt qua sông sâu lửa cháy, đóng vai trò quan trọng giúp Quách Tĩnh chống quân Kim, thoát hiểm nhiều lần.
IV) Đôi dép lốp chiến mã của Bác Hồ.
Đôi dép này cũng được gọi là "dép Cụ Hồ" (Ho Chi Minh sandals), được so sánh với những chiến mã nổi danh và đã đi vào thơ ca, nghệ thuật như một huyền thoại về bước chân của Người.
Đôi dép được làm ra vào khoảng năm 1947,[1] chế tạo từ một chiếc lốp ô tô quân sự của quân đội Pháp và được gửi tặng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vật lưu niệm về chiến thắng. Ông đã sử dụng hơn 20 năm, kể từ năm 1947, và cũng từng theo chân ông đi đến các quốc gia khác như Ấn Độ, và hiện nay được đặt trong Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh như một di vật của ông[4][5] .
Trong một lần đi công tác, Bác nói vui với các cán bộ đi cùng:“Đây là đôi hài vạn dặm trong truyện cổ tích ngày xưa. Đôi hài thần đất, đi đến đâu mà chẳng được”.
Gặp suối hoặc trời mưa trơn, bùn nước vào dép khó đi, Bác cẩn thận tụt dép xách tay. Mười một năm rồi vẫn đôi dép ấy. Các chiến sĩ cảnh vệ đã đôi ba lần “xin’’ Bác đổi dép, Bác bảo “vẫn còn đi được’’.
Cho đến lần đi thăm Ấn Độ, khi Bác lên máy bay, ngồi trong buồng riêng thì mọi người trong tổ cảnh vệ lập mẹo giấu dép đi, để sẵn một đôi giầy mới. Máy bay hạ cánh xuống Niu-đê-li, Bác tìm dép.
Mọi người thưa:“Có lẽ đã cất xuống khoang hàng của máy bay rồi… Thưa Bác….”
Bác đáp: “Bác biết các chú cất dép của Bác đi chứ gì. Nước ta còn chưa được độc lập hoàn toàn, nhân dân ta còn khó khăn, Bác đi dép cao su nhưng bên trong lại có đôi tất mới thế là đủ lắm mà vẫn lịch sự”. Bác ôn tồn nói tiếp. Vậy là các anh chiến sĩ phải trả lại dép để Bác đi vì dưới đất chủ nhà đang nóng lòng chờ đợi..
Trong suốt thời gian Bác ở Ấn Độ, nhiều chính khách, nhà báo, nhà quay phim… rất quan tâm đến đôi dép của Bác. Họ cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc độ, ghi ghi chép chép… làm tổ cảnh vệ lại phải một phen xem chừng và bảo vệ “đôi hài thần kỳ” ấy.
Bàn: Bác đi Ấn Độ năm 1958, đôi dép đã được dùng 11 năm, đã được đóng nhiều đinh để giữ quai bị tuột và đế dép đã mòn vẹt làm từ vỏ bánh xe, trông kệch cợm thì có miếng vá. Các quan khách, nhà báo đến bấm máy, quay phim vì thấy chuyện lạ đời, vật kỳ quặc, làm phóng sự, đưa tin chứ không phải để giới thiệu, phổ biến. Một đôi dép lốp mà phải lập một tổ chiến sĩ cảnh vệ để canh phòng ư?
Những năm 1947- 1948 Bác Hồ phải rút lui về Việt Bắc, Quân Pháp truy lùng gắt gao, đôi dép lốp bám sát gót Bác thoát hiểm, sau đó đeo chân Bác suốt đời, giúp Bác làm nên sự nghiệp, rạng danh năm châu. Khác gì những chiến mã xưa xông pha theo phò chúa, lưu danh?
Lê Bá Vận.

















