Thân Hữu Tiếp Tay...

Từ Ghép Và Láy Trong Tiếng Việt Có Đặc Điểm Gì? - Lê Bá Vận.

(HNPD) Tiếng Việt đơn âm tiết, số lượng từ hữu hạn, muốn làm giàu phải trông cậy nhiều vào các từ ghép.


                          Từ Ghép Và Láy Trong Tiếng Việt Có Đặc Điểm Gì?

                                  Từ ghép là gì? Vai trò của từ ghép trong câu 

Tiếng Việt đơn âm tiết, số lượng từ hữu hạn, muốn làm giàu phải trông cậy nhiều vào các từ ghép.


I) Giới Thiệu Mở Đầu. Từ “đơn” và “phức”.


+Từ “đơn” nội địa và ngoại lai.

    -Từ nội địa, xưa, gồm 1) từ Nôm, vd: vợ, con. 2) từ Hán Việt, vd: thê, tử. 3) từ riêng, thuộc dân tộc thiểu số, vd: họ Kbôr, tên Djrueng, dân tộc Jrai (tỉnh Gia Lai).

    -Từ ngoại lai, mượn từ thời Pháp thuộc, chủ yếu từ Pháp, Anh, vd: xăng, len, kem, fax.


+Từ “phức” kết nối nhiều từ đơn để tạo một nghĩa chung, vd: phú quý (2 từ), tất tần tật (3 từ), cha căng chú kiết (4 từ)… Trong từ phức thì từ đôi, (kết hợp 2 từ đơn), chiếm tuyệt đại đa số.

Từ đôi chia thành:

     -Từ ghép, là từ đôi ghép nghĩa, theo ngữ nghĩa. Từ vô nghĩa ít khi sử dụng.   

     -Từ láy, là từ đôi ghép âm, theo ngữ âm. Để láy phải sử dụng từ vô nghĩa.   


II) Từ Ghép.


1)  Cấu Trúc: Thuần và Lai.

     1.1-Từ ghép thuần. 

        a- thuần Nôm, vd: đất nước, xinh đẹp, ăn nói .

        b- thuần Hán, vd: giang sơn, tráng lệ, hữu tình.                          

        c- thuần Pháp, Anh, vd: lò xo, va li, cà rốt, mít tinh, ra đa (có thể là từ đơn đa âm tiết).

     1.2-Từ ghép lai. 

        a- lai Nôm-Hán: thầy giáo, lính thủy, trưởng lớp, sự việc, thất thiệt, xét xử, bác/bãi bỏ…

        b- lai Nôm-Pháp, Nôm-Anh: sữa, đèn pin, bia hơi… chạy , quần soọc, xe gíp ... 

        c- lai Hán-Pháp, Hán-Anh: trực gác, trưởng ga, kính lúp… tiền típ, nhạc rốc, vôn kế

   Từ lai (hybrid) là từ ghép khác gốc vd: television, tele gốc Hi Lạp, visio gốc Latin.


2) Phân Loại: Chính và Phụ.


      2.1- Từ ghép “chính chính” (đẳng lập).

Cả 2 từ trong từ đôi chính-chính quan trọng ngang bằng: giữa chúng có thể viết “và/hoặc”.

Chúng kết hợp theo ngữ nghĩa: 

a) liên quan (đa số): búa rìu, rừng núi, danh lợi, triển khai, đắng cay, cảm thông, thù hận. 

b) đồng nghĩa: chọn lựa, say mê, điên khùng, lạ kỳ, thăm viếng, kết nối, kiêng cữ; 

c) đối nghĩa: thu chi, đêm ngày, ít nhiều, rủi may, hay dở, phải trái, vui buồn.

Chúng cùng từ loại: danh từ, động từ hoặc tính từ. Đảo từ khá dễ, vd: mưa gió/gió mưa.

Chúng khái quát hóa, tổng hợp nghĩa, tạo ẩn dụ, vd: “sóng gió” chỉ cuộc đời chìm nổi.


     2.2- Từ ghép “chính phụ”, gồm từ gốc và từ bổ ngữ có liên quan giải thích, xác định.

Từ gốc đứng trước, từ bổ ngữ theo sau, quan trọng hơn, phù hợp văn phạm tiếng Việt.

Giữa 2 từ có thể đặt câu hỏi “gì?”. Ví dụ: xe đạp, tàu thủy, sâu đo, bọ gậy, lò ga… cướp biển.


     2.3- Từ ghép “phụ chính” áp dụng cho các từ đôi thuần Hán để phù hợp văn phạm tiếng Hán, là từ bổ ngữ, quan trọng, đứng trước từ gốc. Ví dụ: phi cơ (máy bay), hỏa tiễn (tên lửa), bạch hạc (hạc trắng), phó cáo (cáo phó, phó=tin buồn)… 

Các từ ghép có quan hệ chính, phụ không thể đảo từ, vd: xe máy khác máy xe. Chúng phân loại nghĩa, vd: xe ca, xe khách, xe lam, xe ôm… bạch mã, bạch vân, hải tặc, không tặc. 


2.4- Từ ghép “tự do”, chứa một, hoặc hai từ vô nghĩa, hoặc biến nghĩa, hoặc từ cổ xưa đã mất, vd: bếp núc, bồ kết, bù nhìn, chợ búa, già nua, giấy má, gió máy, góa bụa, búa xua, bâng quơ, tắc kè, iàu sụ… Chúng giống từ láy (xem dưới) về thành phần vô nghĩa nhưng thiếu yếu tố láy.

