Truyện Ngắn & Phóng Sự
Kẻ Vô Ơn *
1.
Nghe tôi nói đến “Hiếu Nhà Băng”, ông Thạc lộ vẻ ngạc nhiên:
– “Hiếu nhà băng” ở Zurich? Ông cũng quen hắn à?
– Quen. Nhưng chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy?
– Biết chứ. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy hắn có cái biệt danh khác – “Hiếu tồ”.
– Trái đất tròn thật. Tôi gặp ông Hiếu
trong chuyến du lịch trên sông Nil, lâu rồi, dễ cũng đến ba hoặc bốn
năm. Quen nhau kiểu ấy thì chỉ loáng thoáng thế thôi, mãi đến năm ngoái
gặp lại nhau ở Genève hai đứa mới có dịp tâm sự. Ông này tính tình cởi
mở, dễ chịu lắm, tuy có hơi tồ tồ một chút thật, ông gọi là Hiếu tồ cũng
không ngoa. Nghe ông nói mới biết, chứ tôi cứ tưởng ông ta là dân Bắc
kỳ di cư rồi vọt qua đây sau tháng tư 75. Cái vụ thuyền nhân bi thảm là
thế, thế giới chửi cho mất mả, vậy mà cũng có cái mặt hay của nó – người
mình giờ ở đâu cũng có, dễ chỉ thua dân Trung Quốc. Người ta bảo ở đâu
có gián ở đấy có người Trung Quốc.
– “Hiếu tồ” đi sang bên này khoảng 78 hay 79 chi đó.
– Thuyền nhân?
Ông gật đầu.
– Tức là có đi kháng chiến một đoạn, rồi dinh tê?
– Đại khái thế. Nghe nói bây giờ hắn giàu. Không phải giàu thường thường, mà giàu lắm.
Ông Thạc liếm đôi môi khô. Trong giọng nói của ông có một chút khó chịu, hoặc một chút ghen tị, hoặc cả hai.
– Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình,
vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi thấy cần nói nhận xét của mình,
tôi không thích cái sự khó chịu vì người khác giàu ở ông Thạc – Ăn vận
xuyền xoàng, xe không sang – một cái BMW không còn mới. Đại khái thì
cũng như mọi người khác, người bình thường, không vênh, cũng không hãnh.
Nghe ông ấy kể thì đúng là trước khi về hưu ông ấy có làm việc ở một
ngân hàng lớn. Phó giám đốc hay là chuyên viên gì đấy.
– Giám đốc đấy, ông ạ. Làm đến chức ấy thằng chó nào mà không giàu cơ chứ?
Ông Thạc đổi giọng ngậm ngùi:
– Ngẫm ra cái số con người ta thật lạ, lên
voi xuống chó khôn lường, có giời biết trước. Tôi biết Hiếu lắm. Trước
đây, hắn công tác cùng chỗ với tôi.
Đến lượt tôi ngạc nhiên:
– Tức là ông Hiếu còn ở bộ đội nữa?
– Chứ sao. Cấp dưới của tôi. Nhưng hồi ông đến công tác ở chỗ tôi thì hắn không còn đấy nữa. Đào ngũ rồi.
– Năm nào?
– Đầu năm 54.
– Chiến thắng đến nơi mà còn chuồn, rõ
hoài, có phải không ông? Ông Hiếu có không muốn nhắc đến giai đoạn ấy
cũng là phải thôi, chẳng vinh quang gì.
Tôi với ông Thạc quen nhau hồi ông còn làm
trưởng phòng chính trị quân khu 3, tôi từ Việt Bắc về làm công tác tổng
kết quân sự. Rồi tiếp quản thủ đô, mấy đợt rèn cán chỉnh quân, chúng tôi
gặp nhau luôn. Ông về hưu với quân hàm đại tá. Người khác ở tuổi ông,
có thâm niên quân đội như ông, thì đã lên tướng từ lâu.
Chuyện dân “tạch tạch xè”, đi kháng chiến
bị phân biệt đối xử là chuyện thường tình, chẳng làm ai ngạc nhiên. Quen
nhau lâu thế nhưng tình bạn giữa chúng tôi không thể gọi là thân thiết,
có lẽ tại tính tình không hợp, hoặc tại cái gì đó không giải thích
được, nhưng biết nhau hơn nửa thế kỷ mà vẫn giữ được quan hệ quen biết
nhau thì cũng coi như có sự gần gụi.
Ông sang Đức ở với con gái, không hiểu nhờ
ai mà biết địa chỉ của tôi, ông có biên thư hỏi thăm, thành thử có việc
qua vùng ông ở, tôi rẽ vào thăm. Ông mừng lắm, ôm chặt, vỗ lưng tôi đồm
độp, mắt nhòa đi. Ông đang trong cơn cô đơn, tôi đoán. Tâm trạng này,với
từng cơn ác tính, có ở bất cứ người lớn tuổi nào trong cuộc sống xa
quê. Hỏi thì ông bảo cuộc sống của ông tạm ổn, không có gì đáng phàn
nàn.
Anh con rể người Đức là chuyên viên của
hảng Siemens nổi tiếng, lương cao; cô vợ trông nom một cửa hàng hoa
tươi, nhiều khách quen, có bề phát đạt. Ngoài ngôi nhà ở khang trang ở
trung tâm Stuttgart, hai vợ chồng còn tậu được một nhà vườn. Ở nước Đức
như thế là thuộc loại trung bình khá.
Khi mới sang, ông bố vợ ở chung với các
con, ít lâu sau ông dọn ra ở nhà vườn. Ông bảo ở đây cũng đủ mọi tiện
nghi, lại được ở một mình, dễ chịu hơn, chưa kể sáng sáng còn có việc
làm – với cái cuốc, cái kéo tỉa cây, bình tưới, ông chăm sóc mấy giàn
hoa leo, mấy luống rau thơm, ăn không ngồi rồi buồn chết đươc. Thỉnh
thoảng, cuối tuần, hai vợ chồng dẫn mấy đứa cháu ngoại ra thăm ông.
Ông không biết một tiếng Đức nào, với ai
ông cũng chỉ gật đầu mỉm cười thay lời chào. Anh con rể gật đầu chào
lại, nhưng không cười. Hai đứa cháu trai nghịch như quỷ sứ, vừa ra đến
nhà vườn là chúi ngay vào các trò chơi của chúng, la hét om sòm.
– Cái giống Đức tính lạnh, ông ạ, không như
người mình – ông nhận xét. Giao thiệp với dân Đức không dễ, chẳng biết
trong bụng chúng nó nghĩ gì. Thằng rể tôi đươc cái lễ độ, biết kính
trọng bố vợ.
Ông tiếp tôi ở nhà vườn, xăng xái đi nấu
cơm thết bạn. Tôi thấy ông đi đứng còn nhanh nhẹn, lưng không gù, giọng
sang sảng, duy có nước da mai mái, dấu ấn của bệnh sốt rét kinh niên,
làm ông hơi xấu mã. Hàm dưới đưa ra, má hóp lại. Ở tuổi bảy mươi sáu mà
được như thế là tốt rồi. Trong phong thái, ông vẫn còn giữ được chút gì
đó của một thời chinh chiến, khi ông còn là một cán bộ quân sự quen ra
lệnh. Bây giờ không ra lệnh được cho ai thì ông ra lệnh con béc-giê
giống Đức lúc nào cũng quanh quẩn bên chủ. Nó to như con bê, mà hiền
khô. Dưới sự chỉ huy của ông nó biết ăn cơm nguội rưới tí nước thịt, y
như một con vàng hoặc con vện Việt Nam.
Tôi muốn hỏi ông sang Đức sống lẻ loi thế
này làm gì cho khổ, trong khi ở Việt Nam ông có bạn bè, có họ hàng. Tuổi
già sống cô độc ở xứ người có vui gì. Lương hưu cấp tá giờ rất khá, hơn
trước nhiều lắm, thừa đủ cho một cuộc sống không còn nhiều đòi hỏi. Ông
cũng cho biết nhà nước bây giờ chiều cán bộ hưu lắm, nhất là đám có
thâm niên cách mạng cao, không muốn họ gây chuyện nay kiến nghị mai phản
đối, hoặc a dua với bọn hới mưng đòi dân chủ.
– Sang đây ông có gặp lại ông Hiếu không?
– Có. Mà không.
– Là thế nào?
– Tôi có trông thấy hắn ta, nhưng không gọi.
– Sao vậy? – tôi trợn mắt – Ông giận ông
ấy? Giận cái chuyện đào ngũ ấy à? Vớ vẩn. Chuyện từ đời tám hoánh mà đến
giờ còn để bụng thì ông quẫn rồi đấy. Bọn mình, thằng chó nào cũng vậy,
gần đất xa trời cả rồi, mọi chuyện xửa xưa ông nghe tôi, cứ quăng tuốt
đi, cho nó nhẹ. Ông âm lịch quá.
Ông Thạc nhún vai, môi dưới trề ra. Im lặng một lúc, ông thủng thẳng:
– Không phải tôi giận hắn cái chuyện ấy
đâu, chuyện ấy tôi không tính, bộ đội hồi ấy đào ngũ nhiều, chẳng phải
mình hắn … Hồi Cải cách ruộng đất bọn con cái địa chủ, phú nông, không
trước thì sau, theo nhau chuồn bằng sạch. Không như chúng ta, đã đi với
cách mạng là ta đi đến cùng. Chúng nó không thể kiên trì lập trường cách
mạng là do bản chất giai cấp của chúng nó khác ta …
Tôi che miệng ngáp. Giời ạ, lại cái bài ca
lập trường giai cấp cũ rích tưởng chừng không còn có thể nghe thấy ở bất
cứ đâu, đùng một cái lại gặp nó giữa lòng nước Đức. Chán ơi là chán.
Thậm chí tôi còn không còn thấy ngạc nhiên nữa.
Từ lâu rồi, chính cái ông bạn tôi này từng
than thở với tôi rằng chúng tôi, có nghĩa là ông, và cả thế hệ ông nữa,
bây giờ là cái vỏ chanh vắt kiệt bị quẳng vào thùng rác lịch sử, rằng
cuộc cách mạng đầy lãng mạn là lẽ sống một thời trai trẻ của lớp người
như ông đã biến mất, thay vào đó là một xã hội của những kẻ đi sau về
trước, trong cái xã hội đó những người như ông chẳng là cái gì hết. Biết
thì ông biết đấy, không phải ông ngu, ông không biết, nhưng trong tâm
tư ông, trong cái vô thức vô duyên của ông, lại có cái gì đó chống lại
cái biết của ông, khốn nạn vậy.
