Tham Khảo
"Tiếng VIỆT có gốc QUẢNG ĐÔNG & TRIỀU CHÂU" - by Đỗ Chiêu Đức / Trần Văn Giang (ghi lại).
Người Minh Hương, người Hoa ở Việt Nam gốc Quảng Đông, Triều Châu, Phước Kiến, Hẹ (*), đã sống ở Việt Nam như người Việt Nam thuần túy. Họ đã hòa nhập một cách hồn nhiên, tích cực (như học tiếng Việt và lập gia đình với người Việt), làm mọi nghề để nhận nơi nầy làm quê hương. Đồng thời ngôn ngữ của họ đã có nhiều ảnh hưởng đến tiếng Việt như được ghi lại qua bài biên khảo rất lý thú (với nhiều ngạc nhiên!) của Tiên sinh Đỗ Chiêu Đức dưới đây.
Mời đọc...
(*) Người Minh Hương khác với "Hoa kiều." Hoa kiều là người Hoa ở Việt Nam không nhập quốc tịch Việt...
TVG
*
Trong quá trình hòa nhập vào cuộc sống của Việt Nam, những người Minh Hương đã sống tích cực như một người Việt Nam thuần túy, họ làm tất cả các ngành nghề mà người Việt bản xứ đã làm và sống hòa nhập một cách hồn nhiên tích cực để nhận nơi nầy làm quê hương; Và một trong cách sống hoà nhập phải nói "Hòa nhập nhất" là lấy vợ Việt Nam, sanh con đẻ cái trên mảnh đất tạm dung mà họ đã chấp nhận là "Quê hương thứ hai" nầy, kể cả việc đi vào những vùng sâu vùng xa để khai hoang lập ấp và lao động cật lực với ruộng vườn rẫy bái... Nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long của Nam kỳ Lục tỉnh với hệ thống sông ngòi chằng chịt và khí hậu thiên nhiên ưu đãi, như bà con thường kháo nhau "Chỉ cần có cái quần 'xà-lỏn' là có thể sống quanh năm"; Còn bà con người Hoa (Minh hương) thì cho rằng vùng đất thiên nhiên của Miền Nam là vùng "Ngư Mễ Chi Địa 魚米之地" hay nói một cách thân thương hơn là "Ngư Mễ Chi Hương 魚米之鄉" nghĩa là "Quê hương của CÁ và GẠO”; Có nghĩa là vì thiên nhiên ưu đãi với khí hậu và sông ngòi chằng chịt, nên đời sống rất dễ dàng dễ chịu. Sông ngòi khắp nơi nên cá tôm có khắp nơi, khí hậu ưu đãi nên không biết rét mướt là gì. Có nghĩa sống quanh năm mà không phải lo gì đến cơ hàn đói lạnh cả!
Từ năm Kỷ Mùi (1679), vì không muốn quy phục nhà Thanh, bốn vị tướng nhà Minh đã đem hơn 3.000 người cùng 50 chiếc thuyền từ Quảng Đông (Trung Quốc) vào hai cửa biển của Việt Nam xin qui phục. Nghe theo lời bàn của triều thần, chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho họ vào khai khẩn những vùng đất ở phía Nam. Từ đó, nhóm người Hoa này đã vỡ đất phá hoang, cày ruộng, dựng nhà và phố chợ, buôn bán với thương nhân đến từ nhiều nước khác... và dần dần hình thành nên một trong những khu phố Hoa kiều lớn nhất trên thế giới như Sài Gòn Chợ Lớn.
Bỏ qua quá trình về lịch sử phát triển của người Hoa ở Việt Nam, chỉ nói thêm một chút về "Ngũ Bang 五邦" của người Hoa ở Gài Gòn Chợ Lớn:
- Người Phước Kiến 福建thuộc tỉnh Phúc Kiến,
- Người Quảng Đông 廣東,
- Người Triều Châu 潮州,
- Người Hải Nam 海南,
- Người Hẹ (khách gia 客家), thuộc tỉnh QUẢNG ĐÔNG 廣東省 (Hải Nam trước mắt là một đơn vị hành chánh độc lập).
Người Quảng Đông giỏi buôn bán kinh doanh, nên hiện diện đầy cả Chợ cũ Sài gòn và Chợ Lớn Mới; Người Hẹ (còn gọi là Khách Gia 客家) giỏi nghề thầy thuốc, trị bệnh; Người Phước Kiến thường theo nghề dạy học, xuất nhập khẩu; Người Hải Nam làm các nghề dịch vụ như mở quán nước, nhuộm đồ vải, bịt răng… Người Triều Châu, còn gọi là người Tiều Châu và gọi cho gọn lại là Người Tiều, thì đa số làm ruộng làm rẫy, nên thường sống ở vùng ngoại ô như Phú Lâm, Lục Tỉnh như Sóc trăng, Bạc Liêu. Ta thường nghe câu hát:
Bạc Liêu là xứ cơ cầu,
Dưới sông cá chốt, Tiều Châu trên bờ!
hay như:
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu!
Cho thấy quần thể người Tiều Châu sống ở khắp cùng vùng sâu vùng xa thành phố, và sống rất khắc khổ, chịu thương chịu khó trong công việc đồng áng. Cũng chính người Tiều Châu hòa nhập vào cuộc sống nông thôn của người Việt Nam nhiều nhất, sớm nhất và đông nhất; Cũng như người Quảng Đông là quần thể sống về nghề buôn bán và công kỹ nghệ nên thường tập trung ở các thành thị chợ búa đông đúc. Như trước năm 1975, người Việt vào Chợ Lớn buôn bán cũng phải học nói tiếng Quảng Đông nếu như muốn "business" của mình được thuận lợi suông sẻ.
Nên dân chúng miền Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long của vùng Nam kỳ Lục tỉnh nói riêng, khi trao đổi giao tiếp trong ngôn ngữ thường lẫn lộn rất nhiều từ ngữ mang âm sắc của tiếng Tiều Châu và Tiếng Quảng Đông như trong các bài Tạp ghi và Phiếm luận của Đỗ Chiêu Đức: "Từ Chè Tào thưng đến Bò bía,” "Uống Xây chừng đái ra Xây Nại,” "Dzách cô xíu mại, lượng cô Tài Páo...”
Thể theo lời yêu cầu của các thân hữu, sau đây là...
BẢNG LIỆT KÊ NHỮNG CHỮ TIẾNG VIỆT
Có Gốc TIỀU CHÂU (T) và QUẢNG ĐÔNG (Q)
*
A- A 阿 là Tiếp đầu ngữ của cả tiếng Tiều và tiếng Quảng dùng để gọi người từ nhỏ đến lớn, như:
- A Mủi 阿妹, A Ché 阿姊 (Q) là Em gái, Chị gái.
- A Mùi 阿妹, A Chế 阿姊 (T) là Em gái, Chị gái.
- A Tỷ 阿弟, A Hia 阿兄 (T) là Em trai, Anh trai. Ta hay gọi là "Thằng Tỷ.”
- A Xúc 阿叔, A Xẩm 阿嬸 (Q) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là "Thiếm Xẩm.”
- A Chệt 阿叔, A Xiếm 阿嬸 (T) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là "Chú Chệt.”
- A Pá 阿爸, A Má 阿媽 (Q); A Pa 阿爸, A Má 阿媽 (T) là Ba, Má. Còn gọi là Pà Pá, Mà Má.
- A Coon 阿公, A Mắ 阿嬤 (T) là Ông nội, Bà nội.
- A Dè 阿爺, A Mà 阿嬤 (Q) là Ông nội, Bà nội.
- A Cúng 阿公, A Phò 阿婆 (Q) Ông ngoại, Bà ngoại. "Bà già Phò" là Bà ngoại đó.
Đặc biệt những con vật trong Lục súc sống gần gũi với con người cũng được dùng Tiếp đầu ngữ A 阿 để gọi, như:
- A Cẩu 阿狗 (Q) là con Chó. "A CẨU" cũng dùng để gọi người có tên CẨU.
- A Ngầu 阿牛 (Q) là con Trâu, con Bò. "A NGẦU" cũng dùng để gọi người có tên NGẦU.
Á. Á Phiện 鴉片 (T) đọc trại âm Tiều Châu là "A-Phẹn,” âm Hán Việt là NHA PHIẾN (tên khoa học là Lachryma papaveris). Một chất ma túy có gốc là mủ khô thu được từ vỏ mầm của cây anh túc hay cây thẩu Papaver somniferum thuộc họ Anh túc (Papaveraceae).
Ta có câu đối rất hay về Á Phiện ở một tiệm hút của Thị Trấn Cái Răng xưa như sau:
鴉片三分,蓋世英雄歸絕路; Nha phiến tam phân, cái thế anh hùng quy tuyệt lộ;
嫖賭二項,風流子弟入窮途。 Phiêu đổ nhị hạng, phong lưu tử đệ nhập cùng đồ.
Có nghĩa:
- Chỉ cần ba phân Á phiện thôi cũng đủ làm cho anh hùng cái thế đi đến con đường tuyệt lộ; Còn...
- Hai thứ chơi bời và cờ bạc, sẽ đưa con em phong lưu phóng đãng vào bước đường cùng!
B- BA là âm "A PA 阿爸" của Tiều Châu chỉ người CHA; Ta gọi theo là BA.
- BẠC là âm Quảng Đông của từ BẠCh là Trắng. Ta có từ:
- BẠC TẨY 白底 (Q) Ly nước đá cục, chưa có nước gì trong đó cả. Tùy theo tình huống, "Bạc Tẩy" cũng có thể là ly sữa nước sôi.
- BẠC XIỂU PHÉ 白小啡 (Q) là Cà Phê sữa nhỏ ít cà phê.
- BẢO KÊ là âm Tiều Châu "Bỏ Kê" được đọc trại ra của từ BẢO GIA 保家 là "Nhà Bảo Đảm.” Có BẢO KÊ tức là có ai đó Bảo đảm, có người chịu trách nhiệm.
- BẬU (????" có nghĩa là Vợ, là em gái. Âm địa phương của Tiều Châu là "BẤU.” Người chồng Tiều Châu gọi vợ Việt Nam là BẬU. BẬU trong tiếng Tiều Châu còn có nghĩa là CÔ GÁI, là "Cha-Bấu 㜁 (????)" là Con gái.
- BÍA 餅 (T) âm Hán Việt là BỈNH, có nghĩa là BÁNH, thường gọi là "Bánh Bía" hay "Bánh Pía,” "Bánh Mì-Sủi" là loại bánh ăn dặm để uống cà phê vào buổi trưa.
- BÍM hay BÍNH âm Quảng Đông là BÍL, chữ Nho là BIỆN TỬ 辮子 là Tóc kết Đuôi Sam, bình dân gọi là "Thắt Bính."
- BINH XẬP XÁM (Q) là một kiểu chơi bài của người Quảng Đông. XẬP XÁM là âm Quảng Đông của từ THẬP TAM 十三 là Mười ba. Chia bộ bài 52 lá ra làm 4 tụ. Mỗi tụ 13 lá chia làm 3 chi: Đầu, giữa và cuối; Rồi so nhau xem bài nào lớn thì thắng.
- BÒ BÍA (T) là BẠC BỈNH 薄餅: BẠC là Mỏng; BỈNH là Bánh; là một loại bánh mỏng. Có hai loại: Loại ngọt và loại mặn. Loại ngọt tráng bằng bột bắp gói kẹo mạch nha sốp rắc thêm mè đen mè trắng và dừa xác nạo mỏng, ăn rất ngon rất bắt, ăn hoài không chán. Loại mặn là bánh tráng nem của ta gói củ sắn sắt sợi xào với tôm khô, thêm trứng và lạp xưởng vào cùng với vài lá rau quế, cuốn tròn lại chấm với tương ớt, ăn quên thôi. Thường thấy các chú Ba đẫy xe bán ở trước các cửa trường học cho học sinh thích ăn hàng vặt.
- BÒ HÓ NÁNG là âm Tiều Châu của nhóm từ BẤT HẢO NHÂN 不好人 có nghĩa là: Người không tốt, người xấu.
- BỐ TỜI là đọc trại âm Tiều Châu "BỐ-TÒ" của từ BỐ ĐẠI 布袋 là cái túi bằng vải, còn được gọi là cái BAO BỐ TỜI.
C- CAI âm Quảng Đông của từ GIỚI 戒 là Cấm đoán, Từ Bỏ. Như CAI Thuốc, CAI Rượu là Bỏ Thuốc Bỏ Rượu, không hút thuốc không uống rượu nữa. Ta có từ CAI NGHIỆN là Từ bỏ cái tật ghiền cái gì đó.
- CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO 絞 là: Dặn theo chiều ngược kim đồng hồ, như "CẢO con tán bị dính cứng lâu ngày ra.”
- CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO 餃 là: Bánh quai vạc, như SỦI CẢO 水餃 là Bánh quai vạc nước. Khi chiên lên để ăn cho giòn là "CHÍL CẢO 煎絞,” còn khi được nấu chung với mì sợi thì gọi là CẢO MÌN 餃麵.
- CẢO HÚ âm Tiều Châu của từ CÂU PHÓ 夠副 là Đủ Bộ. Một loại bài tứ sắc cây lớn với cách chơi gom cho đủ bốn màu của các con bài giống nhau cho đủ bộ. Như: Đánh Tứ Sắc chán rồi thì đánh Cảo Hú.
- CẤY âm Quảng Đông của từ KÊ 雞 là Con GÀ. Ta có từ TẢ CẤY 打雞 là ĐẢ KÊ, nhưng không có nghĩa là "Đánh Gà,” mà là "Đi Chơi Bời.” Có thể vì cách nói nầy của người Quảng Đông mà ta có từ "Gà Móng Đỏ" để chỉ các cô gái cô gái làng chơi chăng ?!
- CÔ âm Tiều Châu của từ CÔ 姑 là Chị em gái của Ba. A CÔ 阿姑 A TỈA 阿丈 là từ dùng để gọi CÔ và DƯỢNG (chồng của Cô).
- CÓN âm Quảng Đông của từ QUANG 光 là Sáng. Ta hay nói: Cái đầu sói (hói) không có tóc LÁNG CÓN là chữ CÓN nầy. Láng Cón là Láng bóng lên.
- CỐNG HỈ PHAT SỒI là âm Quảng Đông của lời chúc Tết: CUNG HỈ PHÁT TÀI 恭喜發財, còn được đọc là CÚNG HỈ FAT XỒI: Năm mới cùng mừng nhau phát tài.
- CÚ âm Quảng Đông của từ CAO 高. Ta thường nghe gọi những người cao nhồng là CÚ LỦ 高佬. Như CÚ LỦ Yao Ming 姚明 (cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của Trung Quốc, cao 2,29m).
- CÙ LỦ âm Quảng Đông của từ PHÙ LÃO 扶佬 là một trong các cấp ăn thua của lối chơi bài "Xập Xám Chướng 十三張"(Bài 13 lá), gồm có Một đôi và Ba cây giống nhau. Người Quảng đọc là PHÙ LỦ, ta nói trại thành CÙ LỦ.
- CỦ âm Tiều Châu của từ CỮU 舅 là Cậu, anh em trai của má. Người Tiều gọi Cậu Mợ là A CỦ 阿舅, A KIỂM 阿妗.
- CŨ âm Tiều Châu của từ CỔ 古 là Cũ là Xưa. Ta thường hay sử dụng từ CŨ XÌ là âm Hán Việt của từ CỔ THÌ 古時 là Hồi xưa, là Cũ lắm rồi!
- CHÀNH âm Tiều Châu của từ SẠN 棧 là cái kho chứa. Ta hay nghe từ CHÀNH LÚA là Cái kho chứa lúa, là nơi chuyên kinh doanh về lúa gạo. Thường thì CHÀNH LÚA ở sát bên Nhà Máy Xay Lúa.
- CHẠP PHÔ âm Quảng Đông của từ TẠP HÓA 雜貨 là đồ linh tinh tạp nhạp trong cuộc sống hằng ngày. Ta có từ TIỆM CHẠP PHÔ là Tiệm Tạp Hóa đó.
- CHAY âm Quảng Đông của từ TRAI 齋 là Trai giới, là nơi học tập hay tu tập. Người Quảng nói XỰC CHÁY 吃齋 là ĂN CHAY. "Liêu Trai Chí Dị" của Bồ Tùng Linh cũng là chữ TRAI nầy; có nghĩa: Ghi lại những chuyện lạ nơi phòng học vắng vẻ.
- CHỆT âm Tiều Châu của từ THÚC 叔 là Chú, là em trai của ba. Gọi Chú Thiếm là A Chệt 阿叔, A Xiếm 阿嬸. Từ THIẾM là do âm Tiều Châu "A Xiếm" nói trại mà ra; Còn Chú là Chệt, thì ta lại có từ kép là CHÚ CHỆT để chỉ chung cho tất cả những người Hoa Phái Nam.
- CHÍ MÀ PHỦ âm Quảng Đông của nhóm từ CHI MA HỒ 芝麻糊. CHI MA là Mè (vừng), HỒ là chất sệt dính; nên CHI MA HỒ là Chè Mè Đen rang thơm mè rồi nấu với bột Tapioca của người Quảng Đông, Việt Nam ta lại rắc thêm dừa nạo hay chan thêm một muỗng nước cốt dừa màu trắng lên trên trông đẹp mắt mà ăn lại béo hơn ngon hơn.
- CHÍ QUÁCH âm Quảng Đông của từ TRƯ CỐT 豬骨 là Xương heo. Ta đọc trại đi thành "Xí QUÁCH" là những khúc xương heo được nấu trong nồi súp hủ tiếu mì, các bợm nhậu rất thích vì nhậu rất bắt. Trong XÍ QUÁCH lại có cả TỦY ở trong đó, mà TỦY là tinh lực của xương và là sinh lực của con người, nên khi lao động quá mỏi mệt thì người ta hay than là "Hết Xí Quách rồi!"
- CHÍA âm Tiều Châu của từ THỰC 食 là Ăn. Nhưng vì là thanh Trắc nên khi ghép với các từ khác thường được chuyển thành thanh Bằng. Như câu "CHÌA MÍ CÁI ?" là Ăn cái gì ? CHÌA BỪNG là Ăn Cơm; CHÌA MÚI là Ăn Cháo... Ta lại thường nghe câu nói vui là "CHÌA BỪNG, CHÌA MÚI, CHÌA CHUỐI, CHÌA... KHOAI LANG!..."
D- DZÁCH âm Quảng Đông của chữ NHỨT 一 là số 1. Ta thường dùng từ SỐ DZÁCH để chỉ cái gì đó rất tốt, là hảo hạng, là không có gì hơn được.
- DZÁCH CÔ âm Quảng Đông của từ NHẤT CÁ 一個 là Một người, một cái... gì đó, như câu "order": "DZÁCH CÔ xíu mại, LƯỢNG CÔ Tài Páo" có nghĩa là "Một cái xíu mại, hai cái bánh bao lớn.”
- DZÁCH LẦU âm Quảng Đông của từ NHẤT LƯU 一流 là Hạng Nhất.
- DÀNH âm Quảng Đông của từ NHÂN 人 là Người. DZÁCH CÔ DÀNH 一個人 là Một Người.Ta thường nghe câu nói chơi cho vui là: DZÁCH CÔ DÀNH XỰC DZÁCH CÔ... XƯỜNG TẠI; có nghĩa: Mỗi môt người ăn một trái... Xoài Tượng!
- DẦU âm Quảng Đông của từ DU 油 là Dầu mỡ. Ta có từ DẦU CHÁ QUẢY 油炸檜 là DU TẠC CỐI là một loại Bánh bột chiên có hai cọng dính liền nhau, tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối đã hạm hại trung thần Nhạc Phi, nên bị bỏ vào chảo dầu chiên giòn để cắn ăn cho hả giận.
DẦU CHÁ QUẢY còn được gọi trại đi thành GIÒ CHÁ QUẪY.
- DÍ âm Quảng Đông của từ DI 姨 là Dì, là chị và em gái của má. Người Quảng Đông gọi Dì Dượng là A DÍ 阿姨, A CHẺNG 阿丈.
- DỤ KHỊ âm Quảng Đông của từ DỤ KỲ 諭其. DỤ là Phủ dụ, là nói lời ngon ngọt; KỲ là ngôi thứ ba phiếm chỉ người nào đó; Nên "Nói lời ngon ngọt để dụ dỗ một người nào đó" thì gọi là DỤ KHỊ.
- DÈNG CHẤU XẢO FÀN là âm Quảng Đông của nhóm từ DƯƠNG CHÂU SAO PHẠN 揚州炒飯 là Cơm Rang Dương Châu, là Cơm được rang theo kiểu thành phố Dương Châu ở Trung Quốc. Ta còn gọi là CƠM CHIÊN DƯƠNG CHÂU.
- ĐẦU NẬU âm đọc trại tiếng Quảng Đông "THẦU NỤ" là ĐẦU NÃO 頭腦: Đầu và Não là hai cơ quan dứng đầu và cao nhất trong con người, nên "ĐẦU NẬU" là từ dùng để chỉ người có đầu óc chỉ huy, đứng đầu một băng nhóm hay một ngành nghề... nào đó.
H- HÁ âm Quảng Đông của từ HÀ 蝦 là Tôm, Tép. Từ thường dùng đặt tên cho những đứa con khó nuôi, như XÚ HÁ 廋蝦 là Con tép ốm. Ta có từ "Xấu Hái" khó nuôi.
- HÁ CẢO âm Quảng Đông của từ HÀ GIẢO 蝦餃 là loại bánh quai vạc nhỏ bằng bột "tapioca" trong bọc tôm thịt, như viên "Xíu mại" nhưng có màu trắng vì lớp bột tapioca bên ngoài.
- HẮC-ÍN âm Quảng Đông của từ HẮC YÊN 黑煙 là Khói đen; Ở đây chỉ lớp nhựa đen để tráng đường đi.
- HÀM BÀ LẰNG âm Quảng Đông của nhóm từ HÀM VÔ LUẬN 含無論 là Bất kể, là Bao gồm tất cả, là Tổng cộng, là Gộp hết lại.
- HẦU BAO âm Quảng Đông của từ HÀ BAO 荷包 là Ví tiền, là Túi đựng tiền, là cái Bóp tiền. Mở Hầu Bao ra là mở ví tiền ra để... làm gì đó.
- HẦU SÁNG âm Quảng Đông của từ HẬU SINH 候生 là Người Bồi bàn trong các quán ăn. Trong các cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn rất hay nhắc đến từ HẦU SÁNG nầy.
- HẨU XỰC âm Quảng Đông của từ HẢO NGẬT 好吃 là Ăn Ngon, là Ngon. Như khen "món đó Hẩu Xực,” có nghĩa Món đó rất ngon.
- HÒ XỪ XANG XÊ CỐNG âm Quảng Đông của nhóm từ HÀ SĨ THƯỢNG XÍCH CÔNG 何士上尺工 là Ngũ Âm trong âm nhạc cổ điển Việt Nam ta.
- HOÀNH THÁNH âm Quảng Đông cùa từ VÂN THÔN 雲吞 là Nuốt Mây: Chỉ những thịt heo bầm được bóp lại trong một miếng bột mì hình vuông màu vàng, khi luộc chín những cánh bột bung ra trông như những cục mây nho nhỏ, nấu trong nước súp bỏ thêm xà lách, hành ngò, dùng muỗng múc từng cục bỏ vào miệng như nuốt những cục mây, rất thơm ngon. Còn được gọi là MÌ THÁNH; Người miền Bắc đọc trại đi thành VẰN THẮN. Nấu chung với mì thành HOÀNH THÁNH MÌ, là VẰN THẮN MÌ là món ăn sáng vừa no vừa ngon của các tiệm nước người Hoa ngày xưa.
- HỘP âm Quảng Đông của chữ HẠP 盒 là Cái Hộp để đựng đồ.
- HÙNG âm Quảng Đông của chữ HỒNG 紅 là Màu đỏ. Ta có từ HÙNG TẨU SÁ 紅豆沙 là Chè Đậu Đỏ.
- HỦ TÍU âm Tiều Châu của từ QỦA ĐIỀU 粿條 là Bánh sợi. Những sợi bánh được làm bằng bột gạo của người Tiều Châu, được nấu trong nước súp xương, với hành ngò giá hẹ, trên thêm vài lát thịt heo mỏng, môt miếng tôm chiên dòn, là ta có một tô Hủ Tíu ngon lành. Âm Tiều Châu chánh gốc là CỦI TÉO, bị đọc trại thành HỦ TÍU, CỦ TÍU, PHỞ TÍU... "HỦ TÍU GÕ" là loại Hủ tíu bình dân được người bán bưng đến tận nhà dù ở trong hẽm nhỏ, thường được nấu trên các xe Hủ tíu bình dân được đẩy đi đến tất cả hang cùn ngỏ hẽm.
- HUI NHỊ TÌ âm Quảng Đông của nhóm từ KHỨ NGHĨA ĐỊA 去義地 là Đi vào nghĩa địa, là chết đó. Nói như: "Nó hui Nhị tì rồi" là Nó đã chết rồi đó.
- HỤI âm Tiều Châu của từ HỘI 會 là Hôi họp. HỤI còn là Danh từ chỉ môt nhóm người hội họp lại để cùng giúp đỡ nhau về mặt tài chánh, gọi là CHƠI HỤI. Như quy định mỗi tháng họp một lần, mỗi người phải bỏ ra một ngàn cho một người nào đó lấy đem về chi dụng trước, tháng sau thì đến lược người khác đem về, người được đem tiền về gọi là ĐI HỐT HỤI... Khi đi bốc thăm xem tháng nầy ai được đem tiền về gọi là ĐI KHUI HỤI. Người cuối cùng được đem tiền về gọi là "HỐT HỤI CHÓT.” Thường thì cũng có GIAO KÈO CHƠI HỤI hẵn hoi.
K- KỈ TỐ âm Quảng Đông của từ KỶ ĐA 幾多 là Bao nhiêu ? Là Nghi vấn tự thường dùng để hỏi. Như KỶ TỐ LÚI? là "Bao nhiêu tiền vậy?”
- KHUI âm Tiều Châu chủa chữ KHAI 開 là Mở ra. Như từ KHUI HỤI ở trên, ngoài ra ta còn có từ KHUI KHẠP trong bài Tứ sắc, KHUI đồ họp, KHUI thùng hàng... KHUI RA là Mở ra, còn có nghĩa là Khai ra việc gì đó.
L- LẠP CHẠP âm Quảng Đông của từ LẠP SẮC 垃圾 là Rác rưởi. Ta đọc trại đi thành LẠP XẠP, nên có từ XẠP XẠP THỦNG 垃圾桶 là Thùng xúc rác, cái gì cũng chứa cả! Ta hay nghe nói: "Thằng đó nó ăn như cái LẠP XẠP THỦNG vậy!.”
- LẠP CHÚC âm Quảng Đông mà cũng là âm VIỆT HÁN của chữ LẠP CHÚC 蠟燭. LẠP nầy có bộ TRÙNG 虫 là Sâu bọ bên trái, nên có nghĩa là Sáp của con ong; CHÚC là Đuốc. LẠP CHÚC là "Cây đuốc bằng sáp" là cây "Đèn Cầy, Đèn Sáp." Bà con miền Bắc thì gọi là Cây NẾN. Nói đến LẠP CHÚC làm cho ta lại nhớ đến hai câu thơ trong bài thơ TẶNG BIỆT 贈別 nổi tiếng của Đỗ Mục đời Đường là:
蠟燭有心還惜別, LẠP CHÚC hữu tâm hoàn tích biệt,
替人垂淚到天明。 Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh.
Có nghĩa:
Nến bởi có lòng nên cũng tiếc,
Thay người nhỏ lệ đến bình minh!
- LẠP XƯỞNG âm Quảng Đông của từ LẠP TRƯỜNG 臘腸. LẠP nầy có bộ NHỤC 肉 được viết cách điệu như chữ NGUYỆT 月 ở bên trái, nên có nghĩa là Thịt phơi khô dùng để cúng tế cuối năm; TRƯỜNG là Ruột. Nên LẠP XƯỞNG là thịt heo xắt nhỏ ướp gia vị dồn vào trong ruột heo để phơi khô dùng cho cuối năm. Ta có các từ LẠP DỤC 臘肉 là Thịt ướp khô, LẠP ẠP 臘鴨 là Vịt ướp khô... là những món ngon thường thấy ở cuối năm khi gần đến Tết Âm lịch. LẠP XƯỞNG còn được đọc trại đi thành LẠP XƯỜNG.
- LẨU âm Quảng Đông của chữ LÔ 爐 là Cái Lò. Kiểu ăn cho ấm của mùa đông. Bắt nồi súp lên cái lò để trên bàn rồi nhúng những đồ ăn còn sống vào đó, vừa chín là gắp ra ăn ngay, vừa nóng vừa ngon. Kiểu ăn nầy gọi cho đủ là TẢ BÍL LÙ 打邊爐 là ĐẢ BIÊN LÔ, có nghĩa là "Bắt một cái lò bên cạnh" để nhúng vào đó mà ăn.
- LẬU âm Quảng Đông của từ LIỄU 柳 là Cây Liễu. Do thành ngữ TẦM HOA VẤN LIỄU 尋花問柳 là "Tìm hoa hỏi liễu" chỉ các con em phong lưu đi tìm hỏi các nhà chứa để chơi bời; nên bệnh do quan hệ tình dục bừa bãi mang đến được gọi cho hoa mỹ là BỆNH HOA LIỄU, âm Quảng Đông là PHÁ LẬU BÈN là Hoa Liễu Bệnh 花柳病; giới bình dân gọi cho gọn lại là "Bệnh Lậu.” LẬU 漏 từ Hán Việt còn có nghĩa là RỈ ra, chỉ bộ phận sinh dục đi tiểu khó khăn, phải rỉ ra từng chút một rất đau đớn, vì chơi bời bị bịnh Lậu mũ nên có "pyuria."
- LEN âm Quảng Đông là đẹp đẽ trắng trẻo. LEN CHẨY 倩仔 là Anh chàng trắng trẻo đẹp trai. LEN CHẨY cũng là ly sữa nước sôi trắng tinh không có cà phê trong quán nước. HỦ LEN (Q) là Rất đẹp, rất tốt.
- LÌ XÌ âm Quảng Đông của từ LỢI THỊ 利市 là Cái lợi từ chợ búa mà ra. Năm mới tặng tiền cho ai đó mong rằng sẽ có thêm nhiều lợi tức từ thị trường mà ra trong năm tới. Tiền đó được bỏ trong một cái bao màu đỏ, gọi là TIỀN LÌ XÌ. Sau nầy hễ lễ lộc hội hè... tặng tiền cho ai đó đều được gọi là tiền Lì Xì cả.
- LỤ âm Quảng Đông của chữ LÃO 老 là Gìa. Dùng cho cả Nam nữ, như:
LỤ MỤ âm Quảng Đông của từ LÃO MẪU 老母 là Bà mẹ già.
LỤ BẢL âm Quảng Đông của từ LÃO BẢN 老板 là Ông Chủ.
- LỤC TẦU XÁ âm Quảng Đông của từ LỤC ĐẬU SA 綠豆沙 là Chè Đậu xanh nước dừa đường cát, còn được đọc là LỤC TẨU XÁ.
- LỨ âm Tiều Châu của chữ NỄ 你 là Ngôi thứ hai số ít của Danh xưng đại danh từ, có nghĩa là: Ông, Anh, Mầy.
M- MÁ CHÍNH âm Quảng Đông của từ MÃI CHỨNG 買證 là người đứng trung gian chịu trách nhiệm giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài khi hai công ty trong và ngoài nước giao dịch buôn bán và thanh toán tiền nong với nhau.
- MẠI MÀI âm Quảng Đông của chữ MÃI MẠI 買賣 là Mua Bán, là Buôn bán. CHÙ MẠI MÀI 做買賣 là Làm ăn buôn bán. Ta có chữ:
MẠI BẢN âm Quảng Đông của từ MÃI BIỆN 買辦 là "Người bản địa đứng ra làm trung gian, thông dịch để cho người ngoại quốc đến làm ăn buôn bán. Người đứng trung gian thủ lợi đó là người Mại Bản. Trước 1975 ở miền Nam ta hay nghe từ TƯ SẢN MẠI BẢN.
- MẠT CHƯỢC âm Quảng Đông của từ MA TƯỚC 麻雀 là con chim sẻ. Nên "Đánh Mạc Chược" còn gọi là "Đánh bài con chim.”
- MÌ hay MÌN là âm Quảng Đông của từ MIẾN 麵 là Lúa mì lúa mạch xây thành bột mì cán nhỏ xắt thành sợi lớn sợi nhỏ, gọi là Mì Lớn, Mì Nhỏ, rồi vắt thành từng vắt một. Ăn một vắt thì gọi là TÁL MÌN 單麵; ăn hai vắt thì gọi là MÁ MÌN 孖麵. Vào quán mì hay kêu: "Cho một tô Má MìN" tức là cho "Một Tô Mì 2 Vắt."
- MÌ CHÍNH âm Quảng Đông của từ VỊ TINH 味精 là "Tinh túy của mùi vị,” tức là BỘT NGỌT.
- MÌ THÁNH xem lại từ HOÀNH THÁNH, VẰN THẮN ở bên trên.
- MŨ âm Quảng Đông của từ MẠO 帽 là cái Mão, cái Nón đội trên đầu. Đội MŨ là đội Nón. Chữ nầy rất thông dụng trong tiếng Việt.
- MÚI âm Quảng Đông của chữ MUỘI 妹 là em gái. Thường gọi là A MÚI.
- MỦI âm Tiều Châu của chữ MUỘI 妹 là em gái. Thường được gọi là A MỦI.
N- NẠM âm Quảng Đông của chữ NẠM 腩 là Phần thịt ở bụng. Ta có từ NGẦU NẠN là NGƯU NẠM 牛腩 Là Thịt ở dưới bụng của con bò, kho ăn rất ngon.
- NỊ âm Quảng Đông của chữ NỄ 你 là Ngôi thứ hai số ít của Danh xưng đại danh từ, có nghĩa là: Ông, Anh, Mầy.
- NGỘ âm Quảng Đông của chữ NGÃ 我 là Tôi, ta, tao là Ngôi thứ nhất của Danh xưng Đại danh từ. NGỘ với NỊ là Tôi và Anh, là Ta và Mi, là Tao với Mầy.
- NGÁM NGÁM âm Quảng Đông của từ HÀM HÀM 銜銜 là Vừa vặn, Vừa khít.
- NGẦU âm Quảng Đông của chữ NGƯU 牛 là Trâu, Bò. Ta có các từ thường gặp như:
Rất NGẦU là Rất Dữ, rất Quạu, rất Bắt mắt.
NGẦU DỤC PHẢNH 牛肉粉 là Hủ tíu thịt bò, là Phở bò.
NGẦU PÍN 牛鞭 là NGƯU TIÊN là "Cây roi bò,” chỉ Bộ phận sinh dục của con bò đực lớn và dài như cây roi vậy. Nên Đàn ông rất thích ăn.
- NHẪM âm Quảng Đông của chữ ẨM 飲 là Uống. Như NHẪM CHẨU 飲酒 là ẨM TỬU, là Uống rượu. NHẪM XÀ 飲茶 là ẨM TRÀ là Uống Trà. Ta hay nghe câu "Nhẫm xà ở nhà Bà Xẫm" hay "Bà Xẫm nhẫm xà.”
P- PHÁ LẤU âm Tiều châu của từ PHÁCH LỖ 拍滷 là Khìa; một kiểu kho của người Tiều Châu được ướp nước tương, đường muối, ngũ vị hương, đại hồi... Rất thơm ngon và để được lâu, nhậu rất bắt mà để ăn cơm cũng rất ngon. KHÌA Hay PHÁ LẤU cả lòng heo như Bao tử, Gan, Tim, Phối Linh... có cả Tai heo, lưỡi heo nữa!
- PHÀN (FÀL) âm Quảng Đông của từ PHẠN 飯 là Cơm. Nên XỰC FÀL là Ăn Cơm.
- PHAY âm Quảng Đông của chữ KHỐI 塊 là Miếng, Mảnh. Nên Thịt Xé Phay là Thịt được xé nhỏ ra từng miếng một. Ta có Thịt Gà Xé Phay như câu:
Gà cồ (/hay què?) ăn quẩn cối xay,
Rau răm muối ớt XÉ PHAY gà cồ!
DAO PHAY là Dao dùng để chặt cái gì đó ra từng miếng nhỏ một.
- PHÉ âm Quảng Đông của chữ PHÁI 派 là Phe, nhóm. ĐÁNH PHÉ là loại bài chơi bắt từng cặp từng đôi một, hai cây giống nhau là một PHÉ.
PHÉ còn là CA-FÉ là CÀ PHÊ chữ phiên âm của chữ Café 咖啡.
PHÉ NẠI 啡奶 là Cà phê sữa.
- PHÌ âm Quảng Đông của chữ PHÌ 肥 là Mập. PHÌ LỦ 肥佬 là Ông Mập.
- PHÌ PHÀ âm Quảng Đông của từ TÌ BÀ 琵琶 là cây đàn Tì Bà. Nhớ hồi nhỏ khi học chữ Nho với Bác Sáu, Bác đã đối câu "Da trắng vỗ bì bạch" của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm bằng câu:"PHÌ PHÀ đàn Tì Bà.” Ý của Bác Sáu là: Bác vừa hút thuốc phì phà vừa đàn Tì Bà.
- PHÓNG SỦI âm Quảng Đông của từ PHONG THỦY 風水. "Hủ Phóng Sủi 好風水" là Hảo Phong Thủy, là Phong thủy tốt. "Phóng Sủi xíl xán 風水先生" là Phong Thủy Tiên sinh là "Ông thầy xem phong thủy.
- PHỔ KY âm Quảng Đông của từ HỎA KẾ 伙計 là người làm công, người giúp việc trong các cửa hàng hảng xưởng. Như: "Tiệm nầy có đến 5 người PHỔ KY lận."
- PHÚC âm Quảng Đông của từ PHÚC 福 là Phước. DẬU PHÚC là HỮU PHÚC 有福 là Có Phước. PHÚC LỤC SẦU là PHÚC LỘC THỌ 福祿壽.
Q- QUA âm Tiều Châu của chữ NGÃ 我 là Tôi. Thường dùng cho người hơi lớn tuổi xưng hô với người nhỏ tuổi hơn. Như QUA nói cho em nghe, hay như câu nói vui của dân Sóc Trăng Bạc Liêu là:
Hôm qua QUA nói QUA qua mà QUA hổng qua,
Hôm nay QUA hổng có nói QUA qua mà QUA qua.
S- SÂM BỔ LƯỢNG là âm Quảng Đông bị nói trại đi mà thành của nhóm từ THANH BỔ LƯƠNG 清補涼. THANH là thanh nhiệt, là lọc cho trong, BỔ là Bổ dưỡng, LƯƠNG là mát mẻ. Nên Thanh Bổ Lương là món chè được nấu bằng đường phèn với các vị thuốc Bắc ăn được như Trái Táo, nhãn nhục, Bách hợp, nấm tuyết, Phổi tai, Hoài sơn, Hạt sen, Củ sen... Ăn để giải nhiệt thanh lọc cho cơ thể sau những giờ lao động mệt nhọc. Có thể ăn nóng hoặc ăn lạnh với nước đá tùy thích. Vì là món chè bổ dưỡng, nên thường bị đọc trại thành SÂM BỔ LƯỢNG để cho tăng thêm phần trịnh trọng của món chè dưỡng sinh nầy.
- SỞ HỤI âm Tiều Châu của từ SỞ PHÍ 所費 là Số chi phí cần phải tiêu hao; Số tiền cần phải xài cho việc gì đó. TIỀN SỞ HỤI cũng có nghĩa là tiền để trong mình phòng khi có để tiêu vặc.
- SỦI CẢO âm Quảng Đông của từ THỦY GIẢO 水餃 là Bánh xếp nước rất nổi tiếng ở phố ăn uống Hà Tôn Quyền thuộc Quận 11.
T- TÀI âm Quảng Đông của chữ ĐẠI 大 là Lớn. Như TÀI CÓ 大哥 là ĐẠI CA là Anh Cả, người Miền Nam gọi là Anh Hai.
- TÀI XIỂU âm Quảng Đông của từ ĐẠI TIỂU 大小 là Lớn Nhỏ. Một lối chơi cờ bạc có tên là TÀI XIỂU 大小 với 3 hôt xúc xắc có số từ 1-6. Hễ tổng số của 3 hột xúc xắc từ 3-10 là XIỂU; Còn từ 11-18 là TÀI. Rất nhiều người đã tán gia bại sản về môn TÀI XIỂU nầy.
- TÀI PHÚ âm Tiều Châu của từ TÀI HỘ 財護 là Bảo hộ Tài sản. TÀI PHÚ trong một Chành lúa hay Công ty tương đương như một Giám đốc Kinh doanh ngày nay, nhưng người Tài Phú còn kiêm luôn sổ sách kế toán của công ty nữa. Nên TÀI PHÚ thường là những người rất giỏi về kinh doanh, kế toán và cả chữ nghĩa nữa.
- TÀI XỒI âm Quảng Đông của từ ĐẠI TÀI 大材 là Vật liệu lớn. Ta có từ Cây BÚA TÀI XỒI là Cây búa lớn, nặng dùng để bửa những khúc gỗ to cho nhỏ lại để dễ chẻ thành củi.
- TÀU VỊ YỂU âm Tiều Châu của nhóm từ ĐẬU THỊ DU 豆豉油 là Chất dầu và nước cốt tiết ra từ đậu ủ tương, ta gọi là Nước Tương. Âm Quảng Đông gọi là XÌ DẦU 豉油, dùng để làm gia vị nêm nếm trong nấu nướng hoặc để chấm thức ăn cho đậm đà thêm.
- TANG XẠI âm Tiều Châu của từ ĐÔNG THÁI 冬菜 là Cải bẹ trắng ủ muối, rượu, gia vị... để dành ăn đông. Ta gọi là CẢI HỦ vì đựng trong một cái hủ tròn dẹp trông rất đẹp mắt, cũng thường được gọi là CẢI TANG XẠI.
- TÀO KÊ âm Tiều Châu của từ ĐẦU GIA 頭家 là Người đứng đầu trong một gia đình hay ngành nghề... TÀO KÊ có khi cũng có nghĩa giống như là từ ĐẦU NẬU ở phần trên. BÀ TÀO KÊ là bà Tú Bà trong các nhà chứa Gà Móng Đỏ đó.
- TÀO THƯNG âm Tiều Châu của từ ĐẬU THANG 豆湯 là Canh Đậu, tức là Chè Đậu Xanh nước dừa đường cát đó. (Xin mời đọc lại bài "Từ chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA" sẽ rõ ràng hơn).
- TẰNG KHẠO âm Tiều Châu của từ ĐỒNG KHÁO 同靠 là Cùng nương tựa lẫn nhau; ở đây chỉ Người Trưởng Nhóm, người Cai, Người "Sếp" của một nhóm, một toán công tác nào đó. Như "Anh ta là TẰNG KHẠO của chiếc ghe chài đó.”
- TẨY âm Quảng Đông của chữ ĐỂ 底 là Đáy, là cái Nền, cái Phong... Tấm bài còn lật úp trong kiểu chơi "Xì-Phé" gọi là BÀI TẨY. Vào quán nước kêu một cái TẨY tức là kêu một ly nước đá chỉ có đá cục chớ không có nước gì trong đó cả.
- TẨY CHAY âm Quảng Đông của từ ĐỂ CHẾ 抵制 là Chống cự đến cùng, Không chấp nhận hay dứt bỏ cái gì đó.
- TẨU âm Quảng Đông của chữ ĐẨU 斗 là cái Đấu, cũng dùng để chỉ cái ống thuốc, như DỌC TẨU là cái ống điếu dài.
- TÍA âm Tiều Châu của từ ĐA 爹 là Cha. Người Tiều kêu cha là A BA 阿爸 hay A TIA 阿爹. Dân Nam kỳ kêu theo, nên Cha Mẹ kêu là TÍA MÁ. Trong ca dao dân gian cũng có câu:
Con cò nó mổ con lươn.
Bớ chị ghe lườn muốn TÍA tôi hông?
TÍA tôi lịch sự quá chừng.
Cái lưng mốc thích cái đầu chôm bôm.
- TIÊU TÙNG âm Quảng Đông của chữ TIÊU TÙNG 消從 là Mất dấu đi theo, là mất hết cơ hội, là hết đường hy vọng. Lối chơi bài "Cát-Tê" khi tất cả bài đều bị lật úp, không có con bài nào lật ngửa cả. thì gọi là TIÊU TÙNG.
- TỈM XẤM âm Quảng Đông của từ ĐIỂM TÂM 點心 là ăn lót lòng lót dạ buổi sáng khi bụng còn trống.
- TỐ âm Quảng Đông của chữ ĐA 多 là Nhiều. Ta có từ TỐ CHÈ là ĐA TẠ 多謝 là Cám ơn nhiều lắm.
- TỤI âm Tiều Châu của chữ ĐỐI 對 là một Đôi. Trong phép đánh bài Tứ sắc là "Gần ăn xa TỤI.” Có nghĩa: Tay trên đánh xuống là GẦN thì mình có thể lấy một con bài xuống ăn; Còn nếu tay dưới hay ở ngang sông thì phải hô TỤI để giựt đôi.
- TỬNG âm Tiều Châu của chữ ĐƯỜNG 唐 là Đời Đường, chỉ người Hoa. Như XIN TỬNG là TÂN ĐƯỜNG 新唐 là Chàng thanh niên chân ướt chân ráo từ bên Tàu mới qua Việt Nam. CHÚ TỬNG cũng như CHÚ CHỆT từ dùng để chỉ một anh chàng người Hoa nào đó. Có thể do nhà Đường là triều đại hoàng kim rực rỡ của Trung Hoa, nên người Tiều Châu và Quảng Đông đều xưng mình là người đời Đường. Từ ĐƯỜNG NHÂN 唐人...
* Âm Tiều Châu là TỪNG NÁN 唐人(khi ghép từ, TỬNG đọc thành TỪNG).
*Âm Quảng Đông là THÒN DÀNH 唐人. Vì thế mà ta lại có một vở kịch, một tuồng hát Cải lương rất nổi tiếng và ăn khách là "TÌNH CHÚ THÒN" của nghệ sĩ Xuân Phát đã vang bóng một thời.
- TỬNG 當 âm Tiều Châu còn có nghĩa là Cầm cố, Sang nhượng... Như "Nó đã TỬNG một căn phố lầu.”
TH- THẦU KÊ âm Tiều Châu của từ ĐẦU GIA 頭家 là Người Đứng đầu trong nhà, là Chủ nhà, dùng rộng ra là Ông chủ của một tiệm buôn hay một cửa hàng.
- THẦU SÁNG âm Quảng Đông của từ ĐẦU SANH 頭生 là người đứng đầu trong nhóm người làm công trong tiệm, còn được đọc trại thành HẦU SÁNG.
- THẤU CẤY âm Quảng Đông của từ THÂU KÊ 偷雞 là Trộm gà, ý chỉ len lén làm việc gì đó cho người ta bất ngờ; Như thọt cù lét, đánh lén...
- THẦY NGÒN âm Quảng Đông của từ ĐỀ NGẠN 堤岸 là Trên bờ đê, chỉ vùng đất CHỢ LỚN. Người Hoa gọi Chợ Lớn là "THẦY NGÒN,” người Việt ta tưởng THẦY NGÒN là SÀI GÒN, nên dân Nam kỳ Lục tỉnh gọi "Đi SÀI GÒN" là "Đi THẦY GÒN.”
- THÈO LÈO âm Tiều Châu của từ TRÀ LIỆU 茶料 là Vật liệu dùng để uống trà, gồm có kẹo đậu phọng, kẹp mè trắng, kẹo mè đen, cốm gạo, cứt chuột (là những viên đậu phọng rang có áo một lớp đường ăn rất thơm ngon)... Đây cũng là vật liệu không thể thiếu khi cúng tiễn Táo Quân về chầu trời trong ngày 23 tháng Chạp Âm lịch, để Táo Quân ăn cho ngọt, báo cáo cho tốt về gia chủ.
- THÒ LÒ âm Quảng Đông của từ 陀螺 ĐÀ LOA là Con Vụ, con quay, là đồ chơi của trẻ em. Ta thường gọi là cái Bông Vụ hay Con Thò Lò.
- THỔI âm Quảng Đông của chữ ĐÀI 枱 là Cái Bàn. Ta có chữ XÀ THỔI 茶枱 là TRÀ ĐÀI là nơi có đặt nhiều cái bàn để cho người ta đến uống trà, nên XÀ THỔI là Quán Nước, là Tiệm bán Cà Phê.
- THÙNG PHÁ SẢNH âm Quảng Đông của nhóm từ ĐỒNG HOA THUẬN 同花順 là Cùng một loại hoa cùng màu và sắp theo đúng thứ tự từ nhỏ đến lớn hẳn hoi. Là con bài lớn nhất trong lối binh Xập Xám ăn đứt tất cả những con bài khác; Nhưng nếu cứ mê cờ bạc thì có ngày sẽ thành "THÙNG PHÁ SẢN" như chơi!
X- XA TẾ (SA TẾ) âm Tiều Châu của từ SA TRÀ 沙茶 là Một loại tương ớt được chế biến đặc biệt thơm ngon dùng trong gia vị và nước chấm, dĩ nhiên rất cay và cũng rất thơm ngon.
- XÁ LỊ âm Quảng Đông của từ SA LÊ 沙梨 là Trái Lê, vỏ vàng thịt xốp cho nhiều nước, ăn rất ngon. Nên loại ổi vừa xốp vừa dòn được gọi là ỔI XÁ LỊ là ỔI LÊ đó. Ý muốn nói Ổỉ mà ngon như Lê, nên mới gọi là ỔI XÁ LỊ.
- XÁ XÍU âm Quảng Đông của từ XOA THIÊU 叉燒, XOA là Cây chỉa (Quỷ Dạ Xoa là chữ XOA nầy), ở đây có nghĩa là Cây NĨA hay cây sắt có đầu nhọn dùng để ghim thịt. THIÊU là Đốt, là Quay, là Nướng. Nên XOA THIÊU (XÁ XÍU) là Thịt heo được ghim thành từng ghim hay móc vào móc sắt để nướng. Thịt thường dùng là thịt nạc vai, thịt nạc lưng... ướp mật ong, ngũ vị hương, xì dầu, chao, tương đen, bột màu điều và rượu... Thịt nướng xong có sắc đỏ nâu tươm mỡ trông rất ngon lành và lại bay mùi thơm phức. XÁ XÍU có thể cho ta thêm nhiều món ăn phụ như: Bánh bao Xá xíu, Bánh Mì Xá xíu, Cơm Xá xíu, Mì khô Xá xíu, Xôi Xá xíu...
- XẢO QUÈ âm Tiều Châu của từ SAO QUẢ 炒粿 là Bánh Bột Chiên. Bánh được hấp bằng bột gạo (có khi còn được độn khoai cao, khoai môn hoặc củ cải trắng vào trong bột). Bánh được xắt nhỏ thành từng miếng hình chữ nhật, rồi đem chiên trong chảo cho vàng 2 mặt, đoạn bỏ hành lá xắt nhỏ vào cho thơm, ăn sang thì đập thêm một quả trứng vào. Chiên xong xúc ra dĩa bỏ thêm ngò rí , tiêu lên mặt bánh cho thơm rồi chấm tương ớt, xì dầu là sẽ có một bữa ăn ngon miệng quên thôi.
- XẨM âm Quảng Đông của chữ THẨM 嬸 là Thiếm (vợ của Chú). XẨM còn là từ gọi chung tất cả những người đàn bà người Hoa đứng tuổi, như ta gọi Thím vậy. Và ta cũng có từ THIẾM XẨM để chỉ một người đàn bà người Hoa đứng tuổi nào đó. Còn BÀ XẨM thì chỉ lớn tuổi hơn, như phần trên đã nói: "Vào nhà BÀ XẨM để NHẨM XÀ!”
- XÂY CHỪNG âm Quảng Đông của từ TẾ CHỈNH 細整. TẾ là Nhỏ, CHỈNH là Hoàn chỉnh, ở đây có nghĩa là nguyên chất; Nên XÂY CHỪNG là "Ly cà phê nhỏ thuần chất,” ý nói "Chỉ thuần cà phê chớ không có thêm chất gì khác cả.” Nói tóm lại "XÂY CHỪNG là LY CÀ PHÊ ĐEN NHỎ.” Còn...
- XÂY NẠI là phát âm tiếng Quảng Đông của từ TẾ NÃI 細奶. TẾ là Nhỏ, NÃI là Sữa, nhưng XÂY NẠI không phải là "Ly sữa nhỏ"; Vì đó là cách nói gọn lại của ba chữ XÂY PHÉ NẠI 細啡奶. XÂY là Nhỏ, PHÉ là Cà phê, NẠI là Sữa. Nên XÂY PHÉ NẠI là "Cà phê sữa nhỏ,” nói gọn lại thành XÂY NẠI.
- XÂY BẠC XIỂU âm Quảng Đông của TẾ BẠCH TIỂU 細白小 là "Cà phê sữa nhỏ ít cà phê.”
- XÂY CÁ NẠI cũng là âm Quảng Đông của ba chữ TẾ GIA NÃI 細加奶. TẾ là Nhỏ, GIA Thêm, NÃI là Sữa; là nói gọn của nhóm chữ XÂY PHÉ CÁ NẠI 細啡加奶 là "Cà phê đen nhỏ thêm sữa,” là CÀ PHÊ SỮA NHỎ đó.
- XÂY LỦ CÓ âm Quảng Đông của nhóm từ TẾ LÃO CA 細佬哥 là Ông anh nhỏ, là Con nít. Mấy đứa con nít gọi là "Mấy đứa XÂY LỦ CÓ.”
- XẾ âm Quảng Đông của từ XA 車 là XE. Ta có từ TÀI XẾ là SỬ XA 駛車 là người sử dụng xe, là Người Lái Xe.
- XÍ âm Tiều Châu của chữ TỬ 死 là chết. XÍ LẮT LÉO 死了了 là Chết queo hết trơn.
- XÍ MUỘI âm Quảng Đông là XÍL MUỘI của từ TOAN MAI 酸莓 là Me chua. XÍ MUỘI mà ta ăn ở tiệm thuốc bắc rất mặn vì đã được ướp muối rồi.
- XÍ MỨNG âm Tiều Châu của từ TỨ MÔN là Bốn Cửa. Bốn cửa nhưng không ra cửa nào cả. VÕ XÍ MỨNG là Môn võ không giống ai cả. Nên XÍ MỨNG chỉ những việc làm bá láp bá xàm không giống ai cả.
- XÌ DẦU âm Quảng Đông của từ THỊ DU 豉油 là Nước Tương.
- XỈ KI âm Tiều Châu là TỨ CHI 四枝 là bốn cây. Một tình huống trong bài Tứ Sắc, Thay vì Tướng sĩ tượng hay Xe pháo ngựa thì đủ bộ 3 cây rồi, đằng nầy lại có đến 2 con xe, 2 con pháo hay 2 con ngựa, nên tới 4 cây lận, cần phải tề bỏ một cây cho nó liền bài.
- XƯNG XÁO hay SƯƠNG SÁO âm Tiều Châu là XENG XÁO của chữ TIÊN THẢO 仙草 là Dược thảo của Tiên, nấu xong đặc lại như thạch có màu đen, nên còn gọi là THẠCH ĐEN. Sách vở gọi là SƯƠNG SÁO, bình dân kêu là XƯNG XÁO, được cho là có tính mát, giúp hạ huyết áp, trị cảm mạo, đau khớp...
- XỨNG XÁI âm Tiều Châu của từ TOÁN THÁI 算睬 là Không tính rõ ràng, là cho qua một cách hoa loa, như câu nói "XỨNG XÁI Bò lái bò khự" là "Xí Xoá chớ không tính qua tính lại gì cả!”
- XÍL XÁN âm Quảng Đông của từ TIÊN SINH 先生 là Thầy, là Ông theo phép lịch sự, nhưng thầy dạy mình học cũng gọi là XÍL XÁN được nữa.
- XÍU MẠI âm Quảng Đông của từ THIÊU MẠI 燒賣. Một loại thức ăn Điểm Tâm buổi sáng của người Quảng Đông; Có 2 loại: Xíu Mại Khô, thịt bằm, củ sắn được ướp thêm gia vị và được bọc bằng một lớp vỏ bột mì màu vàng; Xíu Mại Nước, không có bọc vỏ, được chưng cách thuỷ trong một cái dỉa nhỏ. Hai loại KHÔ và NƯỚC nầy thường được ăn với "Dầu-Chá-Quẩy" hay bánh mì đều rất ngon... Ta có chữ XÍU DỤC 燒肉 là Thịt heo quay, XÍU ẠP 燒鴨 là Vịt quay.
- XÒ âm Quảng Đông của chữ XỌA 傻 là Khờ là khùng. XÒ CHẨY 傻仔 là Thằng ngu, thằng khờ, thằng Khùng.
- XỰC âm Quảng Đông của chữ THỰC 食 là Ăn. XỰC FÀL 食飯 là Ăn cơm; XỰC CHÚC 食粥 là Ăn Cháo; XỰC YẸ 食嘢 là Ăn đồ (Ăn vặc)...
- XƯỜNG XÁM âm Quảng Đông của từ TRƯỜNG SAM 長衫 là Áo dài Tàu của các cô nương Tàu mặc khi đi dự lễ hội hoặc Tết nhứt.
Cuối cùng ta có câu thiệu của các em bé khi chơi trò "XÌN XẦM" giống như là "Oảnh-Tù-Tì" sau này vậy:
"XÌN XẦM CÔ PÁO CHỈN CÔ CHẬP" (tiếng Quảng Đông)
- Cô PÁO là Cái Bao;
- CHỈN là Cây kéo;
- CÔ CHẬP là Cây Búa đập.
Và...
Một câu ca dao Nam bộ của Đồng bằng sông Cửu Long với sông ngòi chằng chịt như tình yêu mộc mạc chất phác, nhưng cũng không kém phần tha thiết của một chàng trai người Tiều Châu và một cô gái quê Việt Nam như sau:
Dù cho "hổ lái huang tùa,”
"A Hia phề chúng khư uà" thăm em!
Có nghĩa:
Dù cho mưa lớn gió to,
Anh cũng bơi xuồng ra đó thăm em!
Chỉ là những góp nhặt những gì chung quanh cuộc sống thực tế từ nhỏ đến lớn của một người được sanh ra và lớn lên ở xã Thưởng Thạnh, huyện Châu Thành, Thị trấn Cái Răng của tỉnh Phong Dinh ngày xưa mà thôi.
Rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo cho những gì còn sai sót.
Chân thành CẢM TẠ trước!
Đỗ Chiêu Đức
Trần Văn Giang (ghi lại)
Bàn ra tán vào (0)
Các tin đã đăng
- Chữ “VIỆT” trong chữ “VIỆT NAM” - by Lê Văn Ẩn / Trần Văn Giang (ghi lại).
- "Chế độ cộng sản đã đến lúc phải cáo chung" - by Nguyễn Gia Kiểng / Trần Văn Giang (ghi lại).
- "Phật giáo: Tôn giáo hay triết học?" - by Trần Văn Giang (st).
- Dự báo các sự kiện nổi bật trên thế giới trong năm 2023
- Drones tại Ukraine – Trần Lý ( TVQ chuyển )
"Tiếng VIỆT có gốc QUẢNG ĐÔNG & TRIỀU CHÂU" - by Đỗ Chiêu Đức / Trần Văn Giang (ghi lại).
Người Minh Hương, người Hoa ở Việt Nam gốc Quảng Đông, Triều Châu, Phước Kiến, Hẹ (*), đã sống ở Việt Nam như người Việt Nam thuần túy. Họ đã hòa nhập một cách hồn nhiên, tích cực (như học tiếng Việt và lập gia đình với người Việt), làm mọi nghề để nhận nơi nầy làm quê hương. Đồng thời ngôn ngữ của họ đã có nhiều ảnh hưởng đến tiếng Việt như được ghi lại qua bài biên khảo rất lý thú (với nhiều ngạc nhiên!) của Tiên sinh Đỗ Chiêu Đức dưới đây.
Mời đọc...
(*) Người Minh Hương khác với "Hoa kiều." Hoa kiều là người Hoa ở Việt Nam không nhập quốc tịch Việt...
TVG
*
Trong quá trình hòa nhập vào cuộc sống của Việt Nam, những người Minh Hương đã sống tích cực như một người Việt Nam thuần túy, họ làm tất cả các ngành nghề mà người Việt bản xứ đã làm và sống hòa nhập một cách hồn nhiên tích cực để nhận nơi nầy làm quê hương; Và một trong cách sống hoà nhập phải nói "Hòa nhập nhất" là lấy vợ Việt Nam, sanh con đẻ cái trên mảnh đất tạm dung mà họ đã chấp nhận là "Quê hương thứ hai" nầy, kể cả việc đi vào những vùng sâu vùng xa để khai hoang lập ấp và lao động cật lực với ruộng vườn rẫy bái... Nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long của Nam kỳ Lục tỉnh với hệ thống sông ngòi chằng chịt và khí hậu thiên nhiên ưu đãi, như bà con thường kháo nhau "Chỉ cần có cái quần 'xà-lỏn' là có thể sống quanh năm"; Còn bà con người Hoa (Minh hương) thì cho rằng vùng đất thiên nhiên của Miền Nam là vùng "Ngư Mễ Chi Địa 魚米之地" hay nói một cách thân thương hơn là "Ngư Mễ Chi Hương 魚米之鄉" nghĩa là "Quê hương của CÁ và GẠO”; Có nghĩa là vì thiên nhiên ưu đãi với khí hậu và sông ngòi chằng chịt, nên đời sống rất dễ dàng dễ chịu. Sông ngòi khắp nơi nên cá tôm có khắp nơi, khí hậu ưu đãi nên không biết rét mướt là gì. Có nghĩa sống quanh năm mà không phải lo gì đến cơ hàn đói lạnh cả!
Từ năm Kỷ Mùi (1679), vì không muốn quy phục nhà Thanh, bốn vị tướng nhà Minh đã đem hơn 3.000 người cùng 50 chiếc thuyền từ Quảng Đông (Trung Quốc) vào hai cửa biển của Việt Nam xin qui phục. Nghe theo lời bàn của triều thần, chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho họ vào khai khẩn những vùng đất ở phía Nam. Từ đó, nhóm người Hoa này đã vỡ đất phá hoang, cày ruộng, dựng nhà và phố chợ, buôn bán với thương nhân đến từ nhiều nước khác... và dần dần hình thành nên một trong những khu phố Hoa kiều lớn nhất trên thế giới như Sài Gòn Chợ Lớn.
Bỏ qua quá trình về lịch sử phát triển của người Hoa ở Việt Nam, chỉ nói thêm một chút về "Ngũ Bang 五邦" của người Hoa ở Gài Gòn Chợ Lớn:
- Người Phước Kiến 福建thuộc tỉnh Phúc Kiến,
- Người Quảng Đông 廣東,
- Người Triều Châu 潮州,
- Người Hải Nam 海南,
- Người Hẹ (khách gia 客家), thuộc tỉnh QUẢNG ĐÔNG 廣東省 (Hải Nam trước mắt là một đơn vị hành chánh độc lập).
Người Quảng Đông giỏi buôn bán kinh doanh, nên hiện diện đầy cả Chợ cũ Sài gòn và Chợ Lớn Mới; Người Hẹ (còn gọi là Khách Gia 客家) giỏi nghề thầy thuốc, trị bệnh; Người Phước Kiến thường theo nghề dạy học, xuất nhập khẩu; Người Hải Nam làm các nghề dịch vụ như mở quán nước, nhuộm đồ vải, bịt răng… Người Triều Châu, còn gọi là người Tiều Châu và gọi cho gọn lại là Người Tiều, thì đa số làm ruộng làm rẫy, nên thường sống ở vùng ngoại ô như Phú Lâm, Lục Tỉnh như Sóc trăng, Bạc Liêu. Ta thường nghe câu hát:
Bạc Liêu là xứ cơ cầu,
Dưới sông cá chốt, Tiều Châu trên bờ!
hay như:
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu!
Cho thấy quần thể người Tiều Châu sống ở khắp cùng vùng sâu vùng xa thành phố, và sống rất khắc khổ, chịu thương chịu khó trong công việc đồng áng. Cũng chính người Tiều Châu hòa nhập vào cuộc sống nông thôn của người Việt Nam nhiều nhất, sớm nhất và đông nhất; Cũng như người Quảng Đông là quần thể sống về nghề buôn bán và công kỹ nghệ nên thường tập trung ở các thành thị chợ búa đông đúc. Như trước năm 1975, người Việt vào Chợ Lớn buôn bán cũng phải học nói tiếng Quảng Đông nếu như muốn "business" của mình được thuận lợi suông sẻ.
Nên dân chúng miền Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long của vùng Nam kỳ Lục tỉnh nói riêng, khi trao đổi giao tiếp trong ngôn ngữ thường lẫn lộn rất nhiều từ ngữ mang âm sắc của tiếng Tiều Châu và Tiếng Quảng Đông như trong các bài Tạp ghi và Phiếm luận của Đỗ Chiêu Đức: "Từ Chè Tào thưng đến Bò bía,” "Uống Xây chừng đái ra Xây Nại,” "Dzách cô xíu mại, lượng cô Tài Páo...”
Thể theo lời yêu cầu của các thân hữu, sau đây là...
BẢNG LIỆT KÊ NHỮNG CHỮ TIẾNG VIỆT
Có Gốc TIỀU CHÂU (T) và QUẢNG ĐÔNG (Q)
*
A- A 阿 là Tiếp đầu ngữ của cả tiếng Tiều và tiếng Quảng dùng để gọi người từ nhỏ đến lớn, như:
- A Mủi 阿妹, A Ché 阿姊 (Q) là Em gái, Chị gái.
- A Mùi 阿妹, A Chế 阿姊 (T) là Em gái, Chị gái.
- A Tỷ 阿弟, A Hia 阿兄 (T) là Em trai, Anh trai. Ta hay gọi là "Thằng Tỷ.”
- A Xúc 阿叔, A Xẩm 阿嬸 (Q) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là "Thiếm Xẩm.”
- A Chệt 阿叔, A Xiếm 阿嬸 (T) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là "Chú Chệt.”
- A Pá 阿爸, A Má 阿媽 (Q); A Pa 阿爸, A Má 阿媽 (T) là Ba, Má. Còn gọi là Pà Pá, Mà Má.
- A Coon 阿公, A Mắ 阿嬤 (T) là Ông nội, Bà nội.
- A Dè 阿爺, A Mà 阿嬤 (Q) là Ông nội, Bà nội.
- A Cúng 阿公, A Phò 阿婆 (Q) Ông ngoại, Bà ngoại. "Bà già Phò" là Bà ngoại đó.
Đặc biệt những con vật trong Lục súc sống gần gũi với con người cũng được dùng Tiếp đầu ngữ A 阿 để gọi, như:
- A Cẩu 阿狗 (Q) là con Chó. "A CẨU" cũng dùng để gọi người có tên CẨU.
- A Ngầu 阿牛 (Q) là con Trâu, con Bò. "A NGẦU" cũng dùng để gọi người có tên NGẦU.
Á. Á Phiện 鴉片 (T) đọc trại âm Tiều Châu là "A-Phẹn,” âm Hán Việt là NHA PHIẾN (tên khoa học là Lachryma papaveris). Một chất ma túy có gốc là mủ khô thu được từ vỏ mầm của cây anh túc hay cây thẩu Papaver somniferum thuộc họ Anh túc (Papaveraceae).
Ta có câu đối rất hay về Á Phiện ở một tiệm hút của Thị Trấn Cái Răng xưa như sau:
鴉片三分,蓋世英雄歸絕路; Nha phiến tam phân, cái thế anh hùng quy tuyệt lộ;
嫖賭二項,風流子弟入窮途。 Phiêu đổ nhị hạng, phong lưu tử đệ nhập cùng đồ.
Có nghĩa:
- Chỉ cần ba phân Á phiện thôi cũng đủ làm cho anh hùng cái thế đi đến con đường tuyệt lộ; Còn...
- Hai thứ chơi bời và cờ bạc, sẽ đưa con em phong lưu phóng đãng vào bước đường cùng!
B- BA là âm "A PA 阿爸" của Tiều Châu chỉ người CHA; Ta gọi theo là BA.
- BẠC là âm Quảng Đông của từ BẠCh là Trắng. Ta có từ:
- BẠC TẨY 白底 (Q) Ly nước đá cục, chưa có nước gì trong đó cả. Tùy theo tình huống, "Bạc Tẩy" cũng có thể là ly sữa nước sôi.
- BẠC XIỂU PHÉ 白小啡 (Q) là Cà Phê sữa nhỏ ít cà phê.
- BẢO KÊ là âm Tiều Châu "Bỏ Kê" được đọc trại ra của từ BẢO GIA 保家 là "Nhà Bảo Đảm.” Có BẢO KÊ tức là có ai đó Bảo đảm, có người chịu trách nhiệm.
- BẬU (????" có nghĩa là Vợ, là em gái. Âm địa phương của Tiều Châu là "BẤU.” Người chồng Tiều Châu gọi vợ Việt Nam là BẬU. BẬU trong tiếng Tiều Châu còn có nghĩa là CÔ GÁI, là "Cha-Bấu 㜁 (????)" là Con gái.
- BÍA 餅 (T) âm Hán Việt là BỈNH, có nghĩa là BÁNH, thường gọi là "Bánh Bía" hay "Bánh Pía,” "Bánh Mì-Sủi" là loại bánh ăn dặm để uống cà phê vào buổi trưa.
- BÍM hay BÍNH âm Quảng Đông là BÍL, chữ Nho là BIỆN TỬ 辮子 là Tóc kết Đuôi Sam, bình dân gọi là "Thắt Bính."
- BINH XẬP XÁM (Q) là một kiểu chơi bài của người Quảng Đông. XẬP XÁM là âm Quảng Đông của từ THẬP TAM 十三 là Mười ba. Chia bộ bài 52 lá ra làm 4 tụ. Mỗi tụ 13 lá chia làm 3 chi: Đầu, giữa và cuối; Rồi so nhau xem bài nào lớn thì thắng.
- BÒ BÍA (T) là BẠC BỈNH 薄餅: BẠC là Mỏng; BỈNH là Bánh; là một loại bánh mỏng. Có hai loại: Loại ngọt và loại mặn. Loại ngọt tráng bằng bột bắp gói kẹo mạch nha sốp rắc thêm mè đen mè trắng và dừa xác nạo mỏng, ăn rất ngon rất bắt, ăn hoài không chán. Loại mặn là bánh tráng nem của ta gói củ sắn sắt sợi xào với tôm khô, thêm trứng và lạp xưởng vào cùng với vài lá rau quế, cuốn tròn lại chấm với tương ớt, ăn quên thôi. Thường thấy các chú Ba đẫy xe bán ở trước các cửa trường học cho học sinh thích ăn hàng vặt.
- BÒ HÓ NÁNG là âm Tiều Châu của nhóm từ BẤT HẢO NHÂN 不好人 có nghĩa là: Người không tốt, người xấu.
- BỐ TỜI là đọc trại âm Tiều Châu "BỐ-TÒ" của từ BỐ ĐẠI 布袋 là cái túi bằng vải, còn được gọi là cái BAO BỐ TỜI.
C- CAI âm Quảng Đông của từ GIỚI 戒 là Cấm đoán, Từ Bỏ. Như CAI Thuốc, CAI Rượu là Bỏ Thuốc Bỏ Rượu, không hút thuốc không uống rượu nữa. Ta có từ CAI NGHIỆN là Từ bỏ cái tật ghiền cái gì đó.
- CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO 絞 là: Dặn theo chiều ngược kim đồng hồ, như "CẢO con tán bị dính cứng lâu ngày ra.”
- CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO 餃 là: Bánh quai vạc, như SỦI CẢO 水餃 là Bánh quai vạc nước. Khi chiên lên để ăn cho giòn là "CHÍL CẢO 煎絞,” còn khi được nấu chung với mì sợi thì gọi là CẢO MÌN 餃麵.
- CẢO HÚ âm Tiều Châu của từ CÂU PHÓ 夠副 là Đủ Bộ. Một loại bài tứ sắc cây lớn với cách chơi gom cho đủ bốn màu của các con bài giống nhau cho đủ bộ. Như: Đánh Tứ Sắc chán rồi thì đánh Cảo Hú.
- CẤY âm Quảng Đông của từ KÊ 雞 là Con GÀ. Ta có từ TẢ CẤY 打雞 là ĐẢ KÊ, nhưng không có nghĩa là "Đánh Gà,” mà là "Đi Chơi Bời.” Có thể vì cách nói nầy của người Quảng Đông mà ta có từ "Gà Móng Đỏ" để chỉ các cô gái cô gái làng chơi chăng ?!
- CÔ âm Tiều Châu của từ CÔ 姑 là Chị em gái của Ba. A CÔ 阿姑 A TỈA 阿丈 là từ dùng để gọi CÔ và DƯỢNG (chồng của Cô).
- CÓN âm Quảng Đông của từ QUANG 光 là Sáng. Ta hay nói: Cái đầu sói (hói) không có tóc LÁNG CÓN là chữ CÓN nầy. Láng Cón là Láng bóng lên.
- CỐNG HỈ PHAT SỒI là âm Quảng Đông của lời chúc Tết: CUNG HỈ PHÁT TÀI 恭喜發財, còn được đọc là CÚNG HỈ FAT XỒI: Năm mới cùng mừng nhau phát tài.
- CÚ âm Quảng Đông của từ CAO 高. Ta thường nghe gọi những người cao nhồng là CÚ LỦ 高佬. Như CÚ LỦ Yao Ming 姚明 (cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của Trung Quốc, cao 2,29m).
- CÙ LỦ âm Quảng Đông của từ PHÙ LÃO 扶佬 là một trong các cấp ăn thua của lối chơi bài "Xập Xám Chướng 十三張"(Bài 13 lá), gồm có Một đôi và Ba cây giống nhau. Người Quảng đọc là PHÙ LỦ, ta nói trại thành CÙ LỦ.
- CỦ âm Tiều Châu của từ CỮU 舅 là Cậu, anh em trai của má. Người Tiều gọi Cậu Mợ là A CỦ 阿舅, A KIỂM 阿妗.
- CŨ âm Tiều Châu của từ CỔ 古 là Cũ là Xưa. Ta thường hay sử dụng từ CŨ XÌ là âm Hán Việt của từ CỔ THÌ 古時 là Hồi xưa, là Cũ lắm rồi!
- CHÀNH âm Tiều Châu của từ SẠN 棧 là cái kho chứa. Ta hay nghe từ CHÀNH LÚA là Cái kho chứa lúa, là nơi chuyên kinh doanh về lúa gạo. Thường thì CHÀNH LÚA ở sát bên Nhà Máy Xay Lúa.
- CHẠP PHÔ âm Quảng Đông của từ TẠP HÓA 雜貨 là đồ linh tinh tạp nhạp trong cuộc sống hằng ngày. Ta có từ TIỆM CHẠP PHÔ là Tiệm Tạp Hóa đó.
- CHAY âm Quảng Đông của từ TRAI 齋 là Trai giới, là nơi học tập hay tu tập. Người Quảng nói XỰC CHÁY 吃齋 là ĂN CHAY. "Liêu Trai Chí Dị" của Bồ Tùng Linh cũng là chữ TRAI nầy; có nghĩa: Ghi lại những chuyện lạ nơi phòng học vắng vẻ.
- CHỆT âm Tiều Châu của từ THÚC 叔 là Chú, là em trai của ba. Gọi Chú Thiếm là A Chệt 阿叔, A Xiếm 阿嬸. Từ THIẾM là do âm Tiều Châu "A Xiếm" nói trại mà ra; Còn Chú là Chệt, thì ta lại có từ kép là CHÚ CHỆT để chỉ chung cho tất cả những người Hoa Phái Nam.
- CHÍ MÀ PHỦ âm Quảng Đông của nhóm từ CHI MA HỒ 芝麻糊. CHI MA là Mè (vừng), HỒ là chất sệt dính; nên CHI MA HỒ là Chè Mè Đen rang thơm mè rồi nấu với bột Tapioca của người Quảng Đông, Việt Nam ta lại rắc thêm dừa nạo hay chan thêm một muỗng nước cốt dừa màu trắng lên trên trông đẹp mắt mà ăn lại béo hơn ngon hơn.
- CHÍ QUÁCH âm Quảng Đông của từ TRƯ CỐT 豬骨 là Xương heo. Ta đọc trại đi thành "Xí QUÁCH" là những khúc xương heo được nấu trong nồi súp hủ tiếu mì, các bợm nhậu rất thích vì nhậu rất bắt. Trong XÍ QUÁCH lại có cả TỦY ở trong đó, mà TỦY là tinh lực của xương và là sinh lực của con người, nên khi lao động quá mỏi mệt thì người ta hay than là "Hết Xí Quách rồi!"
- CHÍA âm Tiều Châu của từ THỰC 食 là Ăn. Nhưng vì là thanh Trắc nên khi ghép với các từ khác thường được chuyển thành thanh Bằng. Như câu "CHÌA MÍ CÁI ?" là Ăn cái gì ? CHÌA BỪNG là Ăn Cơm; CHÌA MÚI là Ăn Cháo... Ta lại thường nghe câu nói vui là "CHÌA BỪNG, CHÌA MÚI, CHÌA CHUỐI, CHÌA... KHOAI LANG!..."
D- DZÁCH âm Quảng Đông của chữ NHỨT 一 là số 1. Ta thường dùng từ SỐ DZÁCH để chỉ cái gì đó rất tốt, là hảo hạng, là không có gì hơn được.
- DZÁCH CÔ âm Quảng Đông của từ NHẤT CÁ 一個 là Một người, một cái... gì đó, như câu "order": "DZÁCH CÔ xíu mại, LƯỢNG CÔ Tài Páo" có nghĩa là "Một cái xíu mại, hai cái bánh bao lớn.”
- DZÁCH LẦU âm Quảng Đông của từ NHẤT LƯU 一流 là Hạng Nhất.
- DÀNH âm Quảng Đông của từ NHÂN 人 là Người. DZÁCH CÔ DÀNH 一個人 là Một Người.Ta thường nghe câu nói chơi cho vui là: DZÁCH CÔ DÀNH XỰC DZÁCH CÔ... XƯỜNG TẠI; có nghĩa: Mỗi môt người ăn một trái... Xoài Tượng!
- DẦU âm Quảng Đông của từ DU 油 là Dầu mỡ. Ta có từ DẦU CHÁ QUẢY 油炸檜 là DU TẠC CỐI là một loại Bánh bột chiên có hai cọng dính liền nhau, tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối đã hạm hại trung thần Nhạc Phi, nên bị bỏ vào chảo dầu chiên giòn để cắn ăn cho hả giận.
DẦU CHÁ QUẢY còn được gọi trại đi thành GIÒ CHÁ QUẪY.
- DÍ âm Quảng Đông của từ DI 姨 là Dì, là chị và em gái của má. Người Quảng Đông gọi Dì Dượng là A DÍ 阿姨, A CHẺNG 阿丈.
- DỤ KHỊ âm Quảng Đông của từ DỤ KỲ 諭其. DỤ là Phủ dụ, là nói lời ngon ngọt; KỲ là ngôi thứ ba phiếm chỉ người nào đó; Nên "Nói lời ngon ngọt để dụ dỗ một người nào đó" thì gọi là DỤ KHỊ.
- DÈNG CHẤU XẢO FÀN là âm Quảng Đông của nhóm từ DƯƠNG CHÂU SAO PHẠN 揚州炒飯 là Cơm Rang Dương Châu, là Cơm được rang theo kiểu thành phố Dương Châu ở Trung Quốc. Ta còn gọi là CƠM CHIÊN DƯƠNG CHÂU.
- ĐẦU NẬU âm đọc trại tiếng Quảng Đông "THẦU NỤ" là ĐẦU NÃO 頭腦: Đầu và Não là hai cơ quan dứng đầu và cao nhất trong con người, nên "ĐẦU NẬU" là từ dùng để chỉ người có đầu óc chỉ huy, đứng đầu một băng nhóm hay một ngành nghề... nào đó.
H- HÁ âm Quảng Đông của từ HÀ 蝦 là Tôm, Tép. Từ thường dùng đặt tên cho những đứa con khó nuôi, như XÚ HÁ 廋蝦 là Con tép ốm. Ta có từ "Xấu Hái" khó nuôi.
- HÁ CẢO âm Quảng Đông của từ HÀ GIẢO 蝦餃 là loại bánh quai vạc nhỏ bằng bột "tapioca" trong bọc tôm thịt, như viên "Xíu mại" nhưng có màu trắng vì lớp bột tapioca bên ngoài.
- HẮC-ÍN âm Quảng Đông của từ HẮC YÊN 黑煙 là Khói đen; Ở đây chỉ lớp nhựa đen để tráng đường đi.
- HÀM BÀ LẰNG âm Quảng Đông của nhóm từ HÀM VÔ LUẬN 含無論 là Bất kể, là Bao gồm tất cả, là Tổng cộng, là Gộp hết lại.
- HẦU BAO âm Quảng Đông của từ HÀ BAO 荷包 là Ví tiền, là Túi đựng tiền, là cái Bóp tiền. Mở Hầu Bao ra là mở ví tiền ra để... làm gì đó.
- HẦU SÁNG âm Quảng Đông của từ HẬU SINH 候生 là Người Bồi bàn trong các quán ăn. Trong các cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn rất hay nhắc đến từ HẦU SÁNG nầy.
- HẨU XỰC âm Quảng Đông của từ HẢO NGẬT 好吃 là Ăn Ngon, là Ngon. Như khen "món đó Hẩu Xực,” có nghĩa Món đó rất ngon.
- HÒ XỪ XANG XÊ CỐNG âm Quảng Đông của nhóm từ HÀ SĨ THƯỢNG XÍCH CÔNG 何士上尺工 là Ngũ Âm trong âm nhạc cổ điển Việt Nam ta.
- HOÀNH THÁNH âm Quảng Đông cùa từ VÂN THÔN 雲吞 là Nuốt Mây: Chỉ những thịt heo bầm được bóp lại trong một miếng bột mì hình vuông màu vàng, khi luộc chín những cánh bột bung ra trông như những cục mây nho nhỏ, nấu trong nước súp bỏ thêm xà lách, hành ngò, dùng muỗng múc từng cục bỏ vào miệng như nuốt những cục mây, rất thơm ngon. Còn được gọi là MÌ THÁNH; Người miền Bắc đọc trại đi thành VẰN THẮN. Nấu chung với mì thành HOÀNH THÁNH MÌ, là VẰN THẮN MÌ là món ăn sáng vừa no vừa ngon của các tiệm nước người Hoa ngày xưa.
- HỘP âm Quảng Đông của chữ HẠP 盒 là Cái Hộp để đựng đồ.
- HÙNG âm Quảng Đông của chữ HỒNG 紅 là Màu đỏ. Ta có từ HÙNG TẨU SÁ 紅豆沙 là Chè Đậu Đỏ.
- HỦ TÍU âm Tiều Châu của từ QỦA ĐIỀU 粿條 là Bánh sợi. Những sợi bánh được làm bằng bột gạo của người Tiều Châu, được nấu trong nước súp xương, với hành ngò giá hẹ, trên thêm vài lát thịt heo mỏng, môt miếng tôm chiên dòn, là ta có một tô Hủ Tíu ngon lành. Âm Tiều Châu chánh gốc là CỦI TÉO, bị đọc trại thành HỦ TÍU, CỦ TÍU, PHỞ TÍU... "HỦ TÍU GÕ" là loại Hủ tíu bình dân được người bán bưng đến tận nhà dù ở trong hẽm nhỏ, thường được nấu trên các xe Hủ tíu bình dân được đẩy đi đến tất cả hang cùn ngỏ hẽm.
- HUI NHỊ TÌ âm Quảng Đông của nhóm từ KHỨ NGHĨA ĐỊA 去義地 là Đi vào nghĩa địa, là chết đó. Nói như: "Nó hui Nhị tì rồi" là Nó đã chết rồi đó.
- HỤI âm Tiều Châu của từ HỘI 會 là Hôi họp. HỤI còn là Danh từ chỉ môt nhóm người hội họp lại để cùng giúp đỡ nhau về mặt tài chánh, gọi là CHƠI HỤI. Như quy định mỗi tháng họp một lần, mỗi người phải bỏ ra một ngàn cho một người nào đó lấy đem về chi dụng trước, tháng sau thì đến lược người khác đem về, người được đem tiền về gọi là ĐI HỐT HỤI... Khi đi bốc thăm xem tháng nầy ai được đem tiền về gọi là ĐI KHUI HỤI. Người cuối cùng được đem tiền về gọi là "HỐT HỤI CHÓT.” Thường thì cũng có GIAO KÈO CHƠI HỤI hẵn hoi.
K- KỈ TỐ âm Quảng Đông của từ KỶ ĐA 幾多 là Bao nhiêu ? Là Nghi vấn tự thường dùng để hỏi. Như KỶ TỐ LÚI? là "Bao nhiêu tiền vậy?”
- KHUI âm Tiều Châu chủa chữ KHAI 開 là Mở ra. Như từ KHUI HỤI ở trên, ngoài ra ta còn có từ KHUI KHẠP trong bài Tứ sắc, KHUI đồ họp, KHUI thùng hàng... KHUI RA là Mở ra, còn có nghĩa là Khai ra việc gì đó.
L- LẠP CHẠP âm Quảng Đông của từ LẠP SẮC 垃圾 là Rác rưởi. Ta đọc trại đi thành LẠP XẠP, nên có từ XẠP XẠP THỦNG 垃圾桶 là Thùng xúc rác, cái gì cũng chứa cả! Ta hay nghe nói: "Thằng đó nó ăn như cái LẠP XẠP THỦNG vậy!.”
- LẠP CHÚC âm Quảng Đông mà cũng là âm VIỆT HÁN của chữ LẠP CHÚC 蠟燭. LẠP nầy có bộ TRÙNG 虫 là Sâu bọ bên trái, nên có nghĩa là Sáp của con ong; CHÚC là Đuốc. LẠP CHÚC là "Cây đuốc bằng sáp" là cây "Đèn Cầy, Đèn Sáp." Bà con miền Bắc thì gọi là Cây NẾN. Nói đến LẠP CHÚC làm cho ta lại nhớ đến hai câu thơ trong bài thơ TẶNG BIỆT 贈別 nổi tiếng của Đỗ Mục đời Đường là:
蠟燭有心還惜別, LẠP CHÚC hữu tâm hoàn tích biệt,
替人垂淚到天明。 Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh.
Có nghĩa:
Nến bởi có lòng nên cũng tiếc,
Thay người nhỏ lệ đến bình minh!
- LẠP XƯỞNG âm Quảng Đông của từ LẠP TRƯỜNG 臘腸. LẠP nầy có bộ NHỤC 肉 được viết cách điệu như chữ NGUYỆT 月 ở bên trái, nên có nghĩa là Thịt phơi khô dùng để cúng tế cuối năm; TRƯỜNG là Ruột. Nên LẠP XƯỞNG là thịt heo xắt nhỏ ướp gia vị dồn vào trong ruột heo để phơi khô dùng cho cuối năm. Ta có các từ LẠP DỤC 臘肉 là Thịt ướp khô, LẠP ẠP 臘鴨 là Vịt ướp khô... là những món ngon thường thấy ở cuối năm khi gần đến Tết Âm lịch. LẠP XƯỞNG còn được đọc trại đi thành LẠP XƯỜNG.
- LẨU âm Quảng Đông của chữ LÔ 爐 là Cái Lò. Kiểu ăn cho ấm của mùa đông. Bắt nồi súp lên cái lò để trên bàn rồi nhúng những đồ ăn còn sống vào đó, vừa chín là gắp ra ăn ngay, vừa nóng vừa ngon. Kiểu ăn nầy gọi cho đủ là TẢ BÍL LÙ 打邊爐 là ĐẢ BIÊN LÔ, có nghĩa là "Bắt một cái lò bên cạnh" để nhúng vào đó mà ăn.
- LẬU âm Quảng Đông của từ LIỄU 柳 là Cây Liễu. Do thành ngữ TẦM HOA VẤN LIỄU 尋花問柳 là "Tìm hoa hỏi liễu" chỉ các con em phong lưu đi tìm hỏi các nhà chứa để chơi bời; nên bệnh do quan hệ tình dục bừa bãi mang đến được gọi cho hoa mỹ là BỆNH HOA LIỄU, âm Quảng Đông là PHÁ LẬU BÈN là Hoa Liễu Bệnh 花柳病; giới bình dân gọi cho gọn lại là "Bệnh Lậu.” LẬU 漏 từ Hán Việt còn có nghĩa là RỈ ra, chỉ bộ phận sinh dục đi tiểu khó khăn, phải rỉ ra từng chút một rất đau đớn, vì chơi bời bị bịnh Lậu mũ nên có "pyuria."
- LEN âm Quảng Đông là đẹp đẽ trắng trẻo. LEN CHẨY 倩仔 là Anh chàng trắng trẻo đẹp trai. LEN CHẨY cũng là ly sữa nước sôi trắng tinh không có cà phê trong quán nước. HỦ LEN (Q) là Rất đẹp, rất tốt.
- LÌ XÌ âm Quảng Đông của từ LỢI THỊ 利市 là Cái lợi từ chợ búa mà ra. Năm mới tặng tiền cho ai đó mong rằng sẽ có thêm nhiều lợi tức từ thị trường mà ra trong năm tới. Tiền đó được bỏ trong một cái bao màu đỏ, gọi là TIỀN LÌ XÌ. Sau nầy hễ lễ lộc hội hè... tặng tiền cho ai đó đều được gọi là tiền Lì Xì cả.
- LỤ âm Quảng Đông của chữ LÃO 老 là Gìa. Dùng cho cả Nam nữ, như:
LỤ MỤ âm Quảng Đông của từ LÃO MẪU 老母 là Bà mẹ già.
LỤ BẢL âm Quảng Đông của từ LÃO BẢN 老板 là Ông Chủ.
- LỤC TẦU XÁ âm Quảng Đông của từ LỤC ĐẬU SA 綠豆沙 là Chè Đậu xanh nước dừa đường cát, còn được đọc là LỤC TẨU XÁ.
- LỨ âm Tiều Châu của chữ NỄ 你 là Ngôi thứ hai số ít của Danh xưng đại danh từ, có nghĩa là: Ông, Anh, Mầy.
M- MÁ CHÍNH âm Quảng Đông của từ MÃI CHỨNG 買證 là người đứng trung gian chịu trách nhiệm giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài khi hai công ty trong và ngoài nước giao dịch buôn bán và thanh toán tiền nong với nhau.
- MẠI MÀI âm Quảng Đông của chữ MÃI MẠI 買賣 là Mua Bán, là Buôn bán. CHÙ MẠI MÀI 做買賣 là Làm ăn buôn bán. Ta có chữ:
MẠI BẢN âm Quảng Đông của từ MÃI BIỆN 買辦 là "Người bản địa đứng ra làm trung gian, thông dịch để cho người ngoại quốc đến làm ăn buôn bán. Người đứng trung gian thủ lợi đó là người Mại Bản. Trước 1975 ở miền Nam ta hay nghe từ TƯ SẢN MẠI BẢN.
- MẠT CHƯỢC âm Quảng Đông của từ MA TƯỚC 麻雀 là con chim sẻ. Nên "Đánh Mạc Chược" còn gọi là "Đánh bài con chim.”
- MÌ hay MÌN là âm Quảng Đông của từ MIẾN 麵 là Lúa mì lúa mạch xây thành bột mì cán nhỏ xắt thành sợi lớn sợi nhỏ, gọi là Mì Lớn, Mì Nhỏ, rồi vắt thành từng vắt một. Ăn một vắt thì gọi là TÁL MÌN 單麵; ăn hai vắt thì gọi là MÁ MÌN 孖麵. Vào quán mì hay kêu: "Cho một tô Má MìN" tức là cho "Một Tô Mì 2 Vắt."
- MÌ CHÍNH âm Quảng Đông của từ VỊ TINH 味精 là "Tinh túy của mùi vị,” tức là BỘT NGỌT.
- MÌ THÁNH xem lại từ HOÀNH THÁNH, VẰN THẮN ở bên trên.
- MŨ âm Quảng Đông của từ MẠO 帽 là cái Mão, cái Nón đội trên đầu. Đội MŨ là đội Nón. Chữ nầy rất thông dụng trong tiếng Việt.
- MÚI âm Quảng Đông của chữ MUỘI 妹 là em gái. Thường gọi là A MÚI.
- MỦI âm Tiều Châu của chữ MUỘI 妹 là em gái. Thường được gọi là A MỦI.
N- NẠM âm Quảng Đông của chữ NẠM 腩 là Phần thịt ở bụng. Ta có từ NGẦU NẠN là NGƯU NẠM 牛腩 Là Thịt ở dưới bụng của con bò, kho ăn rất ngon.
- NỊ âm Quảng Đông của chữ NỄ 你 là Ngôi thứ hai số ít của Danh xưng đại danh từ, có nghĩa là: Ông, Anh, Mầy.
- NGỘ âm Quảng Đông của chữ NGÃ 我 là Tôi, ta, tao là Ngôi thứ nhất của Danh xưng Đại danh từ. NGỘ với NỊ là Tôi và Anh, là Ta và Mi, là Tao với Mầy.
- NGÁM NGÁM âm Quảng Đông của từ HÀM HÀM 銜銜 là Vừa vặn, Vừa khít.
- NGẦU âm Quảng Đông của chữ NGƯU 牛 là Trâu, Bò. Ta có các từ thường gặp như:
Rất NGẦU là Rất Dữ, rất Quạu, rất Bắt mắt.
NGẦU DỤC PHẢNH 牛肉粉 là Hủ tíu thịt bò, là Phở bò.
NGẦU PÍN 牛鞭 là NGƯU TIÊN là "Cây roi bò,” chỉ Bộ phận sinh dục của con bò đực lớn và dài như cây roi vậy. Nên Đàn ông rất thích ăn.
- NHẪM âm Quảng Đông của chữ ẨM 飲 là Uống. Như NHẪM CHẨU 飲酒 là ẨM TỬU, là Uống rượu. NHẪM XÀ 飲茶 là ẨM TRÀ là Uống Trà. Ta hay nghe câu "Nhẫm xà ở nhà Bà Xẫm" hay "Bà Xẫm nhẫm xà.”
P- PHÁ LẤU âm Tiều châu của từ PHÁCH LỖ 拍滷 là Khìa; một kiểu kho của người Tiều Châu được ướp nước tương, đường muối, ngũ vị hương, đại hồi... Rất thơm ngon và để được lâu, nhậu rất bắt mà để ăn cơm cũng rất ngon. KHÌA Hay PHÁ LẤU cả lòng heo như Bao tử, Gan, Tim, Phối Linh... có cả Tai heo, lưỡi heo nữa!
- PHÀN (FÀL) âm Quảng Đông của từ PHẠN 飯 là Cơm. Nên XỰC FÀL là Ăn Cơm.
- PHAY âm Quảng Đông của chữ KHỐI 塊 là Miếng, Mảnh. Nên Thịt Xé Phay là Thịt được xé nhỏ ra từng miếng một. Ta có Thịt Gà Xé Phay như câu:
Gà cồ (/hay què?) ăn quẩn cối xay,
Rau răm muối ớt XÉ PHAY gà cồ!
DAO PHAY là Dao dùng để chặt cái gì đó ra từng miếng nhỏ một.
- PHÉ âm Quảng Đông của chữ PHÁI 派 là Phe, nhóm. ĐÁNH PHÉ là loại bài chơi bắt từng cặp từng đôi một, hai cây giống nhau là một PHÉ.
PHÉ còn là CA-FÉ là CÀ PHÊ chữ phiên âm của chữ Café 咖啡.
PHÉ NẠI 啡奶 là Cà phê sữa.
- PHÌ âm Quảng Đông của chữ PHÌ 肥 là Mập. PHÌ LỦ 肥佬 là Ông Mập.
- PHÌ PHÀ âm Quảng Đông của từ TÌ BÀ 琵琶 là cây đàn Tì Bà. Nhớ hồi nhỏ khi học chữ Nho với Bác Sáu, Bác đã đối câu "Da trắng vỗ bì bạch" của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm bằng câu:"PHÌ PHÀ đàn Tì Bà.” Ý của Bác Sáu là: Bác vừa hút thuốc phì phà vừa đàn Tì Bà.
- PHÓNG SỦI âm Quảng Đông của từ PHONG THỦY 風水. "Hủ Phóng Sủi 好風水" là Hảo Phong Thủy, là Phong thủy tốt. "Phóng Sủi xíl xán 風水先生" là Phong Thủy Tiên sinh là "Ông thầy xem phong thủy.
- PHỔ KY âm Quảng Đông của từ HỎA KẾ 伙計 là người làm công, người giúp việc trong các cửa hàng hảng xưởng. Như: "Tiệm nầy có đến 5 người PHỔ KY lận."
- PHÚC âm Quảng Đông của từ PHÚC 福 là Phước. DẬU PHÚC là HỮU PHÚC 有福 là Có Phước. PHÚC LỤC SẦU là PHÚC LỘC THỌ 福祿壽.
Q- QUA âm Tiều Châu của chữ NGÃ 我 là Tôi. Thường dùng cho người hơi lớn tuổi xưng hô với người nhỏ tuổi hơn. Như QUA nói cho em nghe, hay như câu nói vui của dân Sóc Trăng Bạc Liêu là:
Hôm qua QUA nói QUA qua mà QUA hổng qua,
Hôm nay QUA hổng có nói QUA qua mà QUA qua.
S- SÂM BỔ LƯỢNG là âm Quảng Đông bị nói trại đi mà thành của nhóm từ THANH BỔ LƯƠNG 清補涼. THANH là thanh nhiệt, là lọc cho trong, BỔ là Bổ dưỡng, LƯƠNG là mát mẻ. Nên Thanh Bổ Lương là món chè được nấu bằng đường phèn với các vị thuốc Bắc ăn được như Trái Táo, nhãn nhục, Bách hợp, nấm tuyết, Phổi tai, Hoài sơn, Hạt sen, Củ sen... Ăn để giải nhiệt thanh lọc cho cơ thể sau những giờ lao động mệt nhọc. Có thể ăn nóng hoặc ăn lạnh với nước đá tùy thích. Vì là món chè bổ dưỡng, nên thường bị đọc trại thành SÂM BỔ LƯỢNG để cho tăng thêm phần trịnh trọng của món chè dưỡng sinh nầy.
- SỞ HỤI âm Tiều Châu của từ SỞ PHÍ 所費 là Số chi phí cần phải tiêu hao; Số tiền cần phải xài cho việc gì đó. TIỀN SỞ HỤI cũng có nghĩa là tiền để trong mình phòng khi có để tiêu vặc.
- SỦI CẢO âm Quảng Đông của từ THỦY GIẢO 水餃 là Bánh xếp nước rất nổi tiếng ở phố ăn uống Hà Tôn Quyền thuộc Quận 11.
T- TÀI âm Quảng Đông của chữ ĐẠI 大 là Lớn. Như TÀI CÓ 大哥 là ĐẠI CA là Anh Cả, người Miền Nam gọi là Anh Hai.
- TÀI XIỂU âm Quảng Đông của từ ĐẠI TIỂU 大小 là Lớn Nhỏ. Một lối chơi cờ bạc có tên là TÀI XIỂU 大小 với 3 hôt xúc xắc có số từ 1-6. Hễ tổng số của 3 hột xúc xắc từ 3-10 là XIỂU; Còn từ 11-18 là TÀI. Rất nhiều người đã tán gia bại sản về môn TÀI XIỂU nầy.
- TÀI PHÚ âm Tiều Châu của từ TÀI HỘ 財護 là Bảo hộ Tài sản. TÀI PHÚ trong một Chành lúa hay Công ty tương đương như một Giám đốc Kinh doanh ngày nay, nhưng người Tài Phú còn kiêm luôn sổ sách kế toán của công ty nữa. Nên TÀI PHÚ thường là những người rất giỏi về kinh doanh, kế toán và cả chữ nghĩa nữa.
- TÀI XỒI âm Quảng Đông của từ ĐẠI TÀI 大材 là Vật liệu lớn. Ta có từ Cây BÚA TÀI XỒI là Cây búa lớn, nặng dùng để bửa những khúc gỗ to cho nhỏ lại để dễ chẻ thành củi.
- TÀU VỊ YỂU âm Tiều Châu của nhóm từ ĐẬU THỊ DU 豆豉油 là Chất dầu và nước cốt tiết ra từ đậu ủ tương, ta gọi là Nước Tương. Âm Quảng Đông gọi là XÌ DẦU 豉油, dùng để làm gia vị nêm nếm trong nấu nướng hoặc để chấm thức ăn cho đậm đà thêm.
- TANG XẠI âm Tiều Châu của từ ĐÔNG THÁI 冬菜 là Cải bẹ trắng ủ muối, rượu, gia vị... để dành ăn đông. Ta gọi là CẢI HỦ vì đựng trong một cái hủ tròn dẹp trông rất đẹp mắt, cũng thường được gọi là CẢI TANG XẠI.
- TÀO KÊ âm Tiều Châu của từ ĐẦU GIA 頭家 là Người đứng đầu trong một gia đình hay ngành nghề... TÀO KÊ có khi cũng có nghĩa giống như là từ ĐẦU NẬU ở phần trên. BÀ TÀO KÊ là bà Tú Bà trong các nhà chứa Gà Móng Đỏ đó.
- TÀO THƯNG âm Tiều Châu của từ ĐẬU THANG 豆湯 là Canh Đậu, tức là Chè Đậu Xanh nước dừa đường cát đó. (Xin mời đọc lại bài "Từ chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA" sẽ rõ ràng hơn).
- TẰNG KHẠO âm Tiều Châu của từ ĐỒNG KHÁO 同靠 là Cùng nương tựa lẫn nhau; ở đây chỉ Người Trưởng Nhóm, người Cai, Người "Sếp" của một nhóm, một toán công tác nào đó. Như "Anh ta là TẰNG KHẠO của chiếc ghe chài đó.”
- TẨY âm Quảng Đông của chữ ĐỂ 底 là Đáy, là cái Nền, cái Phong... Tấm bài còn lật úp trong kiểu chơi "Xì-Phé" gọi là BÀI TẨY. Vào quán nước kêu một cái TẨY tức là kêu một ly nước đá chỉ có đá cục chớ không có nước gì trong đó cả.
- TẨY CHAY âm Quảng Đông của từ ĐỂ CHẾ 抵制 là Chống cự đến cùng, Không chấp nhận hay dứt bỏ cái gì đó.
- TẨU âm Quảng Đông của chữ ĐẨU 斗 là cái Đấu, cũng dùng để chỉ cái ống thuốc, như DỌC TẨU là cái ống điếu dài.
- TÍA âm Tiều Châu của từ ĐA 爹 là Cha. Người Tiều kêu cha là A BA 阿爸 hay A TIA 阿爹. Dân Nam kỳ kêu theo, nên Cha Mẹ kêu là TÍA MÁ. Trong ca dao dân gian cũng có câu:
Con cò nó mổ con lươn.
Bớ chị ghe lườn muốn TÍA tôi hông?
TÍA tôi lịch sự quá chừng.
Cái lưng mốc thích cái đầu chôm bôm.
- TIÊU TÙNG âm Quảng Đông của chữ TIÊU TÙNG 消從 là Mất dấu đi theo, là mất hết cơ hội, là hết đường hy vọng. Lối chơi bài "Cát-Tê" khi tất cả bài đều bị lật úp, không có con bài nào lật ngửa cả. thì gọi là TIÊU TÙNG.
- TỈM XẤM âm Quảng Đông của từ ĐIỂM TÂM 點心 là ăn lót lòng lót dạ buổi sáng khi bụng còn trống.
- TỐ âm Quảng Đông của chữ ĐA 多 là Nhiều. Ta có từ TỐ CHÈ là ĐA TẠ 多謝 là Cám ơn nhiều lắm.
- TỤI âm Tiều Châu của chữ ĐỐI 對 là một Đôi. Trong phép đánh bài Tứ sắc là "Gần ăn xa TỤI.” Có nghĩa: Tay trên đánh xuống là GẦN thì mình có thể lấy một con bài xuống ăn; Còn nếu tay dưới hay ở ngang sông thì phải hô TỤI để giựt đôi.
- TỬNG âm Tiều Châu của chữ ĐƯỜNG 唐 là Đời Đường, chỉ người Hoa. Như XIN TỬNG là TÂN ĐƯỜNG 新唐 là Chàng thanh niên chân ướt chân ráo từ bên Tàu mới qua Việt Nam. CHÚ TỬNG cũng như CHÚ CHỆT từ dùng để chỉ một anh chàng người Hoa nào đó. Có thể do nhà Đường là triều đại hoàng kim rực rỡ của Trung Hoa, nên người Tiều Châu và Quảng Đông đều xưng mình là người đời Đường. Từ ĐƯỜNG NHÂN 唐人...
* Âm Tiều Châu là TỪNG NÁN 唐人(khi ghép từ, TỬNG đọc thành TỪNG).
*Âm Quảng Đông là THÒN DÀNH 唐人. Vì thế mà ta lại có một vở kịch, một tuồng hát Cải lương rất nổi tiếng và ăn khách là "TÌNH CHÚ THÒN" của nghệ sĩ Xuân Phát đã vang bóng một thời.
- TỬNG 當 âm Tiều Châu còn có nghĩa là Cầm cố, Sang nhượng... Như "Nó đã TỬNG một căn phố lầu.”
TH- THẦU KÊ âm Tiều Châu của từ ĐẦU GIA 頭家 là Người Đứng đầu trong nhà, là Chủ nhà, dùng rộng ra là Ông chủ của một tiệm buôn hay một cửa hàng.
- THẦU SÁNG âm Quảng Đông của từ ĐẦU SANH 頭生 là người đứng đầu trong nhóm người làm công trong tiệm, còn được đọc trại thành HẦU SÁNG.
- THẤU CẤY âm Quảng Đông của từ THÂU KÊ 偷雞 là Trộm gà, ý chỉ len lén làm việc gì đó cho người ta bất ngờ; Như thọt cù lét, đánh lén...
- THẦY NGÒN âm Quảng Đông của từ ĐỀ NGẠN 堤岸 là Trên bờ đê, chỉ vùng đất CHỢ LỚN. Người Hoa gọi Chợ Lớn là "THẦY NGÒN,” người Việt ta tưởng THẦY NGÒN là SÀI GÒN, nên dân Nam kỳ Lục tỉnh gọi "Đi SÀI GÒN" là "Đi THẦY GÒN.”
- THÈO LÈO âm Tiều Châu của từ TRÀ LIỆU 茶料 là Vật liệu dùng để uống trà, gồm có kẹo đậu phọng, kẹp mè trắng, kẹo mè đen, cốm gạo, cứt chuột (là những viên đậu phọng rang có áo một lớp đường ăn rất thơm ngon)... Đây cũng là vật liệu không thể thiếu khi cúng tiễn Táo Quân về chầu trời trong ngày 23 tháng Chạp Âm lịch, để Táo Quân ăn cho ngọt, báo cáo cho tốt về gia chủ.
- THÒ LÒ âm Quảng Đông của từ 陀螺 ĐÀ LOA là Con Vụ, con quay, là đồ chơi của trẻ em. Ta thường gọi là cái Bông Vụ hay Con Thò Lò.
- THỔI âm Quảng Đông của chữ ĐÀI 枱 là Cái Bàn. Ta có chữ XÀ THỔI 茶枱 là TRÀ ĐÀI là nơi có đặt nhiều cái bàn để cho người ta đến uống trà, nên XÀ THỔI là Quán Nước, là Tiệm bán Cà Phê.
- THÙNG PHÁ SẢNH âm Quảng Đông của nhóm từ ĐỒNG HOA THUẬN 同花順 là Cùng một loại hoa cùng màu và sắp theo đúng thứ tự từ nhỏ đến lớn hẳn hoi. Là con bài lớn nhất trong lối binh Xập Xám ăn đứt tất cả những con bài khác; Nhưng nếu cứ mê cờ bạc thì có ngày sẽ thành "THÙNG PHÁ SẢN" như chơi!
X- XA TẾ (SA TẾ) âm Tiều Châu của từ SA TRÀ 沙茶 là Một loại tương ớt được chế biến đặc biệt thơm ngon dùng trong gia vị và nước chấm, dĩ nhiên rất cay và cũng rất thơm ngon.
- XÁ LỊ âm Quảng Đông của từ SA LÊ 沙梨 là Trái Lê, vỏ vàng thịt xốp cho nhiều nước, ăn rất ngon. Nên loại ổi vừa xốp vừa dòn được gọi là ỔI XÁ LỊ là ỔI LÊ đó. Ý muốn nói Ổỉ mà ngon như Lê, nên mới gọi là ỔI XÁ LỊ.
- XÁ XÍU âm Quảng Đông của từ XOA THIÊU 叉燒, XOA là Cây chỉa (Quỷ Dạ Xoa là chữ XOA nầy), ở đây có nghĩa là Cây NĨA hay cây sắt có đầu nhọn dùng để ghim thịt. THIÊU là Đốt, là Quay, là Nướng. Nên XOA THIÊU (XÁ XÍU) là Thịt heo được ghim thành từng ghim hay móc vào móc sắt để nướng. Thịt thường dùng là thịt nạc vai, thịt nạc lưng... ướp mật ong, ngũ vị hương, xì dầu, chao, tương đen, bột màu điều và rượu... Thịt nướng xong có sắc đỏ nâu tươm mỡ trông rất ngon lành và lại bay mùi thơm phức. XÁ XÍU có thể cho ta thêm nhiều món ăn phụ như: Bánh bao Xá xíu, Bánh Mì Xá xíu, Cơm Xá xíu, Mì khô Xá xíu, Xôi Xá xíu...
- XẢO QUÈ âm Tiều Châu của từ SAO QUẢ 炒粿 là Bánh Bột Chiên. Bánh được hấp bằng bột gạo (có khi còn được độn khoai cao, khoai môn hoặc củ cải trắng vào trong bột). Bánh được xắt nhỏ thành từng miếng hình chữ nhật, rồi đem chiên trong chảo cho vàng 2 mặt, đoạn bỏ hành lá xắt nhỏ vào cho thơm, ăn sang thì đập thêm một quả trứng vào. Chiên xong xúc ra dĩa bỏ thêm ngò rí , tiêu lên mặt bánh cho thơm rồi chấm tương ớt, xì dầu là sẽ có một bữa ăn ngon miệng quên thôi.
- XẨM âm Quảng Đông của chữ THẨM 嬸 là Thiếm (vợ của Chú). XẨM còn là từ gọi chung tất cả những người đàn bà người Hoa đứng tuổi, như ta gọi Thím vậy. Và ta cũng có từ THIẾM XẨM để chỉ một người đàn bà người Hoa đứng tuổi nào đó. Còn BÀ XẨM thì chỉ lớn tuổi hơn, như phần trên đã nói: "Vào nhà BÀ XẨM để NHẨM XÀ!”
- XÂY CHỪNG âm Quảng Đông của từ TẾ CHỈNH 細整. TẾ là Nhỏ, CHỈNH là Hoàn chỉnh, ở đây có nghĩa là nguyên chất; Nên XÂY CHỪNG là "Ly cà phê nhỏ thuần chất,” ý nói "Chỉ thuần cà phê chớ không có thêm chất gì khác cả.” Nói tóm lại "XÂY CHỪNG là LY CÀ PHÊ ĐEN NHỎ.” Còn...
- XÂY NẠI là phát âm tiếng Quảng Đông của từ TẾ NÃI 細奶. TẾ là Nhỏ, NÃI là Sữa, nhưng XÂY NẠI không phải là "Ly sữa nhỏ"; Vì đó là cách nói gọn lại của ba chữ XÂY PHÉ NẠI 細啡奶. XÂY là Nhỏ, PHÉ là Cà phê, NẠI là Sữa. Nên XÂY PHÉ NẠI là "Cà phê sữa nhỏ,” nói gọn lại thành XÂY NẠI.
- XÂY BẠC XIỂU âm Quảng Đông của TẾ BẠCH TIỂU 細白小 là "Cà phê sữa nhỏ ít cà phê.”
- XÂY CÁ NẠI cũng là âm Quảng Đông của ba chữ TẾ GIA NÃI 細加奶. TẾ là Nhỏ, GIA Thêm, NÃI là Sữa; là nói gọn của nhóm chữ XÂY PHÉ CÁ NẠI 細啡加奶 là "Cà phê đen nhỏ thêm sữa,” là CÀ PHÊ SỮA NHỎ đó.
- XÂY LỦ CÓ âm Quảng Đông của nhóm từ TẾ LÃO CA 細佬哥 là Ông anh nhỏ, là Con nít. Mấy đứa con nít gọi là "Mấy đứa XÂY LỦ CÓ.”
- XẾ âm Quảng Đông của từ XA 車 là XE. Ta có từ TÀI XẾ là SỬ XA 駛車 là người sử dụng xe, là Người Lái Xe.
- XÍ âm Tiều Châu của chữ TỬ 死 là chết. XÍ LẮT LÉO 死了了 là Chết queo hết trơn.
- XÍ MUỘI âm Quảng Đông là XÍL MUỘI của từ TOAN MAI 酸莓 là Me chua. XÍ MUỘI mà ta ăn ở tiệm thuốc bắc rất mặn vì đã được ướp muối rồi.
- XÍ MỨNG âm Tiều Châu của từ TỨ MÔN là Bốn Cửa. Bốn cửa nhưng không ra cửa nào cả. VÕ XÍ MỨNG là Môn võ không giống ai cả. Nên XÍ MỨNG chỉ những việc làm bá láp bá xàm không giống ai cả.
- XÌ DẦU âm Quảng Đông của từ THỊ DU 豉油 là Nước Tương.
- XỈ KI âm Tiều Châu là TỨ CHI 四枝 là bốn cây. Một tình huống trong bài Tứ Sắc, Thay vì Tướng sĩ tượng hay Xe pháo ngựa thì đủ bộ 3 cây rồi, đằng nầy lại có đến 2 con xe, 2 con pháo hay 2 con ngựa, nên tới 4 cây lận, cần phải tề bỏ một cây cho nó liền bài.
- XƯNG XÁO hay SƯƠNG SÁO âm Tiều Châu là XENG XÁO của chữ TIÊN THẢO 仙草 là Dược thảo của Tiên, nấu xong đặc lại như thạch có màu đen, nên còn gọi là THẠCH ĐEN. Sách vở gọi là SƯƠNG SÁO, bình dân kêu là XƯNG XÁO, được cho là có tính mát, giúp hạ huyết áp, trị cảm mạo, đau khớp...
- XỨNG XÁI âm Tiều Châu của từ TOÁN THÁI 算睬 là Không tính rõ ràng, là cho qua một cách hoa loa, như câu nói "XỨNG XÁI Bò lái bò khự" là "Xí Xoá chớ không tính qua tính lại gì cả!”
- XÍL XÁN âm Quảng Đông của từ TIÊN SINH 先生 là Thầy, là Ông theo phép lịch sự, nhưng thầy dạy mình học cũng gọi là XÍL XÁN được nữa.
- XÍU MẠI âm Quảng Đông của từ THIÊU MẠI 燒賣. Một loại thức ăn Điểm Tâm buổi sáng của người Quảng Đông; Có 2 loại: Xíu Mại Khô, thịt bằm, củ sắn được ướp thêm gia vị và được bọc bằng một lớp vỏ bột mì màu vàng; Xíu Mại Nước, không có bọc vỏ, được chưng cách thuỷ trong một cái dỉa nhỏ. Hai loại KHÔ và NƯỚC nầy thường được ăn với "Dầu-Chá-Quẩy" hay bánh mì đều rất ngon... Ta có chữ XÍU DỤC 燒肉 là Thịt heo quay, XÍU ẠP 燒鴨 là Vịt quay.
- XÒ âm Quảng Đông của chữ XỌA 傻 là Khờ là khùng. XÒ CHẨY 傻仔 là Thằng ngu, thằng khờ, thằng Khùng.
- XỰC âm Quảng Đông của chữ THỰC 食 là Ăn. XỰC FÀL 食飯 là Ăn cơm; XỰC CHÚC 食粥 là Ăn Cháo; XỰC YẸ 食嘢 là Ăn đồ (Ăn vặc)...
- XƯỜNG XÁM âm Quảng Đông của từ TRƯỜNG SAM 長衫 là Áo dài Tàu của các cô nương Tàu mặc khi đi dự lễ hội hoặc Tết nhứt.
Cuối cùng ta có câu thiệu của các em bé khi chơi trò "XÌN XẦM" giống như là "Oảnh-Tù-Tì" sau này vậy:
"XÌN XẦM CÔ PÁO CHỈN CÔ CHẬP" (tiếng Quảng Đông)
- Cô PÁO là Cái Bao;
- CHỈN là Cây kéo;
- CÔ CHẬP là Cây Búa đập.
Và...
Một câu ca dao Nam bộ của Đồng bằng sông Cửu Long với sông ngòi chằng chịt như tình yêu mộc mạc chất phác, nhưng cũng không kém phần tha thiết của một chàng trai người Tiều Châu và một cô gái quê Việt Nam như sau:
Dù cho "hổ lái huang tùa,”
"A Hia phề chúng khư uà" thăm em!
Có nghĩa:
Dù cho mưa lớn gió to,
Anh cũng bơi xuồng ra đó thăm em!
Chỉ là những góp nhặt những gì chung quanh cuộc sống thực tế từ nhỏ đến lớn của một người được sanh ra và lớn lên ở xã Thưởng Thạnh, huyện Châu Thành, Thị trấn Cái Răng của tỉnh Phong Dinh ngày xưa mà thôi.
Rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo cho những gì còn sai sót.
Chân thành CẢM TẠ trước!
Đỗ Chiêu Đức
Trần Văn Giang (ghi lại)


.639119325007570567.jpg)





.639119325007570567.jpg)