 

Có khi cũng có thể xem chúng là loại từ đơn đa âm tiết và đề nghị viết dính liền nhau, vd: “giànua”, “xecộ” tuy có khi cũng phải cẩn thận, vd: “đồngáng” có thể đọc 2 cách, chọn một.

Tiếng Trung Quốc la tinh hóa (pinyin=bính âm), cũng viết dính liền các từ đôi: 

Nóngshì = nông sự = đồng áng. Chēliàng = xa lượng = xe cộ.  Yuènán = Việt Nam.


III) Từ Láy.


1) Định Nghĩa. 1. Láy, 2. Láy từ và 3. Từ láy. 


  1.1- “Láy” là lặp lại, là phát âm lại, viết lại.


     1.2- “Láy từ” là láy phần trước của từ (chiếm đa số) hoặc láy phần sau của từ, hoặc cả hai.

Ví dụ từ “lấm”. Phần trước là phụ âm “l”, phần sau là vần “ấm”. 


Phần trước của từ, thông thường là một phụ âm; nếu là nguyên âm thì bất kỳ.

Phần sau của từ là vần của từ, kể cả dấu thanh.

Phải lặp lại đúng hoàn toàn 1 trong 2 phần ấy, vd: lấm lét (láy âm) hoặc lấm tấm (láy vần).

Từ láy “lăm lẳm” là láy phụ âm “l”, không láy vần vì vần “ăm” khác vần “ẳm”. 


Láy toàn bộ, vd: chang chang, choi choi, khăng khăng, lâng lâng, tà tà, thao thao… cũng hợp lệ.

Các từ láy toàn bộ này là do những từ vô nghĩa tạo lập và phải là từ vô nghĩa, nếu có nghĩa thì đó là từ ghép chính chính, sao chép lại từ, vd: ào ào, đen đen, lùn lùn, nao nao… 


     1.3- “Từ Láy” là từ vô nghĩa láy từ theo từ đứng trước, có nghĩa hoặc không. (1).


a) Từ Nôm, vd: “gặp gỡ, hớ hênh, sợ sệt, tròn trịa, vùng vằng…” (từ gốc, đứng trước có nghĩa) và: “chễm chệ, khề khà, lởn vởn, luộm thuộm, na ná, xúng xính…” (từ gốc vô nghĩa).

Nếu 2 từ đều có nghĩa thì đó là từ ghép, vd: buôn bán, đày đọa, gom góp, lỗi lầm, sa sút…    


b) Từ Hán Nôm, vd: bạc bẽo, dư dả, đãi đằng, hậu hĩnh, hiểm hóc … kỳ quặc, mỹ miều, não nề, ngại ngùng, ngạo nghễ … tập tành, thực thà, tục tằn/tĩu, túy lúy, văn vẻ… 

Các từ Hán tạo từ láy: “bạc, dư, hội, hung … khách, khát, khinh, khuyến… lạc, tạp, túy, văn” xem như trùng với từ Nôm (Việt hóa), và các từ Nôm láy theo thì chữ Hán không thể viết ra.

Trên thực tế chúng ta dùng nhuần nhuyễn các từ láy ấy mà không cần thiết biết là Hán Nôm. 


Nói chung sự láy từ trong các từ láy là tích cực và sáng tạo tuyệt mỹ, ngoại trừ các trường hợp thụ động, sao chép lại một từ có nghĩa sẵn, vd: kè kè, luôn luôn, oang oang, rành rành, vù vù…



2) Luật Đồng Nhóm. (Trầm Bổng). 


Luật “trầm bổng” bổ túc, bảo đảm tính hài thanh của từ láy. Nhóm thanh trầm (âm vực thấp) gồm 3 dấu: “huyền, ngã, nặng”; nhóm thanh bổng (âm vực cao) gồm 3 dấu: “không, hỏi, sắc”. 

Các từ láy tuân thủ luật đồng nhóm, chỉ kết hợp trong nhóm.

Ví dụ nhóm “huyền ngã nặng”: gần gụi, gần gũi, kèo nèo, lỗ chỗ, trọ trẹ, vội vã, sỗ sàng.

Ví dụ nhóm “không hỏi sắc”: rách rưới, rác rưởi, lăng nhăng, thỏ thẻ, xúm xít, hả hê, vu vơ. 


Để minh họa thêm, vd: âm ỉ/ầm ĩ, bấp bênh/bập bềnh, chơi vơi/chới với, lửng lơ/lững lờ, năn nỉ/nằn nì, rên rỉ/rền rĩ, thẩn thơ/thẫn thờ, thiết tha/thiệt thà, vất vả/vật vã, vơ vẩn/vờ vẫn… 


Luật đồng nhóm là cơ sở giúp xác định dấu “hỏi ngã” trong tiếng Việt, vd: giữ (giữ gìn), gửi (gửi gắm), nghĩ (nghĩ ngợi), nhảy (nhảy nhót), cãi (cãi cọ), dễ (dễ dàng)…


IV) Các Nhận Xét Về Đặc Điểm.


1) Từ Vô Nghĩa. Trong tiếng Việt, số lượng từ vô nghĩa rất nhiều, là nguyên liệu để tạo từ láy.