Những người như ông không ít. Trong họ cái
quá khứ hào hùng nặng như cối đá, bất chấp sự biết ấy, sự ngộ nhận ấy,
vẫn cứ tiếp tục tồn tại, nó sống không cần anh có biết đến nó hay không,
nó hiện hữu thường trực như một bản năng được cấy ghép, âm thầm hiện
hữu, thậm chí ta không nhận thấy nó, nhưng thỉnh thoảng nó lại trỗi dậy,
thỉnh thoảng lại hung hăng lên tiếng. Trong cái xã hội do chính họ tạo
ra, nhưng lại hình thành ngoài ý muốn của họ, theo một cách khác hẳn, họ
chẳng còn gì để tự hào, họ thấy mình là đồ bỏ trong lòng xã hội ấy, thế
là họ đành nhẫn nhục sống với những kỷ niệm, với những giáo điều đã
chết và những hào quang không còn lấp lánh.
– Vậy thì vì cớ gì ông giận?
– Hắn là thằng vô ơn, ông ạ – ông thở dài.
Tôi giận là giận cái sự vô ơn ấy. Hắn chịu ơn tôi, nhưng khi gặp tôi,
hắn lờ. Tôi chỉ cần được nhìn thấy hắn mừng rỡ khi gặp lại tôi thôi, thế
là đủ, thế là được, khốn nạn, nào tôi có mong gì hơn, nhưng không, khi
gặp tôi, hắn lờ tịt.
2.
Ông Hiếu cười buồn khi nghe tôi kể chuyện tôi gặp ông Thạc.
– Tôi nhớ ông ấy chứ, quên sao được. Trí
nhớ tôi không đến nỗi tồi. Tôi có nhìn thấy ông ấy thật. Và tôi đã không
gọi, đúng thế. Chuyện ông ấy kể cho ông nghe không sai, ông ấy không
bịa, đúng là ông ấy có làm ơn cho tôi thật. Nhưng là một thứ ơn mà người
mang ơn không muốn nhớ đến …
Chúng tôi ở trong một biệt thự nhỏ và xinh
xắn bên bờ hồ Bodensee, còn có tên là hồ Konstanz, chung biên giới với
ba nước Đức, Áo, Thụy Sĩ. Hồ này rộng mênh mông, nó đứng thứ hai tính về
diện tích các hồ thuộc vùng núi Alpes. Giá đất ở những nơi có địa thế
đẹp ở ven hồ Konstanz đắt khủng khiếp, có thể so với giá đất ở Hà Nội. Ở
những địa điểm có thể xây khách sạn, nhà nghỉ phải có nhiều tiền lắm
lắm mới xây được một biệt thự riêng.
Tôi hiểu như thế nên rất ngạc nhiên thấy
bên trong ngôi biệt thự chắc chắn là đắt tiền của ông Hiếu chẳng có gì
sang trọng. Giữa phòng khách chình ình một cái chõng tre y như trong một
quán nước ở đồng bằng sông Hồng; trên đó lỏng chỏng một cái ấm giỏ và
mấy cái bát sành. Ghế ngồi là những thân gỗ mộc xù xì, nhưng có đệm dành
cho khách không quen ngồi ghế gỗ. Tôi đã gặp cách bài trí theo lối cổ ở
nhiều nhà người Việt ly hương, với những hoành phi, câu đối sơn son
thếp vàng, những sập gụ, tủ chè, tràng kỷ, cái nào cái nấy thuần bằng gỗ
quý đặt trong nước làm … Cũng là nỗi nhớ quê hương, nhưng khác với nỗi
nhớ của ông Hiếu, nó là nỗi nhớ trưởng giả hoặc mang hơi trưởng giả.
– Tại sao?
Ông Hiếu bắt đầu câu chuyện gợi trí tò mò
của tôi vào một đêm khuya, cả hai đều khó ngủ. Chúng tôi ngồi bên nhau,
an nhàn tựa lưng trên ghế dài đặt sát mép nước hồ. Ban đêm mặt hồ phẳng
lặng như một tấm gương vô cùng lớn màu đen, với những đốm lửa nhấp nháy ở
chân trời, rất xa, nơi có quần thể đông đúc khách sạn và nhà hàng.
– Ông Thạc chưa kể cho ông nghe?
– Chưa. Ông kể đi.
Ông Hiếu im lặng một lúc lâu. Hình như ông
do dự, ông không muốn kể, có thể là ông không muốn gợi lại một quá khứ
muốn quên. Ông chỉ kể khi tôi phải thúc giục vài lần nữa. Sau đây là câu
chuyện tôi được nghe trong đêm ấy.
“Ông Thạc lúc bấy giờ đã là bí thư chi
bộ, tôi là quần chúng. Chúng tôi đều là học sinh xuất thân, lý lịch của
chúng tôi đơn giản, chúng tôi vào bộ đội như là lẽ đương nhiên – thanh
niên thời chiến thì phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc.
Tôi với ông Thạc vừa là bạn, vừa có quan hệ
cấp trên cấp dưới. Cái sự tôi ở trong diện cảm tình đảng, đang thời kỳ
thẩm tra lý lịch để kết nạp cũng là do ông Thạc quan tâm nâng đỡ. Chứ
tôi, nói thật với ông, chẳng thuộc diện được đảng chú ý, tôi thì cũng
chẳng mặn mà gì cái sự vào đảng.
– Vào thời ấy mà không biết quý cái sự vào đảng thì, nói thế nào cho đúng nhỉ, – tôi nói – hoặc ông rất cấp tiến, hoặc ông hâm.
– Tôi không cấp tiến, cũng chẳng hâm – tôi
lười, ông ạ – ông Hiếu cười khe khẽ. Người ta phấn đấu để được vào đảng,
để được đề bạt, để được oai với người khác, tôi thì không. Còn chiến
tranh thì mình làm lính, hết chiến tranh thì thôi, chẳng lẽ ở bộ đội cho
đến hết đời à? Trong đảng họ nghĩ gì về tôi, tôi không biết. Mà họ nghĩ
gì mới được chứ? Họ coi tôi bình thường, như mọi người lính không có gì
đặc biệt. Tôi ở đơn vị chiến đấu suốt từ những ngày đầu kháng chiến cho
tới khi quân khu lấy về làm ở phòng chính trị, dưới quyền ông Thạc. Tôi
không thích làm lính ống quyển , nhưng quân lệnh như sơn, cứ là phải
chấp hành.
– Ông có phạm kỷ luật gì trong thời gian ấy không?
– Không.
– Ông Thạc nói ông mang ơn ông ấy là ơn thế nào? – tôi rụt rè hỏi.
Ông Hiếu im lặng.
– Tôi đoán … ông phạm kỷ luật gì đó và ông ấy đã gỡ tội cho ông?
– Cái ơn còn lớn hơn. Tôi sẽ kể ông nghe.
Ông không kể ngay. Ông nhìn ra hồ. Khi có gió, mặt nước cũng lăn tăn một chút làm xao động những đốm lửa xa.
Tôi im lặng chờ. Cuối cùng rồi ông Hiếu cũng bắt đầu câu chuyện gợi trí tò mò của tôi:
3.
“Một hôm, ông Thạc gọi tôi ra chỗ vắng. Ông thì thào:
– Lâu nay cậu có tin tức gia đình không?
– Không. Cũng đến cả năm rồi không thấy thư
từ gì hết. Chắc cũng chẳng có chuyện gì đâu, vùng tôi ít bị máy bay bắn
phá – tôi nói. Ông cụ tớ cũng bận. Làm chủ tịch xã, lại còn kiêm nhiều
việc trên huyện nữa. Tớ tính sau đợt chỉnh quân tới sẽ xin đi phép về
thăm các cụ.
Ông Thạc có vẻ lúng túng. Có vẻ ông ấy phải chọn lời:
– Tớ nói chuyện này, nhưng cậu phải tuyệt đối bí mật nhá.
– Cậu biết tính tớ rồi, tớ không phải đứa bép xép.
Ông chớp chớp mắt rồi ghé sát vào tai tôi, giọng trầm trọng:
– Ông cụ bà cụ cậu bị lên địa chủ phản động rồi …
Tôi chết điếng.
Tôi không tin ở tai mình. Lúc bấy giờ ở
vùng chúng tôi đóng quân đã qua bước giảm tô giảm tức, đang đi vào cải
cách ruộng đất, nhưng đơn vị chúng tôi chỉ học tập chủ trương chính sách
để ủng hộ chứ không trực tiếp tham gia công tác cùng các đội các đoàn.
Trong học tập tôi được biết cải cách ruộng đất do đảng lãnh đạo là một
cuộc cách mạng long trời lở đất, là sự đổi đời ở nông thôn, giai cấp
nông dân vùng lên đánh đổ bọn cường hào gian ác. Thế nhưng, tôi cũng như
nhiều đồng đội của tôi, cứ nghĩ rằng ở đây, hoặc ở đẩu ở đâu kia, mới
có những tên địa chủ tàn bạo, ác độc, chứ những quân quỷ sứ ấy không thể
có ở quê mình, đừng nói gì ngay trong nhà mình.
– Nghe đâu lại còn Việt Quốc hay Việt Cách gì đó nữa …
Tôi không còn nghe thấy gì nữa. Tôi gục xuống.
– Chắc cậu cũng chẳng biết hết những việc
làm của ông cụ đâu … – tiếng ông Thạc văng vẳng bên tai tôi – nhưng
chẳng có gì giấu được quần chúng được phát động …
– Làm gì có chuyện ấy được – tôi đứng phắt
dậy, tôi kêu lên, rền rĩ. Ông cụ bà cụ tớ hiền như đất ấy mà, nào có
biết đảng phái là cái gì.
– Địa phương gửi công văn đến, hỏi về cậu đấy.
– Hỏi về tớ?
– Phải. Tớ đã viết công văn trả lời sau khi hội ý toàn chi bộ, bảo đảm cậu là cán bộ tốt.
– Chuyến ấy xảy ra khi nào?
Ông Thạc thở dài:
– Ba tuần rồi.
Tôi nhớ lại: có một cái gì đó không bình
thường trong ánh mắt của các đảng viên khi gặp tôi. Dường như họ tránh
nhìn tôi. Trong sinh hoạt cơ quan, mọi chuyện chỉ có đảng viên được
biết, quần chúng chỉ có thể đoán rằng có chuyện gì đó, xấu hoặc tốt, căn
cứ thái độ của họ.
– Sao cậu không cho tôi biết?
– Nói sao được?! Nguyên tắc.
– Bây giờ cậu bảo tớ phải làm gì?
Ông Thạc suy nghĩ lung.
– Bây giờ cậu về nhà đi – ông nói. Đừng nói
với ai cậu đi đâu, chuyện đó mặc tớ lo. Đây là công lệnh, bản sao công
văn đơn vị gửi chi bộ địa phương, cứ cầm theo, phòng xa, có khi hữu
dụng. Về đến nhà rồi, gặp được ông cụ bà cụ rồi thì trở lại ngay đơn vị.
Đấy là tất cả những gì tớ có thể làm cho cậu.
Tôi nói:
– Ông Thạc đối với ông thật là tốt.
– Tôi không nói ông ấy xấu. – ông Hiếu đáp – Ông nghe nốt câu chuyện đã.
Tôi lập tức lên đường. Đi suốt đêm. Suốt
ngày hôm sau. Vừa đặt chân vào nhà, tôi bị bắt ngay. Đám du kích ập
đến, trói gô tôi lại. Chúng quát tháo, chúng chửi mắng, không cho tôi
kịp mở miệng. Mà chúng nó là ai chứ? Toàn người quen kẻ thuộc cả, ông ạ,
không hàng xóm láng giềng thì cũng người cùng thôn, cùng xã. Nghe chúng
nói với nhau tôi mới biết mẹ tôi không chịu được hành hạ đã thắt cổ tự
vẫn tuần trước, còn cha tôi sẽ bị bắn vào sáng hôm sau. Tôi lặng đi. Tôi
không khóc được. Nước mắt chưa chảy đã cạn. Mẹ tôi là một nửa cuộc sống
của tôi. Ngay cả khi sống xa nhà tôi vẫn cảm thấy mẹ ở bên tôi. Cha tôi
khác, tôi yêu cha, kính trọng cha, nhưng không gần gụi cha như gần gụi
mẹ.
Tôi không tưởng tượng được cái tai họa
giáng xuống gia đình tôi lại lớn đến như thế, lại kinh khủng đến như
thế. Đau đớn nhất là cái sự tôi là bộ đội chẳng giúp được gì cho các cụ.
Không mảy may. Ngày nay ai cũng biết rõ rằng những khẩu hiệu “Người cày
có ruộng,” “Đánh đổ bọn cường hào ác bá, nông dân giành lấy chính
quyền,” “Nông dân là quân chủ lực của cách mạng” … chỉ là những lời lừa
mị. Nhưng lúc ấy khác, lúc ấy chúng có một tác dụng ghê gớm.
Nông dân ào ào đi theo đội cải cách, hô
những khẩu hiệu đùng đoàng ấy đến khản tiếng, đến rạc người. Có thể họ
chân thành tin ở cuộc đổi đời mà đảng hứa hẹn, rồi đây họ sẽ trở thành
những ông chủ bà chủ ở trong làng, họ sẽ có những gì mà những người sang
trọng có, có thể là như thế. Điều tôi biết chắc là những con người khốn
khổ hi vọng ở số quả thực sẽ được chia ngay lập tức sau khi bọn nhà
giàu trở thành kẻ có tội với cách mạng – một thúng thóc, cái mâm đồng,
cái phản gỗ, có khi là cả cái sập gụ cũng nên …
Sáng hôm sau, tôi bị điệu ra trường đấu.
Dân chúng cả mấy xã tề tựu ở sân trường học của xã. Tôi đã nghe tiếng
loa thúc giục mọi người đi dự cuộc đấu “tên phản động đầu sỏ, tên cường
hào gian ác, tên địa chủ có nợ máu với nhân dân” từ khi còn tối đất.
Trường học này đầy ắp những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi và của những
người bạn học mặt sát khí đằng đằng lăm lăm súng trường mã tấu đứng ở
vòng ngoài.
Tôi nhìn thấy cha tôi, bị trói giật cánh
khuỷu, bị lôi đi xềnh xệch, bước chân lảo đảo, giữa một đám đông xỉa
xói, gào thét, những bộ mặt biến dạng với những đôi mắt đỏ ngầu, những
cái miệng há to, nhớt dãi chảy xuống ngực áo, giữa rừng cánh tay vung
lên hạ xuống theo những khẩu hiệu đòi trả nợ máu …
– Kinh khủng! Hồi ấy tôi đang theo học ở Liên Xô nên không được chứng kiến những gì xảy ra, chỉ được nghe kể lại, sau này …
– May cho ông, ông là người gốc thành phố,
chứ dân nông thôn chúng tôi hồi ấy, chỉ cần hơi có máu mặt một tí là
toi. Chẳng riêng gia đình tôi, người cùng cảnh ngộ với chúng tôi nhiều
vô số kể … Tôi nói hơi có máu mặt, tức là những người có của ăn của để,
chứ không nói những người có dư chút ít ruộng đất. Ở nông thôn miền Bắc
nước ta, ông biết đấy, đâu có nhiều địa chủ lớn. Gọi là địa chủ, chứ đó
chỉ là nông dân khá giả, do chăm chỉ làm ăn hoặc khéo sắp xếp thu vén mà
hơn người. Hơn cũng chẳng nhiều, bất quá vài ba mẫu là cùng, mà lại là
mẫu ta.
Ông Hiếu thở dài.
– Có cần kể cho ông nghe chi tiết cuộc đấu không?
Ông Hiếu đặt câu hỏi, rồi im lặng hồi lâu,
như thể ông đang nhớ lại cảnh tượng hãi hùng mà ông không phải chỉ là
người chứng kiến. Ông là người trong cuộc, người chịu đựng.
– Đại khái là có một cuộc đấu kéo dài, một
cuộc xử án chớp nhoáng. Tất cả diễn ra trong những tiếng hô khẩu hiệu
không ngớt. Rồi cha tôi bị điệu ra trước bức tường xa nhất của trường
học, nơi vẫn còn cái khẩu hiệu do chính tay tôi viết năm 1945: “Hồ Chí
Minh muôn năm! Việt Minh vạn tuế!” Cha tôi bị bắn ở đó. Trước khi bị
bắn, cụ chằm chằm nhìn tôi, nước mắt đầm đìa. Có vẻ cha tôi muốn nói
điều gì đó với tôi nhưng không thể nói được – trong miệng cụ là một búi
giẻ bẩn thỉu, từ đó nhểu xuống đất những giọt dãi …
– Cụ “đi” có nhanh không?
– Không – ông lắc đầu – Lúc đấu thì hùng hổ
lắm, nhưng đến lúc phải cầm súng bắn người thì hình như không ai muốn,
hoặc người nào cũng không muốn mình là người bắn viên đạn giết chết một
mạng người, thành thử những người du kích được phân công hành quyết đều
bắn trượt trong loạt đạn đầu tiên. Những “ông đội” “bà đội” phải hò hét,
quát tháo liên hồi, giật lấy súng chỉ cách cho họ bắn họ mới bắn được.
Có vài viên trúng, máu loang trên ngực cha tôi, nhưng cụ vẫn chưa nhận
được viên đạn kết liễu. Một “ông đội” mắt long sòng sọc chạy xổ đến bên
cọc, rút súng lục, bắn thêm một phát vào thái dương cụ mới “đi”. Tôi
nhắm mắt lại, không muốn hình dung cảnh tượng gớm ghiếc đó.
4.
Chúng tôi ngồi bên nhau, im lặng rất lâu.
– Về sau này, khi nhớ lại những phút hãi
hùng đó tôi mới hiểu ra vì sao trước khi đưa những người gọi là địa chủ
phản động ra đấu chính thức, người ta bắt nông dân phải đấu lưng trước
đã …
– Đấu lưng?
– Vâng, đấu lưng. Tức là người bị đấu phải
quỳ, nhưng không được quay mặt lại đám đông đấu mình, còn những khổ chủ,
những người được “đội” bồi dưỡng để đấu thì xỉa xói vào lưng người bị
đấu mà kể khổ, kể tội … Chẳng qua nếu những người nông dân hiền lành
thật thà mà nhìn vào mặt người hôm qua còn là họ hàng, làng xóm, tối lửa
tắt đèn có nhau thì họ không nỡ lòng nào bịa đặt ra những tội lỗi không
có, không thốt nổi thành lời những điều vu oan giá họa bất nhân, bạc ác
như đội dạy được. Con người không phải dễ dàng trở thành quỷ. Phải dạy
dỗ, phải huấn luyện, ông ạ. Và không phải bao giờ người ta cũng thành
công. Có nhiều người thà chết chứ không chịu trở thành quỷ.
– Tôi tin có những người như thế.
– Điều đáng buồn là một khi đã thành quỷ
rồi thì khó trở lại làm người lắm. Tôi có chú em họ, hồi cải cách ruộng
đất còn nhỏ đã đi theo đội học đòi đấu tố, lớn lên thì vào đảng, rồi làm
quan, ăn bẩn, cho đến khi về hưu không bị sứt mẻ gì, gọi là hạ cánh an
toàn. Giàu có lắm, nhưng bị người trong họ ngoài làng xa lánh. Cũng có
người cực chẳng đã phải nhờ vả chú ấy việc này việc khác, nhưng trong
thâm tâm họ đều khinh bỉ. Chú ấy phân trần với tôi: “Thời thế nó thế thì
phải thế, ai cũng phải làm phải ăn, em cũng không thể khác, người ta
không hiểu em, chứ em có lòng dạ nào làm hại bà con.” “Nhưng họ khinh
chú là phải chứ?” tôi hỏi. “Thì họ có cách nào khác, yêu em à?”, chú ấy
bùi ngùi.
– Sau vụ ấy ông trốn vào thành?
Ông Hiếu tránh nhìn tôi.
– Vâng – ông nói khẽ. Tôi còn biết đi đâu?
– Tôi hiểu. Lúc ấy trong lòng tôi đầy mâu
thuẫn thì dúng hơn. Tôi không muốn rời bỏ hàng ngũ kháng chiến. Nhưng
tôi cũng không thể ở lại. Quên, chưa nói để ông biết, ông Thạc nhìn xa
đã cấp cho tôi đủ giấy tờ cần thiết để tôi không bị lôi vào cuộc đấu tố
cùng với gia đình. Đội cải cách đã tha cho tôi trở lại đơn vị.
– Nhiều người ở trong hoàn cảnh ông đã không “dinh tê.”
– Vâng, có người rồi còn trở thành cán bộ
cấp cao nữa, tôi biết. Họ phải trả giá đắt cho sự thăng tiến ấy, bằng sự
dối trá thường xuyên, bằng sự hàng phục tuyệt đối. Tôi không có đủ dũng
khí, và lòng kiên trì nữa, để làm được như họ. Khi đã ở trong thành
rồi, có nhiều lúc tôi lại muốn trở ra vùng kháng chiến. Có một sự giằng
xé như thế đấy.
Sương xuống làm tôi rùng mình. Cả một vùng hồ Bodenzee lặng lẽ như không lúc nào nó lặng lẽ như thế.
– Ông có gia nhập quân đội Pháp không? Tôi muốn nói ông rồi có bị bắt lính và phải chiến đấu ở phía bên kia không?
– Không. Tôi trốn lính. Tôi không muốn cầm
súng nữa, dù ở bên này hay ở bên kia. Nhưng cũng phải thú thực với ông:
sau cái chết của cha tôi, cũng có lúc tôi có ý định đi với quân Pháp để
đánh lại những kẻ đã mang lại thảm họa cho gia đình tôi. Tôi cũng căm
thù lắm chứ. Nhưng tôi đã không làm điều đó nhờ một lời khuyên.
Chả là lúc mới về thành tôi ở nhờ trong một
ngôi chùa. Khi biết ý định của tôi, sư cụ bảo: “Con tính sai rồi. Đi
với cái Ác này để diệt cái Ác kia không được đâu. Chỉ có cái Thiện mới
diệt được cái Ác thôi, con ạ.” Tôi nghe lời sư cụ, nhưng tôi không tìm
thấy cái Thiện ở đâu cả.
– Tìm ra cái Thiện đích thực thật là khó.
– Vì không tìm ra nó, tôi chỉ biết làm một
người dân bình thường. Nhưng đến năm 75 thì tôi hiểu – cái Ác đang
thắng, nếu không làm được gì để chống nó thì chỉ còn cách tránh xa nó,
tránh thật xa, xa chừng nào hay chừng ấy, có gọi là chạy trốn nó thì
cũng đúng. Tuy chẳng có gì vinh quang trong sự chạy trốn ấy …
Chúng tôi đi ngủ. Đêm đã quá khuya.
Hôm sau, trong bữa điểm tâm, ông Hiếu đột ngột ra cho tôi một câu hỏi lạ tai:
– Ông có nghĩ rằng cải cách ruộng đất là một sai lầm như người ta thường nói không?
– Một sai lầm chứ. Đó là điều không thể
chối cãi được. Chính đảng cộng sản vốn không bao giờ chịu nhận mình sai,
cũng đã thừa nhận là thế. Người ta đã phải sửa sai ngay sau đó.
– Ông tin người ta có sửa sai?
Tôi có cảm giác ông Hiếu chỉ chờ tôi nói khẳng định để cười vào mũi tôi. Hẳn ông có cách nhìn khác đối với việc ấy. Tôi gật đầu.
– Họ có sửa sai. – tôi nói – Nhưng có sửa
đến nơi đến chốn hay không lại là chuyện khác. Và còn phải sửa dài dài,
bởi vì trang sử cải cách ruộng đất cho đến nay vẫn chưa khép lại được.
Nghe nói mới đây thành phố Hà Nội vừa quyết định đền bù cho những gia
đình có người bị giết trong cải cách ruộng đất.
– Đền bù thế nào?
– Một hay hai triệu đồng gì đó cho mỗi người bị chết oan.
Ông Hiếu cười khe khẻ:
– Tức là khoảng trên dưới một trăm đô la, theo tỷ hối hiện tại.
– Khoảng ấy.
Ông Hiếu trầm ngâm nhìn vào ly cà phê.
– Tôi thì không nghĩ đó là một sai lầm. Nói
cho đúng, bây giờ tôi mới nghĩ được như thế. Trước kia thì không. Trước
kia tôi không nghĩ ra. Một sai lầm có tính toán trước rằng kết quả nó
sẽ là như thế nào, không thể gọi là một sai lầm – ông Hiếu thở dài.
Người ta chỉ buộc lòng gọi nó là sai lầm khi mưu toan của họ bị bóc
trần.
– Cái gì làm cho ông nghĩ như thế?
– Ông nhớ lại xem. Ông sẽ thấy điều này: ở
bất cứ quốc gia nào, để tiến hành cải cách ruộng đất người ta phải điều
tra tình hình ruộng đất trước đã. Nhưng ở miền Bắc trước cải cách ruộng
đất, ông thấy không, đã không có một cuộc điều tra nào hết.
Tôi giật mình. Ý nghĩ ấy chưa từng đến với tôi.
– Ông có lý – tôi thừa nhận. Tôi hồi ấy ở
một trong những cơ quan trung ương. Tôi không được biết có một báo cáo
nào về chuyện ấy.
– Người ta tính những cái mà hồi ấy chúng
ta không nghĩ tới. Người ta muốn thanh toán cho bằng hết những người đã
ủng hộ cuộc kháng chiến trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước hiện đang
giữ những chức vụ trong chính quyền kháng chiến để thay vào đó những
người hoàn toàn mới. Những người mới này sẽ hoàn toàn là người của họ.
Để làm gì? Để những kẻ được chia quả thực cướp được kia, những kẻ bỗng
dưng có được địa vị ăn trên ngồi trốc kia sẽ hết mình với họ … Chỉ có
chúng mới là những kẻ rất mực trung thành với họ.
– Tôi muốn hỏi thêm ông một câu.
– Ông hỏi đi.
– Tôi nghĩ ông Thạc muốn ông được gặp mặt cụ nhà lần cuối là một ý nghĩ tốt. Ông không nghĩ thế?
Ông Hiếu cười khe khẽ. Tiếng cười gằn nghe đầy cay đắng.
– Một ý nghĩ tốt chứ, tôi thừa nhận. Có khi
nó còn tốt hơn cả những gì tôi nghĩ nữa. Ông ấy đã giúp tôi tỉnh ngộ.
Tôi phải chịu ơn ông ấy. Nhưng tôi không cảm được cái ơn ấy trong lòng
tôi. Có lẽ tôi tham lam chăng, khi tôi cho rằng trong những ngày ấy tôi
cần một cái gì hơn thế. Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy đứng về phía tôi,
kẻ chịu đựng một bi kịch không đáng có. Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy
không đứng về phía những tên đao phủ. Cái gì đó ấy sẽ an ủi tôi nhiều
hơn, sẽ cho tôi thêm một chút niềm tin đã mất vào con người …
5.
Ít lâu sau cuộc gặp gỡ với ông Hiếu, tôi
lại gặp ông Thạc. Ông vừa về Việt Nam tham dự cuộc họp mặt truyền thống
của quân khu. Ông vui hẳn lên, khác với lần chúng tôi gặp nhau ở
Stutgart. Ông kể chuyện những đổi thay ở đất nước, chuyện Hà Nội khác
trước đến không nhận ra, chuyện ông vừa được nhận thêm một huân chương
vì những công trạng trong quá khứ …
– Ông đã gặp “Hiếu Nhà Băng” rồi hả? Hắn nói sao?
Tôi lúng túng:
– Ông ấy vẫn nhớ ông. Nhưng ông ấy không
muốn gặp lại … Vì cuộc gặp lại ấy sẽ làm ông ấy nhớ đến những ngày ông
ấy không muốn nhớ đến nữa.
– Cái thằng … Bây giờ mà không biết quên đi
quá khứ, hướng tới tương lai là ngu, là xuẩn ngốc. Nó y như mấy thằng
đang đòi dân chủ ấy, trong tụi nó có cả những thằng cánh ta ngày trước,
tức là đã từng trong quân ngũ, chúng nó mắt nhắm tịt, ương như cua,
không biết rằng nước ta bây giờ dân chủ lắm rồi, hơn hẳn ngày xưa rồi,
ngày xưa không có nhiều dân chủ là do hoàn cảnh, là chuyện bất khả
kháng, chứ bây giờ khác, bây giờ đảng ta vững mạnh, có lực lượng quân
đội, công an hùng hậu, thì cho hay chưa cho, cho nhiều hay cho ít, là
cái quyền của đảng, đảng không keo xỉn trong chuyện ấy, vấn đề là phải
có tính toán; cho cái gì trước cho cái gì sau, cho bao nhiêu, cho vào
lúc nào …
Tôi nhìn ông. Ông nói say sưa. Ông bốc. Trong ông ấn tượng của chuyến đi đầy tràn.
– Ông Hiếu gửi lời thăm ông. Tôi nói để mà nói.
– Thế hả? Nó chỉ gửi lời thăm thôi? Không nói thêm gì nữa?
– Không.
Ông Thạc sa sầm mặt.
– Cái thằng vô ơn đến thế là cùng. Để lúc
nào tôi kể ông nghe đầu đuôi chuyện tôi đã làm gì cho hắn … Bây giờ
chúng mình kiếm cái gì chén đã. Chắc ông đi đường cũng đói bụng rồi.
Tôi vội vã chìa tay ra:
– Xin lỗi, hôm nay tôi mắc một cái hẹn. Để bữa khác vậy.
Trong lòng bàn tay tôi là một vật mềm, nhũn nhẽo.
– Ờ ờ … Tiếc quá! Có bao chuyện muốn kể ông nghe.
– Tiếc quá!
– Nói tóm lại, thằng Hiếu là một thằng vô ơn, ông nhớ đấy, tôi nói với ông rồi đấy. Ông Thạc nói theo, khi tôi đã ra đến cửa.
Vũ Thư Hiên
Kẻ Vô Ơn *
1.
Nghe tôi nói đến “Hiếu Nhà Băng”, ông Thạc lộ vẻ ngạc nhiên:
– “Hiếu nhà băng” ở Zurich? Ông cũng quen hắn à?
– Quen. Nhưng chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy?
– Biết chứ. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy hắn có cái biệt danh khác – “Hiếu tồ”.
– Trái đất tròn thật. Tôi gặp ông Hiếu
trong chuyến du lịch trên sông Nil, lâu rồi, dễ cũng đến ba hoặc bốn
năm. Quen nhau kiểu ấy thì chỉ loáng thoáng thế thôi, mãi đến năm ngoái
gặp lại nhau ở Genève hai đứa mới có dịp tâm sự. Ông này tính tình cởi
mở, dễ chịu lắm, tuy có hơi tồ tồ một chút thật, ông gọi là Hiếu tồ cũng
không ngoa. Nghe ông nói mới biết, chứ tôi cứ tưởng ông ta là dân Bắc
kỳ di cư rồi vọt qua đây sau tháng tư 75. Cái vụ thuyền nhân bi thảm là
thế, thế giới chửi cho mất mả, vậy mà cũng có cái mặt hay của nó – người
mình giờ ở đâu cũng có, dễ chỉ thua dân Trung Quốc. Người ta bảo ở đâu
có gián ở đấy có người Trung Quốc.
– “Hiếu tồ” đi sang bên này khoảng 78 hay 79 chi đó.
– Thuyền nhân?
Ông gật đầu.
– Tức là có đi kháng chiến một đoạn, rồi dinh tê?
– Đại khái thế. Nghe nói bây giờ hắn giàu. Không phải giàu thường thường, mà giàu lắm.
Ông Thạc liếm đôi môi khô. Trong giọng nói của ông có một chút khó chịu, hoặc một chút ghen tị, hoặc cả hai.
– Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình,
vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi thấy cần nói nhận xét của mình,
tôi không thích cái sự khó chịu vì người khác giàu ở ông Thạc – Ăn vận
xuyền xoàng, xe không sang – một cái BMW không còn mới. Đại khái thì
cũng như mọi người khác, người bình thường, không vênh, cũng không hãnh.
Nghe ông ấy kể thì đúng là trước khi về hưu ông ấy có làm việc ở một
ngân hàng lớn. Phó giám đốc hay là chuyên viên gì đấy.
– Giám đốc đấy, ông ạ. Làm đến chức ấy thằng chó nào mà không giàu cơ chứ?
Ông Thạc đổi giọng ngậm ngùi:
– Ngẫm ra cái số con người ta thật lạ, lên
voi xuống chó khôn lường, có giời biết trước. Tôi biết Hiếu lắm. Trước
đây, hắn công tác cùng chỗ với tôi.
Đến lượt tôi ngạc nhiên:
– Tức là ông Hiếu còn ở bộ đội nữa?
– Chứ sao. Cấp dưới của tôi. Nhưng hồi ông đến công tác ở chỗ tôi thì hắn không còn đấy nữa. Đào ngũ rồi.
– Năm nào?
– Đầu năm 54.
– Chiến thắng đến nơi mà còn chuồn, rõ
hoài, có phải không ông? Ông Hiếu có không muốn nhắc đến giai đoạn ấy
cũng là phải thôi, chẳng vinh quang gì.
Tôi với ông Thạc quen nhau hồi ông còn làm
trưởng phòng chính trị quân khu 3, tôi từ Việt Bắc về làm công tác tổng
kết quân sự. Rồi tiếp quản thủ đô, mấy đợt rèn cán chỉnh quân, chúng tôi
gặp nhau luôn. Ông về hưu với quân hàm đại tá. Người khác ở tuổi ông,
có thâm niên quân đội như ông, thì đã lên tướng từ lâu.
Chuyện dân “tạch tạch xè”, đi kháng chiến
bị phân biệt đối xử là chuyện thường tình, chẳng làm ai ngạc nhiên. Quen
nhau lâu thế nhưng tình bạn giữa chúng tôi không thể gọi là thân thiết,
có lẽ tại tính tình không hợp, hoặc tại cái gì đó không giải thích
được, nhưng biết nhau hơn nửa thế kỷ mà vẫn giữ được quan hệ quen biết
nhau thì cũng coi như có sự gần gụi.
Ông sang Đức ở với con gái, không hiểu nhờ
ai mà biết địa chỉ của tôi, ông có biên thư hỏi thăm, thành thử có việc
qua vùng ông ở, tôi rẽ vào thăm. Ông mừng lắm, ôm chặt, vỗ lưng tôi đồm
độp, mắt nhòa đi. Ông đang trong cơn cô đơn, tôi đoán. Tâm trạng này,với
từng cơn ác tính, có ở bất cứ người lớn tuổi nào trong cuộc sống xa
quê. Hỏi thì ông bảo cuộc sống của ông tạm ổn, không có gì đáng phàn
nàn.
Anh con rể người Đức là chuyên viên của
hảng Siemens nổi tiếng, lương cao; cô vợ trông nom một cửa hàng hoa
tươi, nhiều khách quen, có bề phát đạt. Ngoài ngôi nhà ở khang trang ở
trung tâm Stuttgart, hai vợ chồng còn tậu được một nhà vườn. Ở nước Đức
như thế là thuộc loại trung bình khá.
Khi mới sang, ông bố vợ ở chung với các
con, ít lâu sau ông dọn ra ở nhà vườn. Ông bảo ở đây cũng đủ mọi tiện
nghi, lại được ở một mình, dễ chịu hơn, chưa kể sáng sáng còn có việc
làm – với cái cuốc, cái kéo tỉa cây, bình tưới, ông chăm sóc mấy giàn
hoa leo, mấy luống rau thơm, ăn không ngồi rồi buồn chết đươc. Thỉnh
thoảng, cuối tuần, hai vợ chồng dẫn mấy đứa cháu ngoại ra thăm ông.
Ông không biết một tiếng Đức nào, với ai
ông cũng chỉ gật đầu mỉm cười thay lời chào. Anh con rể gật đầu chào
lại, nhưng không cười. Hai đứa cháu trai nghịch như quỷ sứ, vừa ra đến
nhà vườn là chúi ngay vào các trò chơi của chúng, la hét om sòm.
– Cái giống Đức tính lạnh, ông ạ, không như
người mình – ông nhận xét. Giao thiệp với dân Đức không dễ, chẳng biết
trong bụng chúng nó nghĩ gì. Thằng rể tôi đươc cái lễ độ, biết kính
trọng bố vợ.
Ông tiếp tôi ở nhà vườn, xăng xái đi nấu
cơm thết bạn. Tôi thấy ông đi đứng còn nhanh nhẹn, lưng không gù, giọng
sang sảng, duy có nước da mai mái, dấu ấn của bệnh sốt rét kinh niên,
làm ông hơi xấu mã. Hàm dưới đưa ra, má hóp lại. Ở tuổi bảy mươi sáu mà
được như thế là tốt rồi. Trong phong thái, ông vẫn còn giữ được chút gì
đó của một thời chinh chiến, khi ông còn là một cán bộ quân sự quen ra
lệnh. Bây giờ không ra lệnh được cho ai thì ông ra lệnh con béc-giê
giống Đức lúc nào cũng quanh quẩn bên chủ. Nó to như con bê, mà hiền
khô. Dưới sự chỉ huy của ông nó biết ăn cơm nguội rưới tí nước thịt, y
như một con vàng hoặc con vện Việt Nam.
Tôi muốn hỏi ông sang Đức sống lẻ loi thế
này làm gì cho khổ, trong khi ở Việt Nam ông có bạn bè, có họ hàng. Tuổi
già sống cô độc ở xứ người có vui gì. Lương hưu cấp tá giờ rất khá, hơn
trước nhiều lắm, thừa đủ cho một cuộc sống không còn nhiều đòi hỏi. Ông
cũng cho biết nhà nước bây giờ chiều cán bộ hưu lắm, nhất là đám có
thâm niên cách mạng cao, không muốn họ gây chuyện nay kiến nghị mai phản
đối, hoặc a dua với bọn hới mưng đòi dân chủ.
– Sang đây ông có gặp lại ông Hiếu không?
– Có. Mà không.
– Là thế nào?
– Tôi có trông thấy hắn ta, nhưng không gọi.
– Sao vậy? – tôi trợn mắt – Ông giận ông
ấy? Giận cái chuyện đào ngũ ấy à? Vớ vẩn. Chuyện từ đời tám hoánh mà đến
giờ còn để bụng thì ông quẫn rồi đấy. Bọn mình, thằng chó nào cũng vậy,
gần đất xa trời cả rồi, mọi chuyện xửa xưa ông nghe tôi, cứ quăng tuốt
đi, cho nó nhẹ. Ông âm lịch quá.
Ông Thạc nhún vai, môi dưới trề ra. Im lặng một lúc, ông thủng thẳng:
– Không phải tôi giận hắn cái chuyện ấy
đâu, chuyện ấy tôi không tính, bộ đội hồi ấy đào ngũ nhiều, chẳng phải
mình hắn … Hồi Cải cách ruộng đất bọn con cái địa chủ, phú nông, không
trước thì sau, theo nhau chuồn bằng sạch. Không như chúng ta, đã đi với
cách mạng là ta đi đến cùng. Chúng nó không thể kiên trì lập trường cách
mạng là do bản chất giai cấp của chúng nó khác ta …
Tôi che miệng ngáp. Giời ạ, lại cái bài ca
lập trường giai cấp cũ rích tưởng chừng không còn có thể nghe thấy ở bất
cứ đâu, đùng một cái lại gặp nó giữa lòng nước Đức. Chán ơi là chán.
Thậm chí tôi còn không còn thấy ngạc nhiên nữa.
Từ lâu rồi, chính cái ông bạn tôi này từng
than thở với tôi rằng chúng tôi, có nghĩa là ông, và cả thế hệ ông nữa,
bây giờ là cái vỏ chanh vắt kiệt bị quẳng vào thùng rác lịch sử, rằng
cuộc cách mạng đầy lãng mạn là lẽ sống một thời trai trẻ của lớp người
như ông đã biến mất, thay vào đó là một xã hội của những kẻ đi sau về
trước, trong cái xã hội đó những người như ông chẳng là cái gì hết. Biết
thì ông biết đấy, không phải ông ngu, ông không biết, nhưng trong tâm
tư ông, trong cái vô thức vô duyên của ông, lại có cái gì đó chống lại
cái biết của ông, khốn nạn vậy.
Những người như ông không ít. Trong họ cái
quá khứ hào hùng nặng như cối đá, bất chấp sự biết ấy, sự ngộ nhận ấy,
vẫn cứ tiếp tục tồn tại, nó sống không cần anh có biết đến nó hay không,
nó hiện hữu thường trực như một bản năng được cấy ghép, âm thầm hiện
hữu, thậm chí ta không nhận thấy nó, nhưng thỉnh thoảng nó lại trỗi dậy,
thỉnh thoảng lại hung hăng lên tiếng. Trong cái xã hội do chính họ tạo
ra, nhưng lại hình thành ngoài ý muốn của họ, theo một cách khác hẳn, họ
chẳng còn gì để tự hào, họ thấy mình là đồ bỏ trong lòng xã hội ấy, thế
là họ đành nhẫn nhục sống với những kỷ niệm, với những giáo điều đã
chết và những hào quang không còn lấp lánh.
– Vậy thì vì cớ gì ông giận?
– Hắn là thằng vô ơn, ông ạ – ông thở dài.
Tôi giận là giận cái sự vô ơn ấy. Hắn chịu ơn tôi, nhưng khi gặp tôi,
hắn lờ. Tôi chỉ cần được nhìn thấy hắn mừng rỡ khi gặp lại tôi thôi, thế
là đủ, thế là được, khốn nạn, nào tôi có mong gì hơn, nhưng không, khi
gặp tôi, hắn lờ tịt.
2.
Ông Hiếu cười buồn khi nghe tôi kể chuyện tôi gặp ông Thạc.
– Tôi nhớ ông ấy chứ, quên sao được. Trí
nhớ tôi không đến nỗi tồi. Tôi có nhìn thấy ông ấy thật. Và tôi đã không
gọi, đúng thế. Chuyện ông ấy kể cho ông nghe không sai, ông ấy không
bịa, đúng là ông ấy có làm ơn cho tôi thật. Nhưng là một thứ ơn mà người
mang ơn không muốn nhớ đến …
Chúng tôi ở trong một biệt thự nhỏ và xinh
xắn bên bờ hồ Bodensee, còn có tên là hồ Konstanz, chung biên giới với
ba nước Đức, Áo, Thụy Sĩ. Hồ này rộng mênh mông, nó đứng thứ hai tính về
diện tích các hồ thuộc vùng núi Alpes. Giá đất ở những nơi có địa thế
đẹp ở ven hồ Konstanz đắt khủng khiếp, có thể so với giá đất ở Hà Nội. Ở
những địa điểm có thể xây khách sạn, nhà nghỉ phải có nhiều tiền lắm
lắm mới xây được một biệt thự riêng.
Tôi hiểu như thế nên rất ngạc nhiên thấy
bên trong ngôi biệt thự chắc chắn là đắt tiền của ông Hiếu chẳng có gì
sang trọng. Giữa phòng khách chình ình một cái chõng tre y như trong một
quán nước ở đồng bằng sông Hồng; trên đó lỏng chỏng một cái ấm giỏ và
mấy cái bát sành. Ghế ngồi là những thân gỗ mộc xù xì, nhưng có đệm dành
cho khách không quen ngồi ghế gỗ. Tôi đã gặp cách bài trí theo lối cổ ở
nhiều nhà người Việt ly hương, với những hoành phi, câu đối sơn son
thếp vàng, những sập gụ, tủ chè, tràng kỷ, cái nào cái nấy thuần bằng gỗ
quý đặt trong nước làm … Cũng là nỗi nhớ quê hương, nhưng khác với nỗi
nhớ của ông Hiếu, nó là nỗi nhớ trưởng giả hoặc mang hơi trưởng giả.
– Tại sao?
Ông Hiếu bắt đầu câu chuyện gợi trí tò mò
của tôi vào một đêm khuya, cả hai đều khó ngủ. Chúng tôi ngồi bên nhau,
an nhàn tựa lưng trên ghế dài đặt sát mép nước hồ. Ban đêm mặt hồ phẳng
lặng như một tấm gương vô cùng lớn màu đen, với những đốm lửa nhấp nháy ở
chân trời, rất xa, nơi có quần thể đông đúc khách sạn và nhà hàng.
– Ông Thạc chưa kể cho ông nghe?
– Chưa. Ông kể đi.
Ông Hiếu im lặng một lúc lâu. Hình như ông
do dự, ông không muốn kể, có thể là ông không muốn gợi lại một quá khứ
muốn quên. Ông chỉ kể khi tôi phải thúc giục vài lần nữa. Sau đây là câu
chuyện tôi được nghe trong đêm ấy.
“Ông Thạc lúc bấy giờ đã là bí thư chi
bộ, tôi là quần chúng. Chúng tôi đều là học sinh xuất thân, lý lịch của
chúng tôi đơn giản, chúng tôi vào bộ đội như là lẽ đương nhiên – thanh
niên thời chiến thì phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc.
Tôi với ông Thạc vừa là bạn, vừa có quan hệ
cấp trên cấp dưới. Cái sự tôi ở trong diện cảm tình đảng, đang thời kỳ
thẩm tra lý lịch để kết nạp cũng là do ông Thạc quan tâm nâng đỡ. Chứ
tôi, nói thật với ông, chẳng thuộc diện được đảng chú ý, tôi thì cũng
chẳng mặn mà gì cái sự vào đảng.
– Vào thời ấy mà không biết quý cái sự vào đảng thì, nói thế nào cho đúng nhỉ, – tôi nói – hoặc ông rất cấp tiến, hoặc ông hâm.
– Tôi không cấp tiến, cũng chẳng hâm – tôi
lười, ông ạ – ông Hiếu cười khe khẽ. Người ta phấn đấu để được vào đảng,
để được đề bạt, để được oai với người khác, tôi thì không. Còn chiến
tranh thì mình làm lính, hết chiến tranh thì thôi, chẳng lẽ ở bộ đội cho
đến hết đời à? Trong đảng họ nghĩ gì về tôi, tôi không biết. Mà họ nghĩ
gì mới được chứ? Họ coi tôi bình thường, như mọi người lính không có gì
đặc biệt. Tôi ở đơn vị chiến đấu suốt từ những ngày đầu kháng chiến cho
tới khi quân khu lấy về làm ở phòng chính trị, dưới quyền ông Thạc. Tôi
không thích làm lính ống quyển , nhưng quân lệnh như sơn, cứ là phải
chấp hành.
– Ông có phạm kỷ luật gì trong thời gian ấy không?
– Không.
– Ông Thạc nói ông mang ơn ông ấy là ơn thế nào? – tôi rụt rè hỏi.
Ông Hiếu im lặng.
– Tôi đoán … ông phạm kỷ luật gì đó và ông ấy đã gỡ tội cho ông?
– Cái ơn còn lớn hơn. Tôi sẽ kể ông nghe.
Ông không kể ngay. Ông nhìn ra hồ. Khi có gió, mặt nước cũng lăn tăn một chút làm xao động những đốm lửa xa.
Tôi im lặng chờ. Cuối cùng rồi ông Hiếu cũng bắt đầu câu chuyện gợi trí tò mò của tôi:
3.
“Một hôm, ông Thạc gọi tôi ra chỗ vắng. Ông thì thào:
– Lâu nay cậu có tin tức gia đình không?
– Không. Cũng đến cả năm rồi không thấy thư
từ gì hết. Chắc cũng chẳng có chuyện gì đâu, vùng tôi ít bị máy bay bắn
phá – tôi nói. Ông cụ tớ cũng bận. Làm chủ tịch xã, lại còn kiêm nhiều
việc trên huyện nữa. Tớ tính sau đợt chỉnh quân tới sẽ xin đi phép về
thăm các cụ.
Ông Thạc có vẻ lúng túng. Có vẻ ông ấy phải chọn lời:
– Tớ nói chuyện này, nhưng cậu phải tuyệt đối bí mật nhá.
– Cậu biết tính tớ rồi, tớ không phải đứa bép xép.
Ông chớp chớp mắt rồi ghé sát vào tai tôi, giọng trầm trọng:
– Ông cụ bà cụ cậu bị lên địa chủ phản động rồi …
Tôi chết điếng.
Tôi không tin ở tai mình. Lúc bấy giờ ở
vùng chúng tôi đóng quân đã qua bước giảm tô giảm tức, đang đi vào cải
cách ruộng đất, nhưng đơn vị chúng tôi chỉ học tập chủ trương chính sách
để ủng hộ chứ không trực tiếp tham gia công tác cùng các đội các đoàn.
Trong học tập tôi được biết cải cách ruộng đất do đảng lãnh đạo là một
cuộc cách mạng long trời lở đất, là sự đổi đời ở nông thôn, giai cấp
nông dân vùng lên đánh đổ bọn cường hào gian ác. Thế nhưng, tôi cũng như
nhiều đồng đội của tôi, cứ nghĩ rằng ở đây, hoặc ở đẩu ở đâu kia, mới
có những tên địa chủ tàn bạo, ác độc, chứ những quân quỷ sứ ấy không thể
có ở quê mình, đừng nói gì ngay trong nhà mình.
– Nghe đâu lại còn Việt Quốc hay Việt Cách gì đó nữa …
Tôi không còn nghe thấy gì nữa. Tôi gục xuống.
– Chắc cậu cũng chẳng biết hết những việc
làm của ông cụ đâu … – tiếng ông Thạc văng vẳng bên tai tôi – nhưng
chẳng có gì giấu được quần chúng được phát động …
– Làm gì có chuyện ấy được – tôi đứng phắt
dậy, tôi kêu lên, rền rĩ. Ông cụ bà cụ tớ hiền như đất ấy mà, nào có
biết đảng phái là cái gì.
– Địa phương gửi công văn đến, hỏi về cậu đấy.
– Hỏi về tớ?
– Phải. Tớ đã viết công văn trả lời sau khi hội ý toàn chi bộ, bảo đảm cậu là cán bộ tốt.
– Chuyến ấy xảy ra khi nào?
Ông Thạc thở dài:
– Ba tuần rồi.
Tôi nhớ lại: có một cái gì đó không bình
thường trong ánh mắt của các đảng viên khi gặp tôi. Dường như họ tránh
nhìn tôi. Trong sinh hoạt cơ quan, mọi chuyện chỉ có đảng viên được
biết, quần chúng chỉ có thể đoán rằng có chuyện gì đó, xấu hoặc tốt, căn
cứ thái độ của họ.
– Sao cậu không cho tôi biết?
– Nói sao được?! Nguyên tắc.
– Bây giờ cậu bảo tớ phải làm gì?
Ông Thạc suy nghĩ lung.
– Bây giờ cậu về nhà đi – ông nói. Đừng nói
với ai cậu đi đâu, chuyện đó mặc tớ lo. Đây là công lệnh, bản sao công
văn đơn vị gửi chi bộ địa phương, cứ cầm theo, phòng xa, có khi hữu
dụng. Về đến nhà rồi, gặp được ông cụ bà cụ rồi thì trở lại ngay đơn vị.
Đấy là tất cả những gì tớ có thể làm cho cậu.
Tôi nói:
– Ông Thạc đối với ông thật là tốt.
– Tôi không nói ông ấy xấu. – ông Hiếu đáp – Ông nghe nốt câu chuyện đã.
Tôi lập tức lên đường. Đi suốt đêm. Suốt
ngày hôm sau. Vừa đặt chân vào nhà, tôi bị bắt ngay. Đám du kích ập
đến, trói gô tôi lại. Chúng quát tháo, chúng chửi mắng, không cho tôi
kịp mở miệng. Mà chúng nó là ai chứ? Toàn người quen kẻ thuộc cả, ông ạ,
không hàng xóm láng giềng thì cũng người cùng thôn, cùng xã. Nghe chúng
nói với nhau tôi mới biết mẹ tôi không chịu được hành hạ đã thắt cổ tự
vẫn tuần trước, còn cha tôi sẽ bị bắn vào sáng hôm sau. Tôi lặng đi. Tôi
không khóc được. Nước mắt chưa chảy đã cạn. Mẹ tôi là một nửa cuộc sống
của tôi. Ngay cả khi sống xa nhà tôi vẫn cảm thấy mẹ ở bên tôi. Cha tôi
khác, tôi yêu cha, kính trọng cha, nhưng không gần gụi cha như gần gụi
mẹ.
Tôi không tưởng tượng được cái tai họa
giáng xuống gia đình tôi lại lớn đến như thế, lại kinh khủng đến như
thế. Đau đớn nhất là cái sự tôi là bộ đội chẳng giúp được gì cho các cụ.
Không mảy may. Ngày nay ai cũng biết rõ rằng những khẩu hiệu “Người cày
có ruộng,” “Đánh đổ bọn cường hào ác bá, nông dân giành lấy chính
quyền,” “Nông dân là quân chủ lực của cách mạng” … chỉ là những lời lừa
mị. Nhưng lúc ấy khác, lúc ấy chúng có một tác dụng ghê gớm.
Nông dân ào ào đi theo đội cải cách, hô
những khẩu hiệu đùng đoàng ấy đến khản tiếng, đến rạc người. Có thể họ
chân thành tin ở cuộc đổi đời mà đảng hứa hẹn, rồi đây họ sẽ trở thành
những ông chủ bà chủ ở trong làng, họ sẽ có những gì mà những người sang
trọng có, có thể là như thế. Điều tôi biết chắc là những con người khốn
khổ hi vọng ở số quả thực sẽ được chia ngay lập tức sau khi bọn nhà
giàu trở thành kẻ có tội với cách mạng – một thúng thóc, cái mâm đồng,
cái phản gỗ, có khi là cả cái sập gụ cũng nên …
Sáng hôm sau, tôi bị điệu ra trường đấu.
Dân chúng cả mấy xã tề tựu ở sân trường học của xã. Tôi đã nghe tiếng
loa thúc giục mọi người đi dự cuộc đấu “tên phản động đầu sỏ, tên cường
hào gian ác, tên địa chủ có nợ máu với nhân dân” từ khi còn tối đất.
Trường học này đầy ắp những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi và của những
người bạn học mặt sát khí đằng đằng lăm lăm súng trường mã tấu đứng ở
vòng ngoài.
Tôi nhìn thấy cha tôi, bị trói giật cánh
khuỷu, bị lôi đi xềnh xệch, bước chân lảo đảo, giữa một đám đông xỉa
xói, gào thét, những bộ mặt biến dạng với những đôi mắt đỏ ngầu, những
cái miệng há to, nhớt dãi chảy xuống ngực áo, giữa rừng cánh tay vung
lên hạ xuống theo những khẩu hiệu đòi trả nợ máu …
– Kinh khủng! Hồi ấy tôi đang theo học ở Liên Xô nên không được chứng kiến những gì xảy ra, chỉ được nghe kể lại, sau này …
– May cho ông, ông là người gốc thành phố,
chứ dân nông thôn chúng tôi hồi ấy, chỉ cần hơi có máu mặt một tí là
toi. Chẳng riêng gia đình tôi, người cùng cảnh ngộ với chúng tôi nhiều
vô số kể … Tôi nói hơi có máu mặt, tức là những người có của ăn của để,
chứ không nói những người có dư chút ít ruộng đất. Ở nông thôn miền Bắc
nước ta, ông biết đấy, đâu có nhiều địa chủ lớn. Gọi là địa chủ, chứ đó
chỉ là nông dân khá giả, do chăm chỉ làm ăn hoặc khéo sắp xếp thu vén mà
hơn người. Hơn cũng chẳng nhiều, bất quá vài ba mẫu là cùng, mà lại là
mẫu ta.
Ông Hiếu thở dài.
– Có cần kể cho ông nghe chi tiết cuộc đấu không?
Ông Hiếu đặt câu hỏi, rồi im lặng hồi lâu,
như thể ông đang nhớ lại cảnh tượng hãi hùng mà ông không phải chỉ là
người chứng kiến. Ông là người trong cuộc, người chịu đựng.
– Đại khái là có một cuộc đấu kéo dài, một
cuộc xử án chớp nhoáng. Tất cả diễn ra trong những tiếng hô khẩu hiệu
không ngớt. Rồi cha tôi bị điệu ra trước bức tường xa nhất của trường
học, nơi vẫn còn cái khẩu hiệu do chính tay tôi viết năm 1945: “Hồ Chí
Minh muôn năm! Việt Minh vạn tuế!” Cha tôi bị bắn ở đó. Trước khi bị
bắn, cụ chằm chằm nhìn tôi, nước mắt đầm đìa. Có vẻ cha tôi muốn nói
điều gì đó với tôi nhưng không thể nói được – trong miệng cụ là một búi
giẻ bẩn thỉu, từ đó nhểu xuống đất những giọt dãi …
– Cụ “đi” có nhanh không?
– Không – ông lắc đầu – Lúc đấu thì hùng hổ
lắm, nhưng đến lúc phải cầm súng bắn người thì hình như không ai muốn,
hoặc người nào cũng không muốn mình là người bắn viên đạn giết chết một
mạng người, thành thử những người du kích được phân công hành quyết đều
bắn trượt trong loạt đạn đầu tiên. Những “ông đội” “bà đội” phải hò hét,
quát tháo liên hồi, giật lấy súng chỉ cách cho họ bắn họ mới bắn được.
Có vài viên trúng, máu loang trên ngực cha tôi, nhưng cụ vẫn chưa nhận
được viên đạn kết liễu. Một “ông đội” mắt long sòng sọc chạy xổ đến bên
cọc, rút súng lục, bắn thêm một phát vào thái dương cụ mới “đi”. Tôi
nhắm mắt lại, không muốn hình dung cảnh tượng gớm ghiếc đó.
4.
Chúng tôi ngồi bên nhau, im lặng rất lâu.
– Về sau này, khi nhớ lại những phút hãi
hùng đó tôi mới hiểu ra vì sao trước khi đưa những người gọi là địa chủ
phản động ra đấu chính thức, người ta bắt nông dân phải đấu lưng trước
đã …
– Đấu lưng?
– Vâng, đấu lưng. Tức là người bị đấu phải
quỳ, nhưng không được quay mặt lại đám đông đấu mình, còn những khổ chủ,
những người được “đội” bồi dưỡng để đấu thì xỉa xói vào lưng người bị
đấu mà kể khổ, kể tội … Chẳng qua nếu những người nông dân hiền lành
thật thà mà nhìn vào mặt người hôm qua còn là họ hàng, làng xóm, tối lửa
tắt đèn có nhau thì họ không nỡ lòng nào bịa đặt ra những tội lỗi không
có, không thốt nổi thành lời những điều vu oan giá họa bất nhân, bạc ác
như đội dạy được. Con người không phải dễ dàng trở thành quỷ. Phải dạy
dỗ, phải huấn luyện, ông ạ. Và không phải bao giờ người ta cũng thành
công. Có nhiều người thà chết chứ không chịu trở thành quỷ.
– Tôi tin có những người như thế.
– Điều đáng buồn là một khi đã thành quỷ
rồi thì khó trở lại làm người lắm. Tôi có chú em họ, hồi cải cách ruộng
đất còn nhỏ đã đi theo đội học đòi đấu tố, lớn lên thì vào đảng, rồi làm
quan, ăn bẩn, cho đến khi về hưu không bị sứt mẻ gì, gọi là hạ cánh an
toàn. Giàu có lắm, nhưng bị người trong họ ngoài làng xa lánh. Cũng có
người cực chẳng đã phải nhờ vả chú ấy việc này việc khác, nhưng trong
thâm tâm họ đều khinh bỉ. Chú ấy phân trần với tôi: “Thời thế nó thế thì
phải thế, ai cũng phải làm phải ăn, em cũng không thể khác, người ta
không hiểu em, chứ em có lòng dạ nào làm hại bà con.” “Nhưng họ khinh
chú là phải chứ?” tôi hỏi. “Thì họ có cách nào khác, yêu em à?”, chú ấy
bùi ngùi.
– Sau vụ ấy ông trốn vào thành?
Ông Hiếu tránh nhìn tôi.
– Vâng – ông nói khẽ. Tôi còn biết đi đâu?
– Tôi hiểu. Lúc ấy trong lòng tôi đầy mâu
thuẫn thì dúng hơn. Tôi không muốn rời bỏ hàng ngũ kháng chiến. Nhưng
tôi cũng không thể ở lại. Quên, chưa nói để ông biết, ông Thạc nhìn xa
đã cấp cho tôi đủ giấy tờ cần thiết để tôi không bị lôi vào cuộc đấu tố
cùng với gia đình. Đội cải cách đã tha cho tôi trở lại đơn vị.
– Nhiều người ở trong hoàn cảnh ông đã không “dinh tê.”
– Vâng, có người rồi còn trở thành cán bộ
cấp cao nữa, tôi biết. Họ phải trả giá đắt cho sự thăng tiến ấy, bằng sự
dối trá thường xuyên, bằng sự hàng phục tuyệt đối. Tôi không có đủ dũng
khí, và lòng kiên trì nữa, để làm được như họ. Khi đã ở trong thành
rồi, có nhiều lúc tôi lại muốn trở ra vùng kháng chiến. Có một sự giằng
xé như thế đấy.
Sương xuống làm tôi rùng mình. Cả một vùng hồ Bodenzee lặng lẽ như không lúc nào nó lặng lẽ như thế.
– Ông có gia nhập quân đội Pháp không? Tôi muốn nói ông rồi có bị bắt lính và phải chiến đấu ở phía bên kia không?
– Không. Tôi trốn lính. Tôi không muốn cầm
súng nữa, dù ở bên này hay ở bên kia. Nhưng cũng phải thú thực với ông:
sau cái chết của cha tôi, cũng có lúc tôi có ý định đi với quân Pháp để
đánh lại những kẻ đã mang lại thảm họa cho gia đình tôi. Tôi cũng căm
thù lắm chứ. Nhưng tôi đã không làm điều đó nhờ một lời khuyên.
Chả là lúc mới về thành tôi ở nhờ trong một
ngôi chùa. Khi biết ý định của tôi, sư cụ bảo: “Con tính sai rồi. Đi
với cái Ác này để diệt cái Ác kia không được đâu. Chỉ có cái Thiện mới
diệt được cái Ác thôi, con ạ.” Tôi nghe lời sư cụ, nhưng tôi không tìm
thấy cái Thiện ở đâu cả.
– Tìm ra cái Thiện đích thực thật là khó.
– Vì không tìm ra nó, tôi chỉ biết làm một
người dân bình thường. Nhưng đến năm 75 thì tôi hiểu – cái Ác đang
thắng, nếu không làm được gì để chống nó thì chỉ còn cách tránh xa nó,
tránh thật xa, xa chừng nào hay chừng ấy, có gọi là chạy trốn nó thì
cũng đúng. Tuy chẳng có gì vinh quang trong sự chạy trốn ấy …
Chúng tôi đi ngủ. Đêm đã quá khuya.
Hôm sau, trong bữa điểm tâm, ông Hiếu đột ngột ra cho tôi một câu hỏi lạ tai:
– Ông có nghĩ rằng cải cách ruộng đất là một sai lầm như người ta thường nói không?
– Một sai lầm chứ. Đó là điều không thể
chối cãi được. Chính đảng cộng sản vốn không bao giờ chịu nhận mình sai,
cũng đã thừa nhận là thế. Người ta đã phải sửa sai ngay sau đó.
– Ông tin người ta có sửa sai?
Tôi có cảm giác ông Hiếu chỉ chờ tôi nói khẳng định để cười vào mũi tôi. Hẳn ông có cách nhìn khác đối với việc ấy. Tôi gật đầu.
– Họ có sửa sai. – tôi nói – Nhưng có sửa
đến nơi đến chốn hay không lại là chuyện khác. Và còn phải sửa dài dài,
bởi vì trang sử cải cách ruộng đất cho đến nay vẫn chưa khép lại được.
Nghe nói mới đây thành phố Hà Nội vừa quyết định đền bù cho những gia
đình có người bị giết trong cải cách ruộng đất.
– Đền bù thế nào?
– Một hay hai triệu đồng gì đó cho mỗi người bị chết oan.
Ông Hiếu cười khe khẻ:
– Tức là khoảng trên dưới một trăm đô la, theo tỷ hối hiện tại.
– Khoảng ấy.
Ông Hiếu trầm ngâm nhìn vào ly cà phê.
– Tôi thì không nghĩ đó là một sai lầm. Nói
cho đúng, bây giờ tôi mới nghĩ được như thế. Trước kia thì không. Trước
kia tôi không nghĩ ra. Một sai lầm có tính toán trước rằng kết quả nó
sẽ là như thế nào, không thể gọi là một sai lầm – ông Hiếu thở dài.
Người ta chỉ buộc lòng gọi nó là sai lầm khi mưu toan của họ bị bóc
trần.
– Cái gì làm cho ông nghĩ như thế?
– Ông nhớ lại xem. Ông sẽ thấy điều này: ở
bất cứ quốc gia nào, để tiến hành cải cách ruộng đất người ta phải điều
tra tình hình ruộng đất trước đã. Nhưng ở miền Bắc trước cải cách ruộng
đất, ông thấy không, đã không có một cuộc điều tra nào hết.
Tôi giật mình. Ý nghĩ ấy chưa từng đến với tôi.
– Ông có lý – tôi thừa nhận. Tôi hồi ấy ở
một trong những cơ quan trung ương. Tôi không được biết có một báo cáo
nào về chuyện ấy.
– Người ta tính những cái mà hồi ấy chúng
ta không nghĩ tới. Người ta muốn thanh toán cho bằng hết những người đã
ủng hộ cuộc kháng chiến trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước hiện đang
giữ những chức vụ trong chính quyền kháng chiến để thay vào đó những
người hoàn toàn mới. Những người mới này sẽ hoàn toàn là người của họ.
Để làm gì? Để những kẻ được chia quả thực cướp được kia, những kẻ bỗng
dưng có được địa vị ăn trên ngồi trốc kia sẽ hết mình với họ … Chỉ có
chúng mới là những kẻ rất mực trung thành với họ.
– Tôi muốn hỏi thêm ông một câu.
– Ông hỏi đi.
– Tôi nghĩ ông Thạc muốn ông được gặp mặt cụ nhà lần cuối là một ý nghĩ tốt. Ông không nghĩ thế?
Ông Hiếu cười khe khẽ. Tiếng cười gằn nghe đầy cay đắng.
– Một ý nghĩ tốt chứ, tôi thừa nhận. Có khi
nó còn tốt hơn cả những gì tôi nghĩ nữa. Ông ấy đã giúp tôi tỉnh ngộ.
Tôi phải chịu ơn ông ấy. Nhưng tôi không cảm được cái ơn ấy trong lòng
tôi. Có lẽ tôi tham lam chăng, khi tôi cho rằng trong những ngày ấy tôi
cần một cái gì hơn thế. Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy đứng về phía tôi,
kẻ chịu đựng một bi kịch không đáng có. Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy
không đứng về phía những tên đao phủ. Cái gì đó ấy sẽ an ủi tôi nhiều
hơn, sẽ cho tôi thêm một chút niềm tin đã mất vào con người …
5.
Ít lâu sau cuộc gặp gỡ với ông Hiếu, tôi
lại gặp ông Thạc. Ông vừa về Việt Nam tham dự cuộc họp mặt truyền thống
của quân khu. Ông vui hẳn lên, khác với lần chúng tôi gặp nhau ở
Stutgart. Ông kể chuyện những đổi thay ở đất nước, chuyện Hà Nội khác
trước đến không nhận ra, chuyện ông vừa được nhận thêm một huân chương
vì những công trạng trong quá khứ …
– Ông đã gặp “Hiếu Nhà Băng” rồi hả? Hắn nói sao?
Tôi lúng túng:
– Ông ấy vẫn nhớ ông. Nhưng ông ấy không
muốn gặp lại … Vì cuộc gặp lại ấy sẽ làm ông ấy nhớ đến những ngày ông
ấy không muốn nhớ đến nữa.
– Cái thằng … Bây giờ mà không biết quên đi
quá khứ, hướng tới tương lai là ngu, là xuẩn ngốc. Nó y như mấy thằng
đang đòi dân chủ ấy, trong tụi nó có cả những thằng cánh ta ngày trước,
tức là đã từng trong quân ngũ, chúng nó mắt nhắm tịt, ương như cua,
không biết rằng nước ta bây giờ dân chủ lắm rồi, hơn hẳn ngày xưa rồi,
ngày xưa không có nhiều dân chủ là do hoàn cảnh, là chuyện bất khả
kháng, chứ bây giờ khác, bây giờ đảng ta vững mạnh, có lực lượng quân
đội, công an hùng hậu, thì cho hay chưa cho, cho nhiều hay cho ít, là
cái quyền của đảng, đảng không keo xỉn trong chuyện ấy, vấn đề là phải
có tính toán; cho cái gì trước cho cái gì sau, cho bao nhiêu, cho vào
lúc nào …
Tôi nhìn ông. Ông nói say sưa. Ông bốc. Trong ông ấn tượng của chuyến đi đầy tràn.
– Ông Hiếu gửi lời thăm ông. Tôi nói để mà nói.
– Thế hả? Nó chỉ gửi lời thăm thôi? Không nói thêm gì nữa?
– Không.
Ông Thạc sa sầm mặt.
– Cái thằng vô ơn đến thế là cùng. Để lúc
nào tôi kể ông nghe đầu đuôi chuyện tôi đã làm gì cho hắn … Bây giờ
chúng mình kiếm cái gì chén đã. Chắc ông đi đường cũng đói bụng rồi.
Tôi vội vã chìa tay ra:
– Xin lỗi, hôm nay tôi mắc một cái hẹn. Để bữa khác vậy.
Trong lòng bàn tay tôi là một vật mềm, nhũn nhẽo.
– Ờ ờ … Tiếc quá! Có bao chuyện muốn kể ông nghe.
– Tiếc quá!
– Nói tóm lại, thằng Hiếu là một thằng vô ơn, ông nhớ đấy, tôi nói với ông rồi đấy. Ông Thạc nói theo, khi tôi đã ra đến cửa.
Vũ Thư Hiên