Lịch Sử, Quân Sử & Huyền Thoại

Thà chết, không hàng giặc - Bảo Ðịnh

Bôi quê ở làng Lai Hà, một ngôi làng bé nhỏ, nằm ven bờ Tây ngạn phá Tam Giang.

Ðại Úy Hoàng Bôi phục vụ tại Phi Ðoàn 247, Trực Thăng Vận Tải Chinook CH47, Sư Ðoàn 1 Không Quân, QLVNCH.
Bôi quê ở làng Lai Hà, một ngôi làng bé nhỏ, nằm ven bờ Tây ngạn phá Tam Giang. Phá Tam Giang nổi tiếng, không những vì là con phá lớn nhất của đất nước, mà nổi tiếng nhờ qua những câu thơ:
“Ðường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biết như tranh họa đồ.
Yêu em, anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
Làng Lai Hà thuộc quận Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, dù không có một lịch sử lâu dài, chỉ mới thành hình kể từ sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa năm 1558, dưới đời vua Lê Anh Tôn, nhưng cũng đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt. Ðiển hình là một người thuộc vào hàng chú bác của Bôi, vào khoảng thập niên 1930, hoạt động chống chính quyền Bảo Hộ Pháp, bị bắt, nhưng đã tuyệt thực cho đến chết ở trong nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1945, khi quân viễn chinh Pháp, theo thỏa hiệp sơ bộ với chính phủ Hồ chí Minh, đưa quân vào Việt Nam để lập lại sự đô hộ, một người thuộc vào hàng ông của Bôi bị giặc Pháp bắt, không chịu đầu hàng, đã hô câu: “Việt Nam muôn năm” trước khi một tràng đạn oan nghiệt của quân xâm lược nổ vào người ông, kết liễu cuộc đời của một lão nông anh dũng.
Làng Lai Hà đã cưu mang con cháu họ Nguyễn thuộc hệ phái Tiền quân Nguyễn Văn Thành, một trong những vị khai quốc công thần nhà Nguyễn.
Phía Bắc của làng là Chí Long, quê hương của cụ Nguyễn Tri Phương, một vị đại thần anh hùng của nhà Nguyễn. Khi quân Pháp hạ thành Hà Nội, con là phò mã Nguyễn Lâm tử trận, cụ bị thương nặng, bị giặc Pháp bắt, nhưng cụ không chịu buộc thuốc và nhịn ăn mà chết vào năm 1873. Những tấm gương anh hùng đó đã ăn sâu vào tâm khảm của Bôi, và nó đã định hướng cuộc đời của Bôi, cuộc đời của một vị anh hùng “Thà chết không hàng giặc.”
Là phi công trực thăng, trước khi trở thành phi công lái Chinook, anh đã từng bay yểm trợ cho mặt trận vùng giới tuyến, anh đã bay qua phá Tam Giang, nơi chôn nhau cắt rốn. Bài hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” của Trần Thiện Thanh phổ nhạc, thơ Tô Thùy Yên, làm cho anh chợt nhớ Sài Gòn, chợt nhớ làng quê nhỏ bé đang điêu linh vì cuộc chiến vô nghĩa do bọn Cộng Sản Bắc phương đang tiến hành từ mấy chục năm nay. Ngôi giáo đường Lai Hà, và trường trung học Tam Giang ẩn mình sau lũy tre xanh, nơi đã chôn giấu biết bao kỷ niệm của thời niên thiếu, với vị linh mục khả kính, Cha Nguyễn Phùng Tuệ, giờ chỉ còn trơ lại những bức tường loang lổ. Dấu vết chiến tranh đang tàn phá làng quê anh.
Những ngày cuối tháng 3 năm 1975, thành phố Ðà Nẵng hầu như lính nhiều hơn dân. Dưới quyền tư lệnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, đáng lý phải xảy ra một trận thư hùng giữa quân CSBV với quân của Tướng Trưởng, mà phần thắng bại chưa biết nghiêng về bên nào, dù quân viện do ông bạn đồng minh Hoa Kỳ cắt giảm, nhưng lòng anh dũng, ý chí quyết chiến quyết thắng của người lính Cộng Hòa vẫn có thừa. Nhưng cuối cùng… Ðà Nẵng đã bị bỏ ngỏ, toàn quân, toàn dân đành tháo chạy. Hoàng Bôi cũng như tất cả mọi người, tháo chạy trong cảnh bát nháo, hỗn loạn, hơn cả những ngày tháng của mùa Hè đỏ lửa năm 1972, khi quân CSBV, với xe tăng và đại pháo, ngang nhiên vượt sông Bến Hải, ranh giới chia đôi đất nước theo Hiệp định Ðình Chiến Geneva tháng 7 năm 1954.
Sáng sớm ngày 29 tháng 3 năm 1975, trời Ðà Nẵng trở mưa. Cơn mưa Xuân cuối mùa lất phất nhẹ, như những cơn mưa phùn dầm dề xứ Huế, nhưng cũng đủ thấm ướt và làm lạnh lòng những ai phải rời thành phố, ra đi trong vội vã trước làn sóng đỏ đang đổ ập vào từ phương Bắc, như cơn đại hồng thủy, đang nhận chìm một đô thị rộng lớn vào hàng thứ hai của nước Việt Nam Cộng Hòa. Sân bay Ðà Nẵng hỗn loạn, đạn khói mù trời. Người dân từ các vùng lân cận, từ Huế đổ vào, tìm cách vào phi trường kiếm một chỗ bay để thoát thân.
Những ngày trước, chính phủ đã thuê bao nhiều chuyến bay của máy bay ngoại quốc để di tản dân tỵ nạn, nhưng số lượng người đông đảo, chen lấn nhau, ai cũng muốn nhanh chóng được ra đi, nên đã xảy ra nhiều cảnh thương tâm. Trung Tá Hùng, thuộc Trung Tâm Hành Quân Sư Ðoàn 1 KQ, sau khi không còn liên lạc được với ai – gọi qua quân đoàn hay các đơn vị bạn, chỉ nghe tiếng chuông reo, không có ai trả lời – anh vội vã chạy ra phi đạo, ẵm theo hai đứa con thơ, vì vợ anh đã tử nạn trong một trận pháo kích của Cộng quân. Anh leo lên một chiếc L19 còn sót lại, nhưng không thể nào khởi động được máy. Anh vội tìm một chiếc xe để câu bình điện. Cuối cùng, máy bay nổ máy, anh bay được, thoát vào Nam (theo lời kể lại của Hùng, khi ở tù chung một đội tại thành Ông Năm, Hóc Môn, năm 1975).
truc thang chinook ch47, kqvnch.
Ðại Úy Hoàng Bôi và một số đồng đội cùng thân nhân của họ lên một trong những chiếc Chinook cuối cùng vội vã rời bến. Khi phi cơ của anh bay ngang bãi biển Sa Huỳnh, bị súng VC bắn lên trúng đạn, không thể bay tiếp, đành phải đáp khẩn cấp. Ðó là một xóm làng ven biển, thuộc thôn Vĩnh Tuy, xã Phú Thạnh. Ngoài phi hành đoàn, còn có 17 hành khách. Hầu hết họ là quân nhân thuộc SÐ1KQ và thân nhân. Một toán VC gồm du kích địa phương và quân CSBV tiến ra kêu gọi đầu hàng. Trong hoàn cảnh không thể chống cự, đụn cát trắng trống trải không nơi ẩn núp, tất cả hành khách đành tuân thủ. Nhưng phi hành đoàn gồm Ðại Úy Hoàng Bôi và một thiếu úy, hoa tiêu phó, đã “thà chết, không hàng giặc.”
Hoàng Bôi là một tín đồ Thiên Chúa Giáo ngoan đạo. Theo giới luật, người tín hữu Thiên Chúa Giáo không được tự sát. Anh không muốn phạm vào giới luật. Nhưng đứng trước tình thế khẩn trương, một bên là giới luật, một bên là danh dự của một sĩ quan QLVNCH. Anh bắt buộc phải có sự lựa chọn. Là người dân xứ Huế, đã trải qua những giờ phút kinh hoàng hồi Tết Mậu Thân năm 1968, với những cảnh giết người không gớm tay của bọn Việt Cộng, nhất là đối với những quân nhân, công chức VNCH khi bị lọt vào tay giặc. Linh Mục Bửu Dưỡng, Thượng Nghị Sĩ Trần Ðiền, những vị giáo sư người Ðức dạy tại Ðại hHọc Y khoa Huế, cùng hàng ngàn người dân vô tội đã bị giặc bắt đi chôn sống. Một thoáng suy nghĩ trôi qua. Quyết định của anh là chọn lựa cái chết.
Người lính ra đi không hẹn ngày về. Là một sĩ quan QLVNCH, với lời thề bảo vệ “Tổ Quốc,” tôn trọng “Danh Dự,” và chu toàn “Trách Nhiệm,” anh đã “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.” Ðại Úy Hoàng Bôi và người hoa tiêu phó, rút vội khẩu súng lục tùy thân đang đeo trước ngực ra, mở khóa an toàn, kê vào đầu của nhau (có nghĩa là anh đã không tự sát!), và đếm: 1, 2, 3. Hai tiếng nổ chát chúa nhưng nghe như một vang lên, hai viên đạn cùng rời khỏi nòng súng một lượt. Hai thây người gục ngã. Máu của họ ướt đẫm đất Việt, tô thắm màu cờ vàng ba sọc đỏ. Thân xác của họ làm phân bón cho quê hương nghèo xơ nghèo xác vì đạn bom của chiến tranh.
Trong số hành khách, có một thiếu phụ là vợ của một HSQ/KQ cùng phi đoàn (nghe nói người thiếu phụ hiện đang sống tại Mỹ). Người thiếu phụ khẩn khoản tên du kích có vẻ là tên chỉ huy, sau này được biết là tên Lê Tiền, và một du kích gái tên Phan Thị Cư, biếu họ hai chỉ vàng, xin được chôn cất tử tế hai người lính vừa chết. Một trong số những hành khách, Trung Sĩ Kháng, thuộc một đơn vị ÐPQ cùng vài người khác, sau khi được bọn du kích cho phép, đào vội hai cái hố. Hai nấm mồ chôn vội, không có gỗ ván để làm quan tài, chỉ là bộ đồ bay làm cổ áo quan (theo lời kể lại của người anh người quá cố, một đại đội phó Cảnh Sát Dã Chiến, hiện định cư tại Orange County, và anh Nguyễn Ðiền, từ Việt Nam). Như là một chiến lợi phẩm, tên du kích mang hai chiếc nón bay về nhà.
Ngày 5 tháng 4 năm 1975, những quân nhân và công chức còn kẹt lại Ðà Nẵng được lệnh tập trung để nghe Ủy Ban Quân Quản thành phố nói chuyện… Nhưng rồi họ được chở đi những nơi nào không ai biết. Vài tháng sau, trong số những cựu quân nhân được gọi đi “thi hành nghĩa vụ lao động,” có anh Nguyễn Văn Linh, BÐQ, Nguyễn Ðiền, QC, được điều động đi sửa chữa đường sắt ở vùng Sa Huỳnh, được phân chia ngủ nghỉ ở nhà một tên du kích. Tình cờ họ thấy hai chiếc nón bay trong cái tủ thờ của người chủ nhà. Ðến gần nhìn kỹ, họ sững sờ khi thấy bảng tên đề “Hoàng Bôi.” Họ là những người bạn học của Bôi, thỉnh thoảng vẫn gặp nhau nhậu nhẹt tại Ðà Nẵng, tìm cách lân la làm quen người chủ nhà để tìm hiểu. Người chủ nhà cũng là tên du kích, đã kể lại toàn bộ câu chuyện, và còn hướng dẫn hai người lính ra ngoài đụn cát ven biển, chỉ hai nấm mồ “vô chủ ai mà viếng thăm.” Nhưng lạ lùng thay, ngoài sự tưởng tượng của hai người lính. Hai nấm mồ vô chủ, nhưng không phải như nấm mồ Ðạm Tiên của cụ Nguyễn Du:
“Sè sè nấm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.”
Hai nấm mồ đã được tên du kích, thôn đội trưởng, đắp cao, và có mộ bia (bằng gỗ) đàng hoàng. Có một lý do nào đó lớn lao như một phép nhiệm mầu đã biến đổi một tên du kích vô thần thành một gã giữ “từ đường,” lo hương khói, mồ mả cho đến ngày cải táng.
Biến cố 30 tháng 4 năm 75 đã làm sụp đổ toàn bộ cuộc sống của người dân miền Nam, mà nạn nhân trực tiếp là thân nhân, gia đình “ngụy quân ngụy quyền.” Vợ của Bôi, một giáo viên tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn, đang dạy học, bị đuổi việc, ôm đứa con còn đang măng sữa tìm về nương tựa nơi nhà ngoại. “Tấn về nội, thối về ngoại.” Nhưng khốn nỗi, ngôi nhà ngoại đã bị kẻ chiến thắng chiếm đoạt – cho đến bây giờ. Bên nội cũng ly tán. Người đi tù, kẻ đi “kinh tế mới,” một số trở về quê. Quê nội, một làng quê nhỏ, cách kinh thành Huế lối nửa ngày đường. Những ngày Hè, gió nồm lồng lộng thổi từ phá Tam Giang, xua đi cái nóng bức do cơn gió hạ Lào nung nấu. Sau những tháng năm điêu tàn vì chiến tranh, giờ quê nội cũng đang chịu khốn khổ vì bọn VC ngu dốt tập kết trở về trong việc làm thủy lợi, bắt đập và ngăn phá, làm cho ruộng đồng khô cằn. Quê hương miền Trung nghèo, vốn cày lên sỏi đá, nay sỏi đá cũng không còn để mà cày! Người dân phải tha phương cầu thực. Người sống đã không lo được miếng cơm manh áo, làm sao lo được cho người chết. Cũng có vài lần, những người thân tìm đến mộ phần của anh thăm viếng và có ý muốn cải táng. Nhưng người dân địa phương tìm cách ngăn cản không cho di dời, vì họ tin vào những ơn ích có được mỗi khi họ đến cầu xin.
Thời gian đã đi qua khá lâu, vợ con và thân nhân của Ðại Úy Bôi quyết định cải táng, nhất quyết đem nắm xương tàn về gởi gấm nơi cố hương. Người nhà đã đến gặp tên chủ tịch xã, cũng chính là tên du kích, thôn đội trưởng ngày xưa. Chẳng biết có đút lót hay quà cáp gì không, nhưng hắn đã dễ dàng đồng ý, với sự thân thiện khác thường. Thay bộ áo quần đang mặc (không còn chân đi dép râu, đầu đội nón tai bèo), trịnh trọng trong chiếc áo dài đen, khăn đóng, dẫn đoàn người hướng về độn cát ven biển. Vừa đi, hắn vừa kể lại những gì đã xảy ra từ 30 năm trước. Câu chuyện sống động tưởng chừng như thể mới xảy ra hôm qua. Giọng kể đều đều, pha đôi chút ngậm ngùi, ăn năn. Hắn xin phép gia đình được thắp nén hương, và lâm râm khấn nguyện trước phần mộ. Sau đó hắn lại xin phép được tự tay đào tìm hài cốt vị anh hùng, như để đền bù lại cái ngày hắn đã “say men chiến thắng” một cách lầm lỡ, với những xúc động nghẹn ngào…
“Hơn 30 năm, bộ áo bay còn giữ màu cứt ngựa, gói trọn bộ xương tàn của một người thỏa chí tang bồng” (‘Lối Về’, Ðặc San Phượng Hoàng, Nguyễn Văn Thống, người anh em bà con). Mộ phần của viên thiếu úy hoa tiêu phó đã được cải táng trước – rất tiếc, người viết không được tin tức gì về vị anh hùng này.
Hai người phi công tuẫn nạn đã được người dân địa phương thờ phụng, và hương khói quanh năm. Và chính tên chủ tịch xã cũng rất sùng bái hai “tên sĩ quan ngụy” mà hắn đã trút hết những hận thù năm xưa! Nhưng bây giờ đã trở thành hai vị Thần Làng.
Michigan, mùa tuyết phủ
Bảo Ðịnh

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Thà chết, không hàng giặc - Bảo Ðịnh

Bôi quê ở làng Lai Hà, một ngôi làng bé nhỏ, nằm ven bờ Tây ngạn phá Tam Giang.

Ðại Úy Hoàng Bôi phục vụ tại Phi Ðoàn 247, Trực Thăng Vận Tải Chinook CH47, Sư Ðoàn 1 Không Quân, QLVNCH.
Bôi quê ở làng Lai Hà, một ngôi làng bé nhỏ, nằm ven bờ Tây ngạn phá Tam Giang. Phá Tam Giang nổi tiếng, không những vì là con phá lớn nhất của đất nước, mà nổi tiếng nhờ qua những câu thơ:
“Ðường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biết như tranh họa đồ.
Yêu em, anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
Làng Lai Hà thuộc quận Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, dù không có một lịch sử lâu dài, chỉ mới thành hình kể từ sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa năm 1558, dưới đời vua Lê Anh Tôn, nhưng cũng đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt. Ðiển hình là một người thuộc vào hàng chú bác của Bôi, vào khoảng thập niên 1930, hoạt động chống chính quyền Bảo Hộ Pháp, bị bắt, nhưng đã tuyệt thực cho đến chết ở trong nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1945, khi quân viễn chinh Pháp, theo thỏa hiệp sơ bộ với chính phủ Hồ chí Minh, đưa quân vào Việt Nam để lập lại sự đô hộ, một người thuộc vào hàng ông của Bôi bị giặc Pháp bắt, không chịu đầu hàng, đã hô câu: “Việt Nam muôn năm” trước khi một tràng đạn oan nghiệt của quân xâm lược nổ vào người ông, kết liễu cuộc đời của một lão nông anh dũng.
Làng Lai Hà đã cưu mang con cháu họ Nguyễn thuộc hệ phái Tiền quân Nguyễn Văn Thành, một trong những vị khai quốc công thần nhà Nguyễn.
Phía Bắc của làng là Chí Long, quê hương của cụ Nguyễn Tri Phương, một vị đại thần anh hùng của nhà Nguyễn. Khi quân Pháp hạ thành Hà Nội, con là phò mã Nguyễn Lâm tử trận, cụ bị thương nặng, bị giặc Pháp bắt, nhưng cụ không chịu buộc thuốc và nhịn ăn mà chết vào năm 1873. Những tấm gương anh hùng đó đã ăn sâu vào tâm khảm của Bôi, và nó đã định hướng cuộc đời của Bôi, cuộc đời của một vị anh hùng “Thà chết không hàng giặc.”
Là phi công trực thăng, trước khi trở thành phi công lái Chinook, anh đã từng bay yểm trợ cho mặt trận vùng giới tuyến, anh đã bay qua phá Tam Giang, nơi chôn nhau cắt rốn. Bài hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” của Trần Thiện Thanh phổ nhạc, thơ Tô Thùy Yên, làm cho anh chợt nhớ Sài Gòn, chợt nhớ làng quê nhỏ bé đang điêu linh vì cuộc chiến vô nghĩa do bọn Cộng Sản Bắc phương đang tiến hành từ mấy chục năm nay. Ngôi giáo đường Lai Hà, và trường trung học Tam Giang ẩn mình sau lũy tre xanh, nơi đã chôn giấu biết bao kỷ niệm của thời niên thiếu, với vị linh mục khả kính, Cha Nguyễn Phùng Tuệ, giờ chỉ còn trơ lại những bức tường loang lổ. Dấu vết chiến tranh đang tàn phá làng quê anh.
Những ngày cuối tháng 3 năm 1975, thành phố Ðà Nẵng hầu như lính nhiều hơn dân. Dưới quyền tư lệnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, đáng lý phải xảy ra một trận thư hùng giữa quân CSBV với quân của Tướng Trưởng, mà phần thắng bại chưa biết nghiêng về bên nào, dù quân viện do ông bạn đồng minh Hoa Kỳ cắt giảm, nhưng lòng anh dũng, ý chí quyết chiến quyết thắng của người lính Cộng Hòa vẫn có thừa. Nhưng cuối cùng… Ðà Nẵng đã bị bỏ ngỏ, toàn quân, toàn dân đành tháo chạy. Hoàng Bôi cũng như tất cả mọi người, tháo chạy trong cảnh bát nháo, hỗn loạn, hơn cả những ngày tháng của mùa Hè đỏ lửa năm 1972, khi quân CSBV, với xe tăng và đại pháo, ngang nhiên vượt sông Bến Hải, ranh giới chia đôi đất nước theo Hiệp định Ðình Chiến Geneva tháng 7 năm 1954.
Sáng sớm ngày 29 tháng 3 năm 1975, trời Ðà Nẵng trở mưa. Cơn mưa Xuân cuối mùa lất phất nhẹ, như những cơn mưa phùn dầm dề xứ Huế, nhưng cũng đủ thấm ướt và làm lạnh lòng những ai phải rời thành phố, ra đi trong vội vã trước làn sóng đỏ đang đổ ập vào từ phương Bắc, như cơn đại hồng thủy, đang nhận chìm một đô thị rộng lớn vào hàng thứ hai của nước Việt Nam Cộng Hòa. Sân bay Ðà Nẵng hỗn loạn, đạn khói mù trời. Người dân từ các vùng lân cận, từ Huế đổ vào, tìm cách vào phi trường kiếm một chỗ bay để thoát thân.
Những ngày trước, chính phủ đã thuê bao nhiều chuyến bay của máy bay ngoại quốc để di tản dân tỵ nạn, nhưng số lượng người đông đảo, chen lấn nhau, ai cũng muốn nhanh chóng được ra đi, nên đã xảy ra nhiều cảnh thương tâm. Trung Tá Hùng, thuộc Trung Tâm Hành Quân Sư Ðoàn 1 KQ, sau khi không còn liên lạc được với ai – gọi qua quân đoàn hay các đơn vị bạn, chỉ nghe tiếng chuông reo, không có ai trả lời – anh vội vã chạy ra phi đạo, ẵm theo hai đứa con thơ, vì vợ anh đã tử nạn trong một trận pháo kích của Cộng quân. Anh leo lên một chiếc L19 còn sót lại, nhưng không thể nào khởi động được máy. Anh vội tìm một chiếc xe để câu bình điện. Cuối cùng, máy bay nổ máy, anh bay được, thoát vào Nam (theo lời kể lại của Hùng, khi ở tù chung một đội tại thành Ông Năm, Hóc Môn, năm 1975).
truc thang chinook ch47, kqvnch.
Ðại Úy Hoàng Bôi và một số đồng đội cùng thân nhân của họ lên một trong những chiếc Chinook cuối cùng vội vã rời bến. Khi phi cơ của anh bay ngang bãi biển Sa Huỳnh, bị súng VC bắn lên trúng đạn, không thể bay tiếp, đành phải đáp khẩn cấp. Ðó là một xóm làng ven biển, thuộc thôn Vĩnh Tuy, xã Phú Thạnh. Ngoài phi hành đoàn, còn có 17 hành khách. Hầu hết họ là quân nhân thuộc SÐ1KQ và thân nhân. Một toán VC gồm du kích địa phương và quân CSBV tiến ra kêu gọi đầu hàng. Trong hoàn cảnh không thể chống cự, đụn cát trắng trống trải không nơi ẩn núp, tất cả hành khách đành tuân thủ. Nhưng phi hành đoàn gồm Ðại Úy Hoàng Bôi và một thiếu úy, hoa tiêu phó, đã “thà chết, không hàng giặc.”
Hoàng Bôi là một tín đồ Thiên Chúa Giáo ngoan đạo. Theo giới luật, người tín hữu Thiên Chúa Giáo không được tự sát. Anh không muốn phạm vào giới luật. Nhưng đứng trước tình thế khẩn trương, một bên là giới luật, một bên là danh dự của một sĩ quan QLVNCH. Anh bắt buộc phải có sự lựa chọn. Là người dân xứ Huế, đã trải qua những giờ phút kinh hoàng hồi Tết Mậu Thân năm 1968, với những cảnh giết người không gớm tay của bọn Việt Cộng, nhất là đối với những quân nhân, công chức VNCH khi bị lọt vào tay giặc. Linh Mục Bửu Dưỡng, Thượng Nghị Sĩ Trần Ðiền, những vị giáo sư người Ðức dạy tại Ðại hHọc Y khoa Huế, cùng hàng ngàn người dân vô tội đã bị giặc bắt đi chôn sống. Một thoáng suy nghĩ trôi qua. Quyết định của anh là chọn lựa cái chết.
Người lính ra đi không hẹn ngày về. Là một sĩ quan QLVNCH, với lời thề bảo vệ “Tổ Quốc,” tôn trọng “Danh Dự,” và chu toàn “Trách Nhiệm,” anh đã “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.” Ðại Úy Hoàng Bôi và người hoa tiêu phó, rút vội khẩu súng lục tùy thân đang đeo trước ngực ra, mở khóa an toàn, kê vào đầu của nhau (có nghĩa là anh đã không tự sát!), và đếm: 1, 2, 3. Hai tiếng nổ chát chúa nhưng nghe như một vang lên, hai viên đạn cùng rời khỏi nòng súng một lượt. Hai thây người gục ngã. Máu của họ ướt đẫm đất Việt, tô thắm màu cờ vàng ba sọc đỏ. Thân xác của họ làm phân bón cho quê hương nghèo xơ nghèo xác vì đạn bom của chiến tranh.
Trong số hành khách, có một thiếu phụ là vợ của một HSQ/KQ cùng phi đoàn (nghe nói người thiếu phụ hiện đang sống tại Mỹ). Người thiếu phụ khẩn khoản tên du kích có vẻ là tên chỉ huy, sau này được biết là tên Lê Tiền, và một du kích gái tên Phan Thị Cư, biếu họ hai chỉ vàng, xin được chôn cất tử tế hai người lính vừa chết. Một trong số những hành khách, Trung Sĩ Kháng, thuộc một đơn vị ÐPQ cùng vài người khác, sau khi được bọn du kích cho phép, đào vội hai cái hố. Hai nấm mồ chôn vội, không có gỗ ván để làm quan tài, chỉ là bộ đồ bay làm cổ áo quan (theo lời kể lại của người anh người quá cố, một đại đội phó Cảnh Sát Dã Chiến, hiện định cư tại Orange County, và anh Nguyễn Ðiền, từ Việt Nam). Như là một chiến lợi phẩm, tên du kích mang hai chiếc nón bay về nhà.
Ngày 5 tháng 4 năm 1975, những quân nhân và công chức còn kẹt lại Ðà Nẵng được lệnh tập trung để nghe Ủy Ban Quân Quản thành phố nói chuyện… Nhưng rồi họ được chở đi những nơi nào không ai biết. Vài tháng sau, trong số những cựu quân nhân được gọi đi “thi hành nghĩa vụ lao động,” có anh Nguyễn Văn Linh, BÐQ, Nguyễn Ðiền, QC, được điều động đi sửa chữa đường sắt ở vùng Sa Huỳnh, được phân chia ngủ nghỉ ở nhà một tên du kích. Tình cờ họ thấy hai chiếc nón bay trong cái tủ thờ của người chủ nhà. Ðến gần nhìn kỹ, họ sững sờ khi thấy bảng tên đề “Hoàng Bôi.” Họ là những người bạn học của Bôi, thỉnh thoảng vẫn gặp nhau nhậu nhẹt tại Ðà Nẵng, tìm cách lân la làm quen người chủ nhà để tìm hiểu. Người chủ nhà cũng là tên du kích, đã kể lại toàn bộ câu chuyện, và còn hướng dẫn hai người lính ra ngoài đụn cát ven biển, chỉ hai nấm mồ “vô chủ ai mà viếng thăm.” Nhưng lạ lùng thay, ngoài sự tưởng tượng của hai người lính. Hai nấm mồ vô chủ, nhưng không phải như nấm mồ Ðạm Tiên của cụ Nguyễn Du:
“Sè sè nấm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.”
Hai nấm mồ đã được tên du kích, thôn đội trưởng, đắp cao, và có mộ bia (bằng gỗ) đàng hoàng. Có một lý do nào đó lớn lao như một phép nhiệm mầu đã biến đổi một tên du kích vô thần thành một gã giữ “từ đường,” lo hương khói, mồ mả cho đến ngày cải táng.
Biến cố 30 tháng 4 năm 75 đã làm sụp đổ toàn bộ cuộc sống của người dân miền Nam, mà nạn nhân trực tiếp là thân nhân, gia đình “ngụy quân ngụy quyền.” Vợ của Bôi, một giáo viên tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn, đang dạy học, bị đuổi việc, ôm đứa con còn đang măng sữa tìm về nương tựa nơi nhà ngoại. “Tấn về nội, thối về ngoại.” Nhưng khốn nỗi, ngôi nhà ngoại đã bị kẻ chiến thắng chiếm đoạt – cho đến bây giờ. Bên nội cũng ly tán. Người đi tù, kẻ đi “kinh tế mới,” một số trở về quê. Quê nội, một làng quê nhỏ, cách kinh thành Huế lối nửa ngày đường. Những ngày Hè, gió nồm lồng lộng thổi từ phá Tam Giang, xua đi cái nóng bức do cơn gió hạ Lào nung nấu. Sau những tháng năm điêu tàn vì chiến tranh, giờ quê nội cũng đang chịu khốn khổ vì bọn VC ngu dốt tập kết trở về trong việc làm thủy lợi, bắt đập và ngăn phá, làm cho ruộng đồng khô cằn. Quê hương miền Trung nghèo, vốn cày lên sỏi đá, nay sỏi đá cũng không còn để mà cày! Người dân phải tha phương cầu thực. Người sống đã không lo được miếng cơm manh áo, làm sao lo được cho người chết. Cũng có vài lần, những người thân tìm đến mộ phần của anh thăm viếng và có ý muốn cải táng. Nhưng người dân địa phương tìm cách ngăn cản không cho di dời, vì họ tin vào những ơn ích có được mỗi khi họ đến cầu xin.
Thời gian đã đi qua khá lâu, vợ con và thân nhân của Ðại Úy Bôi quyết định cải táng, nhất quyết đem nắm xương tàn về gởi gấm nơi cố hương. Người nhà đã đến gặp tên chủ tịch xã, cũng chính là tên du kích, thôn đội trưởng ngày xưa. Chẳng biết có đút lót hay quà cáp gì không, nhưng hắn đã dễ dàng đồng ý, với sự thân thiện khác thường. Thay bộ áo quần đang mặc (không còn chân đi dép râu, đầu đội nón tai bèo), trịnh trọng trong chiếc áo dài đen, khăn đóng, dẫn đoàn người hướng về độn cát ven biển. Vừa đi, hắn vừa kể lại những gì đã xảy ra từ 30 năm trước. Câu chuyện sống động tưởng chừng như thể mới xảy ra hôm qua. Giọng kể đều đều, pha đôi chút ngậm ngùi, ăn năn. Hắn xin phép gia đình được thắp nén hương, và lâm râm khấn nguyện trước phần mộ. Sau đó hắn lại xin phép được tự tay đào tìm hài cốt vị anh hùng, như để đền bù lại cái ngày hắn đã “say men chiến thắng” một cách lầm lỡ, với những xúc động nghẹn ngào…
“Hơn 30 năm, bộ áo bay còn giữ màu cứt ngựa, gói trọn bộ xương tàn của một người thỏa chí tang bồng” (‘Lối Về’, Ðặc San Phượng Hoàng, Nguyễn Văn Thống, người anh em bà con). Mộ phần của viên thiếu úy hoa tiêu phó đã được cải táng trước – rất tiếc, người viết không được tin tức gì về vị anh hùng này.
Hai người phi công tuẫn nạn đã được người dân địa phương thờ phụng, và hương khói quanh năm. Và chính tên chủ tịch xã cũng rất sùng bái hai “tên sĩ quan ngụy” mà hắn đã trút hết những hận thù năm xưa! Nhưng bây giờ đã trở thành hai vị Thần Làng.
Michigan, mùa tuyết phủ
Bảo Ðịnh

BẢN TIN MỚI NHẤT

Thiên nhiên đôi khi kỳ ảo đến mức nếu không được chụp lại, chẳng ai tin đó là thật

Mỗi năm một lần, những đợt sóng trên đảo Giáng Sinh lại được thay thế bằng nhiều triệu con cua đỏ

Xem Thêm

Tiền giấy của Nhật là đồng tiền sạch nhất thế giới

Nhân dân tệ là đồng tiền bẩn nhất châu Á

Xem Thêm

NN Trần Xuân Tin – Buồn Vui Đời Quân Ngũ

Nhân dịp nghe lại bản nhạc : Người Nhái Hành Khúc có câu : Liên Đoàn Người Nhái như những bày ma trơi, tay chiếc dầm bơi và tay mang súng thép . Khi tấn công như sóng thần dâng bờ .

Xem Thêm

Lại múa rối nước - Việt Nhân

(HNPĐ) Như vậy cuối cùng ngày 16/07/2019, cái gọi là nhà nước xã nghĩa qua con mõ (lê thị thu hằng), cũng đã loa loa

Xem Thêm

VẦNG TRĂNG BẠC - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Bởi vì em lỡ si cuồng trăng bạc Khiến đêm dâng dòng cổ nguyệt chan hoà

Xem Thêm

Những hình ảnh chứng minh người Nhật luôn đi trước thế giới

Có nhiều lý do khiến Nhật Bản là quốc gia độc đáo nhất thế giới. Những phát minh của người Nhật Bản cho các vấn đề hàng ngày đã chứng minh điều đó.

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :CHEN XIANGMEI: THẾ LỰC BÍ ẨN TRONG CHÍNH TRƯỜNG MỸ By Robert D. McFadden

Nguoi My rat ky viec ngoai quoc can thiep vao bau cu Tong Thong. Ba nay xui duc TT Thieu giup Nixon danh bai UCV Dan Chu dua den hau qua la su tra thu cua dang DC ngung vien tro cho VNCH. Roi Nixon lai ban dung VNCH va Dai Loan cho CS.

Xem Thêm

Đề bài :Hồ sơ quý hiếm An táng hai Ông Ngô-Đình-Diệm và Ngô-Đình-Nhu,

Chinh nhung thanh phan tranh dau dao chanh nay thang 4 nam 1975 mang sung AK47 chiem truong DH Van Hanh roi mang bang do bat giam cac vien chuc VNCH. Mot so sinh vien hoc sinh tranh dau nam vung giup CS chon song 5000 nguoi tai Hue nam Mau Than 1968. Trong luc VNCH dang danh nhau voi Cong san thi nhung ke bieu tinh chong doi chanh phu VNCH chi lam loi cho Cong San. Nay da hon 40 nam sau cuoc chien thi phai luan cong va toi cua nhung nguoi lam mat nuoc de lam sang to lich su. Quan VNCH khong thua CS de dang neu chung ta co lanh tu yeu nuoc, biet de quyen loi dan toc tren tien bac danh loi.

Xem Thêm

Đề bài :Hải Quân Đại tá Hồ Tấn Quyền với Lực Lượng Hải Thuyền - Nguyễn Văn Ơn

Mấy ông Tướng Tá ngày xưa, không biết vô tình hay cố ý, hay đằng sau các ông có một con đường đi nào khác, hay ngoài việc thân Mỹ cũng 2 ba phe. Mấy ông nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà không mất Miền Nam mới là chuyện lạ. Tôi là lính, sau 75 mới hiểu ra rằng chúng tôi đã vì yêu Tổ Quốc , yêu Tự Do nên tình nguyện vào Quân ngủ nhưng chúng tôi không biết các ông đã âm thầm đâm sau lưng chúng tôi, các ông đã bán đứng linh hồn VNCH cho Vc, sau này tôi mới thấy các ông nhan nhản ngoài đường phố, các ông được Vc trân qúy được ở nhà mà không đi tù như chúng tôi, thật là mỉa mai, tôi xin nhắn ở Cmmt này nếu các ông còn sống hãy tự nhủ lòng mình có đúng chưa ? Tôi dấu tên nhưng địa danh Ninh Hoa Nha Trang , cán ông mang cấp bậc Th/tá và Đ/Úy đã bán đứng nguyên một Đại đội cho Vc. Nếu các ông còn sống cũng bị người đời nguyền rủa. Nhất là những anh em nào còn sống, đã bao năm dưới quyền của các ông,xin nhắc lại một qúa khứ tủi nhục và đau buồn.

Xem Thêm

Đề bài :Phát hiện Bản Đồ Việt Nam Trên Mô Hình Tượng Đài Tử Sĩ Hoàng Sa Không Có Quần Đảo Trường Sa

Muu do that Tuyet dieu cua bon cong san va nhung thanh phan phan boi,xa gi mot la co,xa gi vai ngan de lam mot tam bia,va xa gi chut cong lao han ma de nhan lai bong loc cua VC!va day la cai co cho bon cho de mao nhan khong co hoang-truong xa...Bia da moi tinh khoi…. dua nao lam bia ky niem nay,dang nhan lanh phat…..AN HUE !

Xem Thêm

Đề bài :Hồ sơ quý hiếm An táng hai Ông Ngô-Đình-Diệm và Ngô-Đình-Nhu,

That dung voi tieu de :" Ho so qui hiem".Nhung ong tuong tham du truc tiep dao chanh,va cai chet cua vi Tong Thong vang danh the gioi vi tai nang on dinh mot quoc gia tu con so ZERO tro thanh mot quoc gia phu cuong vao bac nhat a chau thoi do(1963).Vet o nhuc nay va o nhuc ban dung VNCH cua My khong mot but muc nao co the tay xoa va bao chua.Den nay,cung khong ngac nhien khi rat nhieu nuoc a chau-da khong con niem tin doi voi My nua,(that dang buon va may man cho TAIWAN,mem chut xiu nua neu nhu hill dac cu thi bai hoc VNCH duoc lap lai).Nuoc My va nguoi My noi rieng,ho rat thuc te,thuc te den doi khi tan nhan.CACH CHO hon CUA CHO,vi sao nuoc My bi da so cac nuoc tren the gioi ghet bo,du van ngua tay nhan vien tro?Cau hoi nay,phai de cho chinh dan My ho moi tra loi duoc ro rang.Tro lai van de ho so qui hiem,khong hieu ai da con giu,ma mai toi nay moi boc lo ro rang,nhung vi tuong lanh da so la goc Phap,han da khong biet NHUC khi nhan 01 vali tien dollars khoang dau tren duoi 30 ngan dollars la so tien tra cho gia mau cua T.T+co van va cac vi dai ta+trung ta...va he qua mat nuoc 1975.Vao thoi buoi do,da mang toi quan ham tuong lanh,tuc nhien van hoa va giao duc,duc do phai co nhung tat ca deu dang gia 30.000 dollars,chia nhau ra 10 ten,moi ten 3000,thoi buoi do,mot dong dollar=400 dong tien VNCH.Ngay sau khi bi giet,da biet bao loi nguyen rua cua dan chung mien nam Viet nam do len dau cha con,dong ho cua 10 ten du dang(danh tu cua pho t.t Johnson) vay ma chung con gia mu sa mua choi bay choi bien:BON CHO DE HEN NHAT.mot quyen hoi ky da viet ro,de bo phieu de quyet dinh chung thi 09 GIET,01 THA.Do Mau khi gan chet,van hot hoang Lay cu,xin tha...Gia mau cua ca mot dong ho,cua ca mot dat nuoc va biet bao nhieu xuong mau da guc xuong de bao ve VNCH tat ca deu do lai tren dau bon cho nay va dong ho nha no,nhung ke uong mau chi vi 3000 dollars.Triet ly va he qua dong Phuong that ranh mach:GIEO NHAN thi GAT QUA. Luoi troi long long,tuy thua ma khong ai lot ra noi.Bon cho de Cong san cung the,tam mau dan lanh,de nen tham nhung uc hiep...cai qua no dang treo lo lung tren dau,nhu Pham van dong,ve gia moi lo vao chua tu....tu gi vay? bo dao de te thi thanh phat, noi the thi ra boi bac dao giao qua suc,cai QUA de dau ???

Xem Thêm

Đề bài :Hồ sơ quý hiếm An táng hai Ông Ngô-Đình-Diệm và Ngô-Đình-Nhu,

Den bay gio su that da ro la phe dao chanh cung tan ac. Neu dan chung va hoc sinh Saigon am muu cuop xac de dot tra thu thi ho con tan ac hon la phe cong san vi CS khi thay the che do chi bo phe nghia trang Bien Hoa nhung khong dem xac tu si VNCH ra dot. Dao chanh chi thay the che do cu voi nguoi xau. Loi tai nguoi My.

Xem Thêm

Đề bài : Tự Do Nhân Quyền Là Đây!

Ong Cha Oanh nay moi la nguoi nghia khi. Cach day khoang 20 nam, may ong trong cong dong VN Minnesota moi ong cha quoc doanh den choi, ong doi ha la co VNCH moi den. Vay ma ong chu tich cong dong VN Minnesota chiu ha la co vang truoc tru so de tiep don ong cha quoc doanh nay. Vu nay no lon vi cong dong VN Minn phan doi viec ha la co. Roi hai ben kien tung ra toa ve toi phi bang.

Xem Thêm

Đề bài :Hải Quân Đại tá Hồ Tấn Quyền với Lực Lượng Hải Thuyền - Nguyễn Văn Ơn

Cac tuong lanh VNCH nam 1963 ra lenh giet cac si quan VNCH nhu Ho Tan Quyen, Le Quang Tung, thi ho khong khac gi nhung du kich CS thieu hoc bat giet cac vien chuc VNCH. Nguoi My va cac tuong dao chanh nam 1963 roi cat vien tro nam 1974. Sau do cai lenh tiet kiem dan duoc dua 1 trieu quan VNCH vao the cung luc kiet. Neu biet duoc nguoi My se giet VNCH thi ta khong nen theo nguoi My.

Xem Thêm

Đề bài :LỖI KỸ THUẬT TRONG HAI BẢN NHẠC CỦA ĐỨC HUY - PHẠM ĐỨC NHÌ

Bạn hãy xem thêm vài ba bản nhạc nữa thôi,bạn sẽ thấy "Chẳng có gì để nói".Hahaaa...

Xem Thêm

Đề bài :Hàng trăm nghìn người nhảy sóng ở bãi biển nước đục ngầu

Cách nay 15 năm,cảnh này được đưa lên internet và nói là bên Tàu...Hihiii...15 năm sau,xuất hiện bên VN...Kết luận,Tàu nhập cảnh tắm biển của nó vào VN hay người Tàu sang VN sinh sống nhiều như bên...Tàu?

Xem Thêm

TIN MỚI

NN Trần Xuân Tin – Buồn Vui Đời Quân Ngũ

Nhân dịp nghe lại bản nhạc : Người Nhái Hành Khúc có câu : Liên Đoàn Người Nhái như những bày ma trơi, tay chiếc dầm bơi và tay mang súng thép . Khi tấn công như sóng thần dâng bờ .

Xem Thêm

Lại múa rối nước - Việt Nhân

(HNPĐ) Như vậy cuối cùng ngày 16/07/2019, cái gọi là nhà nước xã nghĩa qua con mõ (lê thị thu hằng), cũng đã loa loa

Xem Thêm

VẦNG TRĂNG BẠC - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Bởi vì em lỡ si cuồng trăng bạc Khiến đêm dâng dòng cổ nguyệt chan hoà

Xem Thêm

Những hình ảnh chứng minh người Nhật luôn đi trước thế giới

Có nhiều lý do khiến Nhật Bản là quốc gia độc đáo nhất thế giới. Những phát minh của người Nhật Bản cho các vấn đề hàng ngày đã chứng minh điều đó.

Xem Thêm

Nhục quốc tế thể: Dịch Tây ba lô ăn xin ở châu Á:

“Hãy cho tôi tiền đi vòng quanh thế giới”

Xem Thêm

MỘT NGÀY VỚI MÙA XUÂN HÀ NỘI kim thanh

Hà Nội mà tôi chưa bao giờ được thấy, nhưng biết qua thơ văn nhờ hồi đi lính bắt đầu đọc những tiểu thuyết tiền chiến và những tạp chí của mấy ông nhà văn, nhà thơ Bắc kỳ di cư

Xem Thêm

Kỷ niệm 50 năm ngày con người đặt chân lên mặt trăng

Ngày 20 Tháng Bảy, 1969, phi thuyền Apollo 11 đã đưa ba phi hành gia tới quỹ đạo mặt trăng.

Xem Thêm

CÂU CHUYỆN TÌNH TRONG QUÂN NGŨ -Trần Văn

Xuyên qua Rừng U Minh Thượng của Rạch Giá đi đường thủy xuống Rừng U Minh Hạ của Cà Mau, thường sử dụng con sông mang tên Trèm Trẹm

Xem Thêm

NGƯỜI TRUNG QUỐC KHÔNG CÒN XẤU XÍ - Cánh Cò

Bá Dương – nhà thơ, nhà văn, nhà báo và sử gia được tờ The New York Times mệnh danh là “Voltaire của Trung Quốc” bởi tác phẩm “Người Trung Quốc Xấu Xí” ...

Xem Thêm