Văn Học & Nghệ Thuật

Thụy Khuê: Lời từ tạ hoạ sĩ Phạm Tăng (Ghi lại từ bài phát biểu ứng khẩu của tác giả trong tang lễ họa sĩ Phạm Tăng)

Sự cô đơn ở anh, cũng là yếu tố xây dựng và xác định nghệ thuật của anh, mang ba lớp áo: Nỗi cô đơn của người nghệ sĩ mà Nguyễn Tuân gọi là «pháp trường trắng»

Bà Phan Thị Hoàng Anh, quả phụ của họa sĩ Phạm Tăng
tại tang lễ của chồng.

Anh Phạm Tăng,

Trong gần một thế kỷ, ngoài gia đình anh đã sống với hội họa, thi ca và cô đơn.

Sự cô đơn ở anh, cũng là yếu tố xây dựng và xác định nghệ thuật của anh, mang ba lớp áo: Nỗi cô đơn của người nghệ sĩ mà Nguyễn Tuân gọi là «pháp trường trắng»là nỗi cô đơn của nhà văn trước trang giấy trắng mà chữ không đến, của họa sĩ, trước giá vẽ, nhưng đường nét mầu sắc không hiển hiện. Đó là sự cô đơn siêu hình của bất lực, mà nghệ sĩ nào cũng trải qua. Lớp cô đơn thứ nhì, ở anh, là sự cô đơn của người lưu vong trên đất khách, không tìm thấy ở đâu một chỗ trọ cho tâm hồn. Và lớp áo thứ ba, là sự cô đơn của con người trước cuộc sống và cái chết: ta, cô đơn khi gia đình đoàn tụ, cô đơn giữa chợ, giữa lễ hội tưng bừng, bởi ta sinh ra một mình và ta chết cũng một mình, không một người thân nào có thể chia sẻ. Ở anh, ở tác phẩm của anh là sự hội tụ của ba niềm cô đơn tuyệt đối đó.

Rồi con đường anh đi, những mốc cuộc đời anh, vô tình hay hữu ý, đều gắn bó với những mốc lịch sử của đất nước.

Năm 1954, đất nước chia đôi. Ở tuổi 30, anh vào Nam để «xây dựng cuộc đời mới», nhưng bi kịch cá nhân đầu tiên đã xẩy đến: Tâm, người yêu, người vợ trẻ bé bỏng, ra đi trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát, anh phải trực diện lần đầu với cái chết, cái chết của người thân yêu nhất, cái chết của tình yêu, cái chết mà anh cho rằng mình có trách nhiệm. Nhưng anh đã gạt bi kịch sang một bên, anh lăn lộn làm báo. Đây là thời kỳ hoạt kê, biếm họa, tranh anh nhạo báng những trịch thượng, những xâm phạm tự do của một chế độ. Anh đã thành danh trong sự nổi loạn của người nghệ sĩ, chống lại tất cả những cấm đoán dù dưới hình thức nào. Những tiếng cười của anh thời đó, thực ra chỉ che nỗi đau bên trong của một niềm tiếc thương, sầu nhớ, hối hận khôn nguôi.

– 1959, ở tuổi 34, anh sang Ý học thêm hội hoạ. Bắt đầu thời kỳ 15 năm mà anh goị là 15 năm lưu lạc của cô Kiều. Qua những năm trau dồi nghệ thuật, anh đã có những bằng cấp của viện Mỹ thuật Ý, anh đã đoạt những giải thưởng cao quý về hội họa; nhưng tất cả mọi nghệ sĩ chân chính đều biết bằng cấp và giải thưởng không bao giờ làm nên một họa sĩ tài năng.

Tất cả phát xuất từ chính người nghệ sĩ, ở anh, ngoài tài năng, là nội lực và suy tư.

Ở trường ốc Ý, anh đã nắm bắt được kỹ năng của nghệ thuật trừu tượng và phương pháp tôi luyện chất liệu. Từ đây, anh như cánh diều, bay bổng trên nền trời nghệ thuật với tất cả hành trang phải có của một nghệ sĩ thực thụ. Anh đã rời nghệ thuật hữu hình mà anh học từ trước, để tiến vào hội họa trừu tượng, vùng đất vô thể, vùng tự do mà anh có thể tung bay ngòi bút, theo tư tưởng, theo cảm xúc của riêng mình. Từ đây, một mình một cõi, anh đã tạo ra thế giới Phạm Tăng và thế giới này là xác thịt và tâm hồn anh. Chính thời gian này (1959-1975) anh sáng tác nhiều nhất, anh đã bôn ba mang tranh đi triển lãm khắp nơi, từ Ý, sang Hoà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, sang cả Brésil, Los Angeles… anh đã đọc được những bài báo của giới chuyên môn khâm phục tài năng anh. Nhưng 15 năm này cũng là quãng đời cô đơn nhất của anh: anh vẽ một mình những bức tranh ngoại khổ, anh chất từng mảng tranh lên xe đem đi triển lãm, một mình, đi ngày đêm trong gió mưa, băng giá của một Âu châu không chú ý đến tài năng của một người da vàng nhược tiểu; và người Việt không rành hội họa, không xem tranh, không tham dự. Người Việt thường chỉ chú ý đến việc anh đoạt giải này giải nọ, họ ca tụng những giải thưởng anh đoạt ở trời Tây như một vinh hạnh, nhưng không thiết tha tìm hiểu nghệ thuật của anh. Đó là niềm đau thứ nhì trong nỗi cô đơn của anh.

– 1975, là ngõ quặt thứ hai của đời anh: Anh chuyển từ đất Ý sang đất Pháp, tất nhiên vì hoàn cảnh riêng tư, nhưng cũng chính từ hoàn cảnh riêng tư này, lại thoát ra sự lựa chọn cuộc sống của con người: Bi kịch đất nước đã dồn bao nhiêu con thuyền di tản dạt ra biển Thái bình, và có lẽ anh muốn chấm dứt quãng đời 15 năm lưu lạc, để tiến đến một quãng đời bình yên hơn, gần gụi đồng bào anh, vừa bỏ nước ra đi; anh chọn đất Pháp. Có lẽ anh tin rằng đất Pháp sẽ là nơi đất lành chim đậu chăng? Nhưng sự thực không diễn ra như thế: dường như anh không ngờ đất Pháp lại nhắc nhở cho anh quá nhiều kỷ niệm đau thương trong quá khứ, thời niên thiếu, anh đã thấy những đán áp đẫm máu của thực dân Pháp trong những vụ càn quét Yên Mô, Ninh Bình, quê hương anh. Quá khứ hiện về, đậm nét. Anh sống hàng ngày những ám ảnh ấy, như một cơn ác mộng, một niềm hoang tưởng. Vậy anh có thể sáng tác được chăng? Sáng tác gì? Cho ai xem? Những câu hỏi khó đáp. Chưa kể còn phải chịu cảnh bon chen của một hoạ sĩ, khi phải «bán mình» cầu cạnh thế giới buôn tranh. Anh đã quyết định đoạn tuyệt, ngừng vẽ, và cũng từ đó, anh không dây dưa với người Pháp, không xin nhập tịch, không nhận trợ cấp y tế và bất cứ trợ cấp nào, anh về ẩn dật: «Xoá từ nay chữ Phạm Tăng; Cái danh vô nghiã làm thằng không tên». 

Nhưng không vẽ, không có nghĩa là dứt bỏ nghệ thuật. Anh trở về với thơ. Nói «trở về» bởi vì có lẽ chưa bao giờ anh «dứt» thơ.

Không biết anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ, nhưng rõ ràng là từ khi Tâm mất, anh mới có những câu thơ tuyệt vời, anh đã đục được vào bí mật của cái chết, anh biết rõ âm dương nối kết như thế nào. Anh tìm được đường đi lối về giữa sống và chết. Trong suốt thời kỳ sung mãn của hội họa, anh nuôi sống cảm hứng bằng tình yêu và cái chết, như thể tất cả những gì diễn trong hội họa, phát xuất từ Tâm thơ và tất cả những gì trong thơ phát xuất từ hội họa. Đối với anh thơ và họa không còn biên giới nữa, cũng như cõi tử, sinh, không hai, mà một.

Anh để lại hai kiệt tác hội hoạ : một bức anh đặt tên là Vũ trụ. Anh vẽ càn khôn với hằng hà tinh thể từ vi mô đến vĩ mô. Anh vẽ anh, bởi anh với vũ trụ là một: «Vũ trụ và tôi một bất phân».

Bức tranh thứ nhì anh không đặt tên, mỗi người xem, mỗi lần xem, có thể đặt cho nó một tên: sáng, nó là vũ trụ thiên thần; chiều, nó là vũ trụ mây mưa; trong mơ, nó là vũ trụ hằng nga khỏa thân trên cung Quảng…

Anh Phạm Tăng, hôm nay tiễn anh, em đặt tên nó là Thiên thai.

Chúc anh thuận gió bay về vũ trụ thiên thai mà anh đã sáng tạo và để lại cho đời.

Thụy Khuê

Paris, 18/1/2017

https://nghiathuc.wordpress.com/2017/01/23/thuy-khue-loi-tu-ta-hoa-si-pham-tang-ghi-lai-tu-bai-phat-bieu-ung-khau-cua-tac-gia-trong-tang-le-hoa-si-pham-tang/


Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Thụy Khuê: Lời từ tạ hoạ sĩ Phạm Tăng (Ghi lại từ bài phát biểu ứng khẩu của tác giả trong tang lễ họa sĩ Phạm Tăng)

Sự cô đơn ở anh, cũng là yếu tố xây dựng và xác định nghệ thuật của anh, mang ba lớp áo: Nỗi cô đơn của người nghệ sĩ mà Nguyễn Tuân gọi là «pháp trường trắng»

Bà Phan Thị Hoàng Anh, quả phụ của họa sĩ Phạm Tăng
tại tang lễ của chồng.

Anh Phạm Tăng,

Trong gần một thế kỷ, ngoài gia đình anh đã sống với hội họa, thi ca và cô đơn.

Sự cô đơn ở anh, cũng là yếu tố xây dựng và xác định nghệ thuật của anh, mang ba lớp áo: Nỗi cô đơn của người nghệ sĩ mà Nguyễn Tuân gọi là «pháp trường trắng»là nỗi cô đơn của nhà văn trước trang giấy trắng mà chữ không đến, của họa sĩ, trước giá vẽ, nhưng đường nét mầu sắc không hiển hiện. Đó là sự cô đơn siêu hình của bất lực, mà nghệ sĩ nào cũng trải qua. Lớp cô đơn thứ nhì, ở anh, là sự cô đơn của người lưu vong trên đất khách, không tìm thấy ở đâu một chỗ trọ cho tâm hồn. Và lớp áo thứ ba, là sự cô đơn của con người trước cuộc sống và cái chết: ta, cô đơn khi gia đình đoàn tụ, cô đơn giữa chợ, giữa lễ hội tưng bừng, bởi ta sinh ra một mình và ta chết cũng một mình, không một người thân nào có thể chia sẻ. Ở anh, ở tác phẩm của anh là sự hội tụ của ba niềm cô đơn tuyệt đối đó.

Rồi con đường anh đi, những mốc cuộc đời anh, vô tình hay hữu ý, đều gắn bó với những mốc lịch sử của đất nước.

Năm 1954, đất nước chia đôi. Ở tuổi 30, anh vào Nam để «xây dựng cuộc đời mới», nhưng bi kịch cá nhân đầu tiên đã xẩy đến: Tâm, người yêu, người vợ trẻ bé bỏng, ra đi trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát, anh phải trực diện lần đầu với cái chết, cái chết của người thân yêu nhất, cái chết của tình yêu, cái chết mà anh cho rằng mình có trách nhiệm. Nhưng anh đã gạt bi kịch sang một bên, anh lăn lộn làm báo. Đây là thời kỳ hoạt kê, biếm họa, tranh anh nhạo báng những trịch thượng, những xâm phạm tự do của một chế độ. Anh đã thành danh trong sự nổi loạn của người nghệ sĩ, chống lại tất cả những cấm đoán dù dưới hình thức nào. Những tiếng cười của anh thời đó, thực ra chỉ che nỗi đau bên trong của một niềm tiếc thương, sầu nhớ, hối hận khôn nguôi.

– 1959, ở tuổi 34, anh sang Ý học thêm hội hoạ. Bắt đầu thời kỳ 15 năm mà anh goị là 15 năm lưu lạc của cô Kiều. Qua những năm trau dồi nghệ thuật, anh đã có những bằng cấp của viện Mỹ thuật Ý, anh đã đoạt những giải thưởng cao quý về hội họa; nhưng tất cả mọi nghệ sĩ chân chính đều biết bằng cấp và giải thưởng không bao giờ làm nên một họa sĩ tài năng.

Tất cả phát xuất từ chính người nghệ sĩ, ở anh, ngoài tài năng, là nội lực và suy tư.

Ở trường ốc Ý, anh đã nắm bắt được kỹ năng của nghệ thuật trừu tượng và phương pháp tôi luyện chất liệu. Từ đây, anh như cánh diều, bay bổng trên nền trời nghệ thuật với tất cả hành trang phải có của một nghệ sĩ thực thụ. Anh đã rời nghệ thuật hữu hình mà anh học từ trước, để tiến vào hội họa trừu tượng, vùng đất vô thể, vùng tự do mà anh có thể tung bay ngòi bút, theo tư tưởng, theo cảm xúc của riêng mình. Từ đây, một mình một cõi, anh đã tạo ra thế giới Phạm Tăng và thế giới này là xác thịt và tâm hồn anh. Chính thời gian này (1959-1975) anh sáng tác nhiều nhất, anh đã bôn ba mang tranh đi triển lãm khắp nơi, từ Ý, sang Hoà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, sang cả Brésil, Los Angeles… anh đã đọc được những bài báo của giới chuyên môn khâm phục tài năng anh. Nhưng 15 năm này cũng là quãng đời cô đơn nhất của anh: anh vẽ một mình những bức tranh ngoại khổ, anh chất từng mảng tranh lên xe đem đi triển lãm, một mình, đi ngày đêm trong gió mưa, băng giá của một Âu châu không chú ý đến tài năng của một người da vàng nhược tiểu; và người Việt không rành hội họa, không xem tranh, không tham dự. Người Việt thường chỉ chú ý đến việc anh đoạt giải này giải nọ, họ ca tụng những giải thưởng anh đoạt ở trời Tây như một vinh hạnh, nhưng không thiết tha tìm hiểu nghệ thuật của anh. Đó là niềm đau thứ nhì trong nỗi cô đơn của anh.

– 1975, là ngõ quặt thứ hai của đời anh: Anh chuyển từ đất Ý sang đất Pháp, tất nhiên vì hoàn cảnh riêng tư, nhưng cũng chính từ hoàn cảnh riêng tư này, lại thoát ra sự lựa chọn cuộc sống của con người: Bi kịch đất nước đã dồn bao nhiêu con thuyền di tản dạt ra biển Thái bình, và có lẽ anh muốn chấm dứt quãng đời 15 năm lưu lạc, để tiến đến một quãng đời bình yên hơn, gần gụi đồng bào anh, vừa bỏ nước ra đi; anh chọn đất Pháp. Có lẽ anh tin rằng đất Pháp sẽ là nơi đất lành chim đậu chăng? Nhưng sự thực không diễn ra như thế: dường như anh không ngờ đất Pháp lại nhắc nhở cho anh quá nhiều kỷ niệm đau thương trong quá khứ, thời niên thiếu, anh đã thấy những đán áp đẫm máu của thực dân Pháp trong những vụ càn quét Yên Mô, Ninh Bình, quê hương anh. Quá khứ hiện về, đậm nét. Anh sống hàng ngày những ám ảnh ấy, như một cơn ác mộng, một niềm hoang tưởng. Vậy anh có thể sáng tác được chăng? Sáng tác gì? Cho ai xem? Những câu hỏi khó đáp. Chưa kể còn phải chịu cảnh bon chen của một hoạ sĩ, khi phải «bán mình» cầu cạnh thế giới buôn tranh. Anh đã quyết định đoạn tuyệt, ngừng vẽ, và cũng từ đó, anh không dây dưa với người Pháp, không xin nhập tịch, không nhận trợ cấp y tế và bất cứ trợ cấp nào, anh về ẩn dật: «Xoá từ nay chữ Phạm Tăng; Cái danh vô nghiã làm thằng không tên». 

Nhưng không vẽ, không có nghĩa là dứt bỏ nghệ thuật. Anh trở về với thơ. Nói «trở về» bởi vì có lẽ chưa bao giờ anh «dứt» thơ.

Không biết anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ, nhưng rõ ràng là từ khi Tâm mất, anh mới có những câu thơ tuyệt vời, anh đã đục được vào bí mật của cái chết, anh biết rõ âm dương nối kết như thế nào. Anh tìm được đường đi lối về giữa sống và chết. Trong suốt thời kỳ sung mãn của hội họa, anh nuôi sống cảm hứng bằng tình yêu và cái chết, như thể tất cả những gì diễn trong hội họa, phát xuất từ Tâm thơ và tất cả những gì trong thơ phát xuất từ hội họa. Đối với anh thơ và họa không còn biên giới nữa, cũng như cõi tử, sinh, không hai, mà một.

Anh để lại hai kiệt tác hội hoạ : một bức anh đặt tên là Vũ trụ. Anh vẽ càn khôn với hằng hà tinh thể từ vi mô đến vĩ mô. Anh vẽ anh, bởi anh với vũ trụ là một: «Vũ trụ và tôi một bất phân».

Bức tranh thứ nhì anh không đặt tên, mỗi người xem, mỗi lần xem, có thể đặt cho nó một tên: sáng, nó là vũ trụ thiên thần; chiều, nó là vũ trụ mây mưa; trong mơ, nó là vũ trụ hằng nga khỏa thân trên cung Quảng…

Anh Phạm Tăng, hôm nay tiễn anh, em đặt tên nó là Thiên thai.

Chúc anh thuận gió bay về vũ trụ thiên thai mà anh đã sáng tạo và để lại cho đời.

Thụy Khuê

Paris, 18/1/2017

https://nghiathuc.wordpress.com/2017/01/23/thuy-khue-loi-tu-ta-hoa-si-pham-tang-ghi-lai-tu-bai-phat-bieu-ung-khau-cua-tac-gia-trong-tang-le-hoa-si-pham-tang/


BẢN TIN MỚI NHẤT

Phòng thí nghiệm San Diego chỉ trong 3 giờ, tìm ra vắc xin trị COVID-19

Inovio Pharmaceuticals, có trụ sở đặt tại Sorrento Valley, nằm sát cạnh thành phố San Diego, trước đây đã từng chế ra thuốc vắc xin chống virus Zika...

Xem Thêm

Bỗng Nhiên - Nguyễn Chí Tuyến

Bỗng nhiên người dân Trung Quốc nhận ra đất nước của họ không hùng mạnh như lời đảng cộng sản nói mà liêu xiêu, lao đao trước một con siêu vi khuẩn nhỏ bé có tên corona.

Xem Thêm

CHIM BAY MỎI CÁNH. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Giữa trời mây nước bao la Chim bay mỏi cánh vẫn là đứng yên

Xem Thêm

Nhật hoàng Naruhito dùng tiếng Anh đón tiếp TT Trump

Ngày 27/5, Nhật hoàng Naruhito và Hoàng hậu Masako bất ngờ sử dụng tiếng Anh để chào đón

Xem Thêm

Báo Trung cộng ghi tiêu đề “Tới Vũ Hán đi” sau sự xuất hiện của ông Tập Cận Bình - Minh Lam

Vào ngày 10/2, sự xuất hiện hiếm hoi của ông Tập Cận Bình kể từ khi dịch virus corona bùng phát tại Vũ Hán, đã được truyền thông Trung cộng đưa tin rầm rộ.

Xem Thêm

Điểm Tin Chủ Nhật 16/02/2020

Ngoại trưởng TQ chỉ trích ‘phản ứng thái quá’ về dịch corona (VOA)

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Kìa quân tầu ô !!!!

"Kìa quân tầu ô !!!!" Nghe tựa đề bài này lại nhớ tói thời kỳ quân tầu phù được quân đồng minh điều vào giải giới vũ khí Nhật bản ! Hồi đó trẻ con chúng tôi thường hát: "Đoàn quân tầu ô đi, sao mà thối thế..." Đến giờ, bọn nó vẫn còn thối và càng ngày càng thối hơn !!!

Xem Thêm

Đề bài :Kìa quân tầu ô !!!!

"Kìa quân tầu ô !!!!" Nghe tựa đề bài này lại nhớ tói thời kỳ quân tầu phù được quân đồng minh điều vào giải giới vũ khí Nhật bản ! Hồi đó trẻ con chúng tôi thường hát: "Đoàn quân tầu ô đi, sao mà thối thế..." Đến giờ, bọn nó vẫn còn thối và càng ngày càng thối hơn !!!

Xem Thêm

Đề bài :Lần đầu tiên Không Quân Mỹ có tướng gốc Việt

Không Quân Mỹ đến bây giờ mới có Tướng gốc Việt, trước đây mấy chục năm Không Quân QLVNCH đã có mấy Tướng gốc Việt rồi, bỏ xa Không Quân Mỹ..

Xem Thêm

Đề bài :Ghê rợn!

Đoạn phim (video clip) ăn súp dơi không phải quay ở Vũ Hán mà là tại Palau, đảo quốc ở Thái Bình Dương. Nhân vật trong đó là blogger chuyên về du lịch Wang Mengyun (Vương Mộng Vân). Theo tờ South China Morning Post, cô Vương mới đây cho biết đoạn phim được quay vào năm 2016, đăng vào năm 2017, trong một chương trình giới thiệu các món ăn địa phương tại Palau, trong đó có món súp dơi.

Xem Thêm

Đề bài :Thêm một kẻ trở lưỡi theo giặc - Ông Bút ( Cập nhật )

Vào khoảng năm 1997 hay 98 gì đó,tôi vớ được 1 tờ báo chợ,tờ báo có nhiều trang và là 1 tờ báo mới xuất bản được vài số,tên tờ báo là Chính nghĩa do Há văn Sơn chủ trương.Đọc bài của HVS phê bình LM Phạm hữu Lễ về trường hợp của 1 cựu Đ/Uý làm ăng ten và đánh chết người bạn tù trong trại tù ngoài Bắc,tôi bèn chuyển cho người bạn cùng đang đứng nói chuyện xem và nói...Thằng nào viết báo mà lý luận ấu trĩ thế này mà dám đăng trên báo thì tôi phục nó thật...Quả thật,người bạn cũng đồng ý,từ văn viết cho đến lý luận chỉ đáng lớp 3 Tiểu học...vậy mà HVS dám làm báo.Đúng HVS xứng đáng danh liều mạng,điếc ko sợ súng.

Xem Thêm

Đề bài :MỘT LẦN XA BẾN - Mỹ Lệ

Một bài viết mang bao niềm thương mến sâu xa... Thật buồn ! Những kỷ niệm thân thương của "những ngày xưa thân ái" sẽ không bao giờ trở lại. Chân thành cảm ơn tác giả.

Xem Thêm

Đề bài :Nữ bác sĩ cơ bắp chữa khỏi nhiều ca nhiễm virus corona

Đọc bản tin này của Lão Phan,tôi nghi ngờ là 1 bút danh khác của tên TS chồng mụ Lê Phan...Cả 2 vợ chồng nhà này là công dân của Anh,gốc Việt,ko biết sao họ thù ghét Trump lộ liễu đến thế.Có thể họ đi theo khuynh hướng của Châu Âu,chống mọi thứ của Mỹ chăng ???

Xem Thêm

Đề bài :Cách Nhìn Trump của Nghệ Sĩ Da Đen Steve Harvey

Cho du Nancy va toan dang hoac ai do co thu ghet Mr.Trump toi co nao chang nua,cung nen nhin va xem xet thanh qua 03 nam ma ong va chinh phu da lam duoc cho dat nuoc nay( MY ).Nuoc My da lay lai duoc danh du-kham phuc cua moi quoc gia tren the gioi,cho du la ke thu nhu tau cong hien nay.Kinh te da tang truong,viec lam da tran day.Moi gian manh tro cap dang tu tu duoc cuu xet,tham dinh lai.Nghia la tien thue cua chung ta da it bi phung phi(ngoai tru con Lua)de xu dung sai cach va thiet hai cho chinh nguoi dong thue.Khong thich Trump ve tu cach:khong sao! khong thich Trump ve cach an noi : Khong sao! vi tat ca nhung cai khong thich,khong sao nay da vuc nuoc My dung day. Sau khi cu phai khom lung cui chao va xin loi lung tung ca.Su hen ha da qua,su ban thiu cua nha trang da qua va do moi la dieu chung ta THICH hay KHONG THICH TRUMP !

Xem Thêm

Đề bài :NHỮNG BÌNH LUẬN BÊN LỀ VỀ DIỄN VĂN LIEN BANG CỦA TT DONALD TRUMP

Toi nghiep ME DI va dong bon ,ngoi ngay nguoi nghe bon ho hoan ho va bi xi va khong kip vuot mat cho ca ban dan the gioi chiem nguong guong mat gian hung va dong bon. 03 nam tung hoanh ngang doc,mac suc ve rong ve ran du moi xau xa,ban thiu cho ke thu ( ? ) de gio day,ngoi tran minh don nhan moi phi nho da so nguoi.Chua het dau,con nhung oan hon cua cac bao thai nua,tieng keu cua chung da thau den troi cao.Bung lam da chiu !

Xem Thêm

Đề bài :Những Điều Ta Không Để Ý:

Hồi tâm ? Tác giả mấy tuổi ? Chệt Cộng và lũ Vịt Cộng khg bao giờ có 2 chữ “hồi tâm”..... Tội nghiệp tác giả quá !

Xem Thêm

TIN MỚI

Phòng thí nghiệm San Diego chỉ trong 3 giờ, tìm ra vắc xin trị COVID-19

Inovio Pharmaceuticals, có trụ sở đặt tại Sorrento Valley, nằm sát cạnh thành phố San Diego, trước đây đã từng chế ra thuốc vắc xin chống virus Zika...

Xem Thêm

Bỗng Nhiên - Nguyễn Chí Tuyến

Bỗng nhiên người dân Trung Quốc nhận ra đất nước của họ không hùng mạnh như lời đảng cộng sản nói mà liêu xiêu, lao đao trước một con siêu vi khuẩn nhỏ bé có tên corona.

Xem Thêm

CHIM BAY MỎI CÁNH. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Giữa trời mây nước bao la Chim bay mỏi cánh vẫn là đứng yên

Xem Thêm

Nhật hoàng Naruhito dùng tiếng Anh đón tiếp TT Trump

Ngày 27/5, Nhật hoàng Naruhito và Hoàng hậu Masako bất ngờ sử dụng tiếng Anh để chào đón

Xem Thêm

Báo Trung cộng ghi tiêu đề “Tới Vũ Hán đi” sau sự xuất hiện của ông Tập Cận Bình - Minh Lam

Vào ngày 10/2, sự xuất hiện hiếm hoi của ông Tập Cận Bình kể từ khi dịch virus corona bùng phát tại Vũ Hán, đã được truyền thông Trung cộng đưa tin rầm rộ.

Xem Thêm

Điểm Tin Chủ Nhật 16/02/2020

Ngoại trưởng TQ chỉ trích ‘phản ứng thái quá’ về dịch corona (VOA)

Xem Thêm

Diễn Hành Walk for Peace và Hội Chợ Đa Văn Hóa tại City Heights

Cộng Đồng Việt Nam San Diego phối hợp với trường Tiểu Học Rosa Parks tham dự cuộc diễn hành Walk for Peace và Hội Chợ Đa Văn Hóa tại Officer Jeremy Henwood Park.

Xem Thêm

Kìa quân tầu ô !!!!

Đợi đến khi nào dân Mỹ thấy tỵ nạn Việt mà bịt mũi, bịt mồm quay qua chỗ khác, khu Bolsa tại thủ đô Tỵ Nạn vắng teo như chùa Bà Đanh lúc bấy giờ nước đến chân…. hết nhảy!

Xem Thêm

Ánh Mắt Của Cha - Tác giả: Tâm Chánh

Nếu bây giờ ông Trời ban cho tôi một ước nguyện thì điều tôi sẽ cầu xin không một giây ngần ngại: xin cho Cha của tôi được sống lại dù chỉ là một ngày để Mẹ tôi có được niềm vui trước khi bà từ giã cõi đời

Xem Thêm

Ở THƠ TÌNH SẦU . - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Từ lâu, vâng đến bao giờ Đến bao giờ cũng ở thơ tình sầu

Xem Thêm