Ví dụ: “tươi, tười, tưới, tưởi, tưỡi, tượi” có 4 từ vô nghĩa “tười, tưởi, tưỡi, tượi”.

Trong từ láy có từ vô nghĩa thực thụ (đứng riêng vô nghĩa), ví dụ: “tưởi” trong “tức tưởi” và từ vô nghĩa chức năng, vd: “sủa” trong “sớm sủa”; “sủa” có nghĩa riêng, khác nghĩa của từ láy. 

Từ gốc cũng vậy, vd: “lật đật”= gấp. Lật có nghĩa riêng (lật lọng). Trong “săn sóc” thì cả hai từ đều biến nghĩa vì “săn sóc” không có nghĩa lùng bắt con sóc. 


Để phân biệt hữu hiệu, phải xem từ có thể đứng độc lập hay không, vd: từ “rỡ” là vô nghĩa vì phải kết hợp trong “rực rỡ, rạng rỡ, mừng rỡ, càn rỡ”.

Sự phân biệt này lắm lúc khó, đòi hỏi tra cứu. Vd: “mải mê”, là từ ghép vì mải=chăm chú. 

“Tham lam”, mặt ngoài thấy là từ láy song từ Hán có 贪婪 tānlán, đọc là tham lam.

Bồi hồi, châm chích/chước, hàm hồ, hoảng hốt, hống hách, liên miên, mê man, mưu mô, phản phúc, phảng phất, xa xỉ… cũng là các từ Hán hoàn toàn. “Hoàn toàn” cũng vậy, là từ ghép, viết được bằng chữ Hán.


Từ vô nghĩa hữu dụng trong tiếng Việt. Chúng được ghép với một từ có nghĩa để nới rộng ý, vd: già nua, bực dọc… nếu có thêm yếu tố lặp từ thì được gọi là từ láy, vd: già giặn, bực bội. Hai từ vô nghĩa láy kết hợp tạo những tân từ tuyệt tác, vd: bịn rịn, man mác, thổn thức, tỉ tê, ỡm ờ.

Xác định được từ vô nghĩa hoặc có nghĩa là quan trọng và giúp lập bảng từ ghép và láy:


Bảng từ ghép và láy. Chữ viết tắt N= từ có nghĩa, V= từ vô nghĩa.


1) 1N + 1N --> a) không láy = từ Ghép, vd: nắng mưa, bẩm báo, cá cơm, ruộng đồng.

                         b) có láy = từ Ghép (dạng láy), vd: khàn khàn, luôn luôn, phì phì, sơ sơ.

2) 1N + 1V --> a) có láy = từ Láy, vd: chậm chạp, khéo léo, rầu rĩ, tức tối, ngỡ ngàng.

                         b) không láy = từ Ghép tự do, vd: góa bụa, già khằn, cũ rich, chán phèo.

3) 1V + 1V --> a) có láy = từ Láy, vd: băn khoăn, bép xép, lẽo đẽo, thỉnh thoảng, khư khư. 

Nếu là danh từ định tên, vd: kền kền, tò vò = từ láy hoặc từ đơn đa âm tiết dạng láy.

                         b) không láy = ghép tự do, vd: bâng quơ, cà tửng, mè nheo, tắc kè.


2) Nhận Diện Từ Láy. Phải kiểm tra chặt chẽ 3 tiêu chí: 1) vô nghĩa. 2) láy từ. 3) nhóm thanh.


     2.1- Từ láy phải vô nghĩa, là điều kiện tiên quyết, có khả năng chỉnh sửa để nhại theo từ gốc làm mẫu. Tiếng Việt đơn âm tiết, có nhu cầu ghép từ, khi ta nói: “buồn” thì ghép thêm chữ “rầu” hoặc láy thêm chữ “bã” để tạo đôi lứa hài hòa.

-Các từ “bắt buộc, buồn bực, lầm lỡ, mềm mỏng, vung vãi…” chỉ là các từ ghép “chính chính”.


-Cũng vậy, các từ “bươm bướm, đo đỏ, lia/lìa lịa, nhè nhẹ, luôn luôn, khùng khùng…” có thể xem cả 2 từ đều có nghĩa, tức là ghép chính chính. Lý do nếu gặp 2 từ vần trắc thì từ đầu sẽ biến vần, thành vần bằng: “đỏ đỏ” đổi thành “đo đỏ”, nghe thuận tai hơn, ngoại trừ được lặp lại là một từ đôi vd: từ đôi ghép “đỏ đen” lặp từ sẽ thành “đỏ đỏ đen đen”.


     2.2- Từ láy phải láy đúng âm hoặc đúng vần. 

  a) Ở đầu từ, do có cùng cách đọc, các phụ âm “c= k= q”; “g” là “gh”, “ng’ cũng là “ngh”.

  Vd: kèn cựa, quẹo cọ, kỳ quặc và gồ ghề, ngông nghênh.

  b) Ở cuối từ, các nguyên âm kép của “u” như “ua, uă… uy” đọc là “a, ă… i” hoặc “oa, oă…i”.  

 Vd: bâng khuâng, lính quýnh, loanh quanh, loăng quăng, lớ quớ.

  c) Nếu là nguyên âm đầu từ (khuyết phụ âm) thì chúng láy bất kỳ với nhau, vd: “inh ỏi, ủ ê ”.  


     2.3- Từ láy phải đồng nhóm thanh (hài thanh), trầm hoặc bổng.

Các từ “dư dật, lơ là, la cà, lươn lẹo, phiền phức, sơ sài…” là kết hợp vi phạm nhóm thanh. 


     2.4- Khả năng đảo từ của từ ghép chính chính, vd: “ép nài/nài ép” giúp ích tốt tuy không toàn hảo hoặc đặc hiệu, vd: “non sông, gò bó” không thể đảo từ “sông non, bó gò”. Một số từ láy vô nghĩa loại láy âm đảo từ được, vd: bềnh bồng, dạt dào, khắt khe, lơi lả, miệt mài, ngạt ngào, sụt sùi, tả tơi, thẫn thờ, thiết tha, thơ thẩn, thướt tha, vất vơ, vơ vẩn, xạc xài, xạc xờ… 


3) Các sai phạm tiêu chí


     3.1- Vị trí từ. Từ có nghĩa đặt sau, trái với định nghĩa từ láy. 

Vd: bàu nhàu, khù khờ, lom khom, ngao ngán, nhút nhát, rắc rối, san sát, trớ trêu…


Đúng đắn thì từ có nghĩa phải đặt trước và từ láy là từ bổ ngữ, do quan hệ “chính phụ” có vị trí bắt buộc, là phải đứng sau, theo văn phạm tiếng Việt. 

Thí dụ với từ “nhỏ” ta có các từ láy: “nhỏ nhắn, nhỏ nhẻ, nhỏ nhen, nhỏ nhít, nhỏ nhoi…

Cũng như với từ “cá”, ta có các từ ghép: “cá biển, cá heo, cá gỗ, cá ngựa, cá voi v.v…

Lưu ý: Nhiều từ láy thực ra là từ ghép, vd: khắc khổ (2 từ Hán), chênh chếch/vênh, vày vò… 


     3.2- Nhóm thanh, kết hợp ngoài nhóm. Sai phạm này chiếm đa số (khả dĩ khoan dung?). 

Vd: bền bỉ, chói lọi, li bì, nài nỉ, niềm nở, phỉnh phờ, sa sầm, sóng soài, trơ trọi, ve vãn…


4) Hướng giải quyết các sai phạm. Có luật tất có vi phạm và ngoại lệ.

Trước tiên cần tìm hiểu nguyên nhân các sai phạm.


+ Sai phạm vị trí: từ có nghĩa đặt sau. Theo nguyên tắc thì từ có nghĩa không thể láy, vì bất biến. Do rất tình cờ, một từ có nghĩa có sẵn các điều kiện để láy đúng nên được sử dụng (và giữ nguyên hoặc đổi nghĩa), vd: bối rối, gãy gọn, bồn chồn (chồn không có nghĩa con chồn).

Và cũng có điệp từ, sao chép lại các từ có nghĩa như: đùng đùng, khàn khàn, luôn luôn, lù lù… 


+Sai phạm nhóm thanh. Trong thi phú luật gieo vần linh động, vd: vần “ang” láy đúng với ang/àng song có thể láy với “ưng/ường v.v…” Tương tự, các từ láy : “bền bỉ, hồ hởi, sơ sài, vỏn vẹn…”  dù kết hợp sai nhóm song phát âm nghe vẫn thuận tai (hài thanh) là chấp nhận được


Luật nhóm thanh chủ đích cũng chỉ để hài thanh. Kết hợp ngoài nhóm coi như hôn nhân dị chủng, không được hoan nghênh, toàn hảo song cũng là hôn nhân.


Có 2 khả năng giải quyết các sai phạm: 


     4.1- Chấp nhận ngoại lệ: khoan thứ: a) từ láy đỗ vớt, hoặc b) từ láy thứ cấp (phó bảng). 

     4.2- Phủ nhận ngoại lệ; gọi là từ giả láy, đặc biệt trường hợp sai phạm nhiều lỗi, vd: bí tỉ, bơ phờ, búa xua, cộc lốc, gọn lỏn, im lìm, tào lao, thao láo, thờ ơ, um tùm, xô bồ...  

Nếu vậy tập thể từ ghép đón nhận và sắp xếp chúng vào mục từ ghép tự do.


Tổng số các từ mang dấu hỏi ngã là 1270. Số lượng các từ láy là khoảng hai ngàn rưỡi, trên danh sách. Song còn rất nhiều từ bị bỏ sót, vd: bịn rịn, bê bối, cọc cạch, cự nự, đìu hiu, độc địa… lớ xớ, ngót nghét, sọm sẹm, võ vẽ, xét nét, xì xồ, xỉa xói… Các từ láy hợp lệ chiếm tuyệt đại đa số.

Từ láy có 1 hoặc cả 2 từ vô nghĩa, do đó số lượng từ vô nghĩa được sử dụng lên đến vài ngàn. 


V) Lời Kết. Trong tiếng Việt, từ đơn nội địa số lượng ít thay đổi; nhiều từ cũ không còn dùng, bù lại xuất hiện một số từ mới, đa số tiếng lóng: chảnh, nổ hoặc từ cũ nghĩa mới: bèo, cháy, chui… 

Từ ngoại lai thì vẫn được du nhập đều dặn, đặc biệt các từ ngữ về khoa học, kỹ thuật.


Từ ghép là nguồn cung cấp vô tận từ ngữ mới trong mọi lĩnh vực. Từ Hán Việt đóng góp vô cùng quan trọng. Vd: Trước đã có “giải thich, giải nghĩa”, nay có thêm: “kiến giải, giải trình, lý giải”.

Các thí dụ khác: trải nghiệm, quẹt thẻ, kích cỡ, sự cố, vấn nạn, thang cuốn, rửa tiền...


“Hồng hồng, tuyết tuyết. Mới ngày nào chửa biết cái chi chi… ” (Ca trù - Dương Khuê).

“Nao nao dòng nước uốn quanh. Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang…” (Kiều).

Những điệp từ các từ có nghĩa trên làm tăng tính chất thơ và khả năng biểu cảm. 

Hầu như mọi từ đều có thể lặp từ. (Tự tình - NCTrứ) (2). 


 “Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông rợ mấy nhà. (Bà huyện Thanh Quan”. Cùng với (Kiều càng) sắc sảo, mặn mà, rào rạt, tha thiết, thẹn thò, não nùng, xào xạc… các từ láy này biểu đạt thần tình nội tâm, âm thanh và ngoại cảnh, gây cảm xúc, ấn tượng. 


Các từ “xấu, nhỏ” thì “xấu xí, nhỏ nhắn” mô tả ngoại hình, “xấu xa, nhỏ nhen ” chỉ tâm hồn.

Từ ghép thì có xấu tốt, xấu đẹp, xấu bụng, xấu mặt… nhỏ to, nhỏ mọn, nhỏ nhẹ, nhỏ con…  


Từ láy là tuyệt tác, phong phú song đáng tiếc, không tạo thêm. Nguồn từ mới, chính là từ ghép.


Lê Bá Vận. (HNPD)


Chú Thích.


(1) Các từ láy có đối tượng tính từ, động từ và từ vô nghĩa, vd: khéo thì khéo léo, vụng thì vụng về, gầy thì gầy gò, mập thì mập mạp, lại còn “đẹp đẽ, xấu xí, méo mó, tròn trịa, đỏ đắn, trắng trẻo, vàng vọt, xanh xao... chạy chọt, nhảy nhót, lôi thôi lếch thếch”.  

Danh từ ít thích hợp cho láy từ, số lượng các danh từ được láy theo là giới hạn, vd: bạn bè, cây cối, mùa màng, máy móc, nợ nần, giặc giã, đất đai, chùa chiền, tuổi tác, gốc gác, chim chóc, ruột rà, thịt thà, xương xảu… đều có nghĩa khái quát, tổng hợp. 


Trường hợp danh từ đôi định tên, gồm 2 từ đơn vô nghĩa, thì đó là tên được đặt như vậy, vd: “ba ba, bòng bong, kền kền, chích chòe, chôm chôm, thuồng luồng, tò vò, thò lò...” có thể là từ láy, song  nên sắp xếp chúng vào loại từ đơn đa âm tiết dạng láy. 

Tên người thì có “Băng Băng, Doanh Doanh, Trân Trân, Ánh Anh…” đều là từ Hán ghép.


(2) Tự tình - Vất vất vơ vơ cũng nực cười! Căm căm cúi cúi có hơn ai ?
  Nay còn chị chị anh anh đó, Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
  Có có không không, lo hết kiếp, Khôn khôn, dại dại chết xong đời.
  Cho bằng láo láo lơ lơ vậy, Ngủ ngủ, ăn ăn, nói chuyện chơi. (Nguyễn Công Trứ?).

Các từ đôi: “vất vơ, căm cúi… ăn ngủ” điệp từ thành từ phức bốn từ, láy hoặc ghép tùy sự hiện diện từ vô nghĩa vd:  “vất vất vơ vơ”= láy và “ông ông mụ mụ”= ghép chính chính. 

--------


      

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Từ Ghép Và Láy Trong Tiếng Việt Có Đặc Điểm Gì? - Lê Bá Vận.

(HNPD) Tiếng Việt đơn âm tiết, số lượng từ hữu hạn, muốn làm giàu phải trông cậy nhiều vào các từ ghép.


                          Từ Ghép Và Láy Trong Tiếng Việt Có Đặc Điểm Gì?

                                  Từ ghép là gì? Vai trò của từ ghép trong câu 

Tiếng Việt đơn âm tiết, số lượng từ hữu hạn, muốn làm giàu phải trông cậy nhiều vào các từ ghép.


I) Giới Thiệu Mở Đầu. Từ “đơn” và “phức”.


+Từ “đơn” nội địa và ngoại lai.

    -Từ nội địa, xưa, gồm 1) từ Nôm, vd: vợ, con. 2) từ Hán Việt, vd: thê, tử. 3) từ riêng, thuộc dân tộc thiểu số, vd: họ Kbôr, tên Djrueng, dân tộc Jrai (tỉnh Gia Lai).

    -Từ ngoại lai, mượn từ thời Pháp thuộc, chủ yếu từ Pháp, Anh, vd: xăng, len, kem, fax.


+Từ “phức” kết nối nhiều từ đơn để tạo một nghĩa chung, vd: phú quý (2 từ), tất tần tật (3 từ), cha căng chú kiết (4 từ)… Trong từ phức thì từ đôi, (kết hợp 2 từ đơn), chiếm tuyệt đại đa số.

Từ đôi chia thành:

     -Từ ghép, là từ đôi ghép nghĩa, theo ngữ nghĩa. Từ vô nghĩa ít khi sử dụng.   

     -Từ láy, là từ đôi ghép âm, theo ngữ âm. Để láy phải sử dụng từ vô nghĩa.   


II) Từ Ghép.


1)  Cấu Trúc: Thuần và Lai.

     1.1-Từ ghép thuần. 

        a- thuần Nôm, vd: đất nước, xinh đẹp, ăn nói .

        b- thuần Hán, vd: giang sơn, tráng lệ, hữu tình.                          

        c- thuần Pháp, Anh, vd: lò xo, va li, cà rốt, mít tinh, ra đa (có thể là từ đơn đa âm tiết).

     1.2-Từ ghép lai. 

        a- lai Nôm-Hán: thầy giáo, lính thủy, trưởng lớp, sự việc, thất thiệt, xét xử, bác/bãi bỏ…

        b- lai Nôm-Pháp, Nôm-Anh: sữa, đèn pin, bia hơi… chạy , quần soọc, xe gíp ... 

        c- lai Hán-Pháp, Hán-Anh: trực gác, trưởng ga, kính lúp… tiền típ, nhạc rốc, vôn kế

   Từ lai (hybrid) là từ ghép khác gốc vd: television, tele gốc Hi Lạp, visio gốc Latin.


2) Phân Loại: Chính và Phụ.


      2.1- Từ ghép “chính chính” (đẳng lập).

Cả 2 từ trong từ đôi chính-chính quan trọng ngang bằng: giữa chúng có thể viết “và/hoặc”.

Chúng kết hợp theo ngữ nghĩa: 

a) liên quan (đa số): búa rìu, rừng núi, danh lợi, triển khai, đắng cay, cảm thông, thù hận. 

b) đồng nghĩa: chọn lựa, say mê, điên khùng, lạ kỳ, thăm viếng, kết nối, kiêng cữ; 

c) đối nghĩa: thu chi, đêm ngày, ít nhiều, rủi may, hay dở, phải trái, vui buồn.

Chúng cùng từ loại: danh từ, động từ hoặc tính từ. Đảo từ khá dễ, vd: mưa gió/gió mưa.

Chúng khái quát hóa, tổng hợp nghĩa, tạo ẩn dụ, vd: “sóng gió” chỉ cuộc đời chìm nổi.


     2.2- Từ ghép “chính phụ”, gồm từ gốc và từ bổ ngữ có liên quan giải thích, xác định.

Từ gốc đứng trước, từ bổ ngữ theo sau, quan trọng hơn, phù hợp văn phạm tiếng Việt.

Giữa 2 từ có thể đặt câu hỏi “gì?”. Ví dụ: xe đạp, tàu thủy, sâu đo, bọ gậy, lò ga… cướp biển.


     2.3- Từ ghép “phụ chính” áp dụng cho các từ đôi thuần Hán để phù hợp văn phạm tiếng Hán, là từ bổ ngữ, quan trọng, đứng trước từ gốc. Ví dụ: phi cơ (máy bay), hỏa tiễn (tên lửa), bạch hạc (hạc trắng), phó cáo (cáo phó, phó=tin buồn)… 

Các từ ghép có quan hệ chính, phụ không thể đảo từ, vd: xe máy khác máy xe. Chúng phân loại nghĩa, vd: xe ca, xe khách, xe lam, xe ôm… bạch mã, bạch vân, hải tặc, không tặc. 


2.4- Từ ghép “tự do”, chứa một, hoặc hai từ vô nghĩa, hoặc biến nghĩa, hoặc từ cổ xưa đã mất, vd: bếp núc, bồ kết, bù nhìn, chợ búa, già nua, giấy má, gió máy, góa bụa, búa xua, bâng quơ, tắc kè, iàu sụ… Chúng giống từ láy (xem dưới) về thành phần vô nghĩa nhưng thiếu yếu tố láy.

 

Có khi cũng có thể xem chúng là loại từ đơn đa âm tiết và đề nghị viết dính liền nhau, vd: “giànua”, “xecộ” tuy có khi cũng phải cẩn thận, vd: “đồngáng” có thể đọc 2 cách, chọn một.

Tiếng Trung Quốc la tinh hóa (pinyin=bính âm), cũng viết dính liền các từ đôi: 

Nóngshì = nông sự = đồng áng. Chēliàng = xa lượng = xe cộ.  Yuènán = Việt Nam.


III) Từ Láy.


1) Định Nghĩa. 1. Láy, 2. Láy từ và 3. Từ láy. 


  1.1- “Láy” là lặp lại, là phát âm lại, viết lại.


     1.2- “Láy từ” là láy phần trước của từ (chiếm đa số) hoặc láy phần sau của từ, hoặc cả hai.

Ví dụ từ “lấm”. Phần trước là phụ âm “l”, phần sau là vần “ấm”. 


Phần trước của từ, thông thường là một phụ âm; nếu là nguyên âm thì bất kỳ.

Phần sau của từ là vần của từ, kể cả dấu thanh.

Phải lặp lại đúng hoàn toàn 1 trong 2 phần ấy, vd: lấm lét (láy âm) hoặc lấm tấm (láy vần).

Từ láy “lăm lẳm” là láy phụ âm “l”, không láy vần vì vần “ăm” khác vần “ẳm”. 


Láy toàn bộ, vd: chang chang, choi choi, khăng khăng, lâng lâng, tà tà, thao thao… cũng hợp lệ.

Các từ láy toàn bộ này là do những từ vô nghĩa tạo lập và phải là từ vô nghĩa, nếu có nghĩa thì đó là từ ghép chính chính, sao chép lại từ, vd: ào ào, đen đen, lùn lùn, nao nao… 


     1.3- “Từ Láy” là từ vô nghĩa láy từ theo từ đứng trước, có nghĩa hoặc không. (1).


a) Từ Nôm, vd: “gặp gỡ, hớ hênh, sợ sệt, tròn trịa, vùng vằng…” (từ gốc, đứng trước có nghĩa) và: “chễm chệ, khề khà, lởn vởn, luộm thuộm, na ná, xúng xính…” (từ gốc vô nghĩa).

Nếu 2 từ đều có nghĩa thì đó là từ ghép, vd: buôn bán, đày đọa, gom góp, lỗi lầm, sa sút…    


b) Từ Hán Nôm, vd: bạc bẽo, dư dả, đãi đằng, hậu hĩnh, hiểm hóc … kỳ quặc, mỹ miều, não nề, ngại ngùng, ngạo nghễ … tập tành, thực thà, tục tằn/tĩu, túy lúy, văn vẻ… 

Các từ Hán tạo từ láy: “bạc, dư, hội, hung … khách, khát, khinh, khuyến… lạc, tạp, túy, văn” xem như trùng với từ Nôm (Việt hóa), và các từ Nôm láy theo thì chữ Hán không thể viết ra.

Trên thực tế chúng ta dùng nhuần nhuyễn các từ láy ấy mà không cần thiết biết là Hán Nôm. 


Nói chung sự láy từ trong các từ láy là tích cực và sáng tạo tuyệt mỹ, ngoại trừ các trường hợp thụ động, sao chép lại một từ có nghĩa sẵn, vd: kè kè, luôn luôn, oang oang, rành rành, vù vù…



2) Luật Đồng Nhóm. (Trầm Bổng). 


Luật “trầm bổng” bổ túc, bảo đảm tính hài thanh của từ láy. Nhóm thanh trầm (âm vực thấp) gồm 3 dấu: “huyền, ngã, nặng”; nhóm thanh bổng (âm vực cao) gồm 3 dấu: “không, hỏi, sắc”. 

Các từ láy tuân thủ luật đồng nhóm, chỉ kết hợp trong nhóm.

Ví dụ nhóm “huyền ngã nặng”: gần gụi, gần gũi, kèo nèo, lỗ chỗ, trọ trẹ, vội vã, sỗ sàng.

Ví dụ nhóm “không hỏi sắc”: rách rưới, rác rưởi, lăng nhăng, thỏ thẻ, xúm xít, hả hê, vu vơ. 


Để minh họa thêm, vd: âm ỉ/ầm ĩ, bấp bênh/bập bềnh, chơi vơi/chới với, lửng lơ/lững lờ, năn nỉ/nằn nì, rên rỉ/rền rĩ, thẩn thơ/thẫn thờ, thiết tha/thiệt thà, vất vả/vật vã, vơ vẩn/vờ vẫn… 


Luật đồng nhóm là cơ sở giúp xác định dấu “hỏi ngã” trong tiếng Việt, vd: giữ (giữ gìn), gửi (gửi gắm), nghĩ (nghĩ ngợi), nhảy (nhảy nhót), cãi (cãi cọ), dễ (dễ dàng)…


IV) Các Nhận Xét Về Đặc Điểm.


1) Từ Vô Nghĩa. Trong tiếng Việt, số lượng từ vô nghĩa rất nhiều, là nguyên liệu để tạo từ láy.

Ví dụ: “tươi, tười, tưới, tưởi, tưỡi, tượi” có 4 từ vô nghĩa “tười, tưởi, tưỡi, tượi”.

Trong từ láy có từ vô nghĩa thực thụ (đứng riêng vô nghĩa), ví dụ: “tưởi” trong “tức tưởi” và từ vô nghĩa chức năng, vd: “sủa” trong “sớm sủa”; “sủa” có nghĩa riêng, khác nghĩa của từ láy. 

Từ gốc cũng vậy, vd: “lật đật”= gấp. Lật có nghĩa riêng (lật lọng). Trong “săn sóc” thì cả hai từ đều biến nghĩa vì “săn sóc” không có nghĩa lùng bắt con sóc. 


Để phân biệt hữu hiệu, phải xem từ có thể đứng độc lập hay không, vd: từ “rỡ” là vô nghĩa vì phải kết hợp trong “rực rỡ, rạng rỡ, mừng rỡ, càn rỡ”.

Sự phân biệt này lắm lúc khó, đòi hỏi tra cứu. Vd: “mải mê”, là từ ghép vì mải=chăm chú. 

“Tham lam”, mặt ngoài thấy là từ láy song từ Hán có 贪婪 tānlán, đọc là tham lam.

Bồi hồi, châm chích/chước, hàm hồ, hoảng hốt, hống hách, liên miên, mê man, mưu mô, phản phúc, phảng phất, xa xỉ… cũng là các từ Hán hoàn toàn. “Hoàn toàn” cũng vậy, là từ ghép, viết được bằng chữ Hán.


Từ vô nghĩa hữu dụng trong tiếng Việt. Chúng được ghép với một từ có nghĩa để nới rộng ý, vd: già nua, bực dọc… nếu có thêm yếu tố lặp từ thì được gọi là từ láy, vd: già giặn, bực bội. Hai từ vô nghĩa láy kết hợp tạo những tân từ tuyệt tác, vd: bịn rịn, man mác, thổn thức, tỉ tê, ỡm ờ.

Xác định được từ vô nghĩa hoặc có nghĩa là quan trọng và giúp lập bảng từ ghép và láy:


Bảng từ ghép và láy. Chữ viết tắt N= từ có nghĩa, V= từ vô nghĩa.


1) 1N + 1N --> a) không láy = từ Ghép, vd: nắng mưa, bẩm báo, cá cơm, ruộng đồng.

                         b) có láy = từ Ghép (dạng láy), vd: khàn khàn, luôn luôn, phì phì, sơ sơ.

2) 1N + 1V --> a) có láy = từ Láy, vd: chậm chạp, khéo léo, rầu rĩ, tức tối, ngỡ ngàng.

                         b) không láy = từ Ghép tự do, vd: góa bụa, già khằn, cũ rich, chán phèo.

3) 1V + 1V --> a) có láy = từ Láy, vd: băn khoăn, bép xép, lẽo đẽo, thỉnh thoảng, khư khư. 

Nếu là danh từ định tên, vd: kền kền, tò vò = từ láy hoặc từ đơn đa âm tiết dạng láy.

                         b) không láy = ghép tự do, vd: bâng quơ, cà tửng, mè nheo, tắc kè.


2) Nhận Diện Từ Láy. Phải kiểm tra chặt chẽ 3 tiêu chí: 1) vô nghĩa. 2) láy từ. 3) nhóm thanh.


     2.1- Từ láy phải vô nghĩa, là điều kiện tiên quyết, có khả năng chỉnh sửa để nhại theo từ gốc làm mẫu. Tiếng Việt đơn âm tiết, có nhu cầu ghép từ, khi ta nói: “buồn” thì ghép thêm chữ “rầu” hoặc láy thêm chữ “bã” để tạo đôi lứa hài hòa.

-Các từ “bắt buộc, buồn bực, lầm lỡ, mềm mỏng, vung vãi…” chỉ là các từ ghép “chính chính”.


-Cũng vậy, các từ “bươm bướm, đo đỏ, lia/lìa lịa, nhè nhẹ, luôn luôn, khùng khùng…” có thể xem cả 2 từ đều có nghĩa, tức là ghép chính chính. Lý do nếu gặp 2 từ vần trắc thì từ đầu sẽ biến vần, thành vần bằng: “đỏ đỏ” đổi thành “đo đỏ”, nghe thuận tai hơn, ngoại trừ được lặp lại là một từ đôi vd: từ đôi ghép “đỏ đen” lặp từ sẽ thành “đỏ đỏ đen đen”.


     2.2- Từ láy phải láy đúng âm hoặc đúng vần. 

  a) Ở đầu từ, do có cùng cách đọc, các phụ âm “c= k= q”; “g” là “gh”, “ng’ cũng là “ngh”.

  Vd: kèn cựa, quẹo cọ, kỳ quặc và gồ ghề, ngông nghênh.

  b) Ở cuối từ, các nguyên âm kép của “u” như “ua, uă… uy” đọc là “a, ă… i” hoặc “oa, oă…i”.  

 Vd: bâng khuâng, lính quýnh, loanh quanh, loăng quăng, lớ quớ.

  c) Nếu là nguyên âm đầu từ (khuyết phụ âm) thì chúng láy bất kỳ với nhau, vd: “inh ỏi, ủ ê ”.  


     2.3- Từ láy phải đồng nhóm thanh (hài thanh), trầm hoặc bổng.

Các từ “dư dật, lơ là, la cà, lươn lẹo, phiền phức, sơ sài…” là kết hợp vi phạm nhóm thanh. 


     2.4- Khả năng đảo từ của từ ghép chính chính, vd: “ép nài/nài ép” giúp ích tốt tuy không toàn hảo hoặc đặc hiệu, vd: “non sông, gò bó” không thể đảo từ “sông non, bó gò”. Một số từ láy vô nghĩa loại láy âm đảo từ được, vd: bềnh bồng, dạt dào, khắt khe, lơi lả, miệt mài, ngạt ngào, sụt sùi, tả tơi, thẫn thờ, thiết tha, thơ thẩn, thướt tha, vất vơ, vơ vẩn, xạc xài, xạc xờ… 


3) Các sai phạm tiêu chí


     3.1- Vị trí từ. Từ có nghĩa đặt sau, trái với định nghĩa từ láy. 

Vd: bàu nhàu, khù khờ, lom khom, ngao ngán, nhút nhát, rắc rối, san sát, trớ trêu…


Đúng đắn thì từ có nghĩa phải đặt trước và từ láy là từ bổ ngữ, do quan hệ “chính phụ” có vị trí bắt buộc, là phải đứng sau, theo văn phạm tiếng Việt. 

Thí dụ với từ “nhỏ” ta có các từ láy: “nhỏ nhắn, nhỏ nhẻ, nhỏ nhen, nhỏ nhít, nhỏ nhoi…

Cũng như với từ “cá”, ta có các từ ghép: “cá biển, cá heo, cá gỗ, cá ngựa, cá voi v.v…

Lưu ý: Nhiều từ láy thực ra là từ ghép, vd: khắc khổ (2 từ Hán), chênh chếch/vênh, vày vò… 


     3.2- Nhóm thanh, kết hợp ngoài nhóm. Sai phạm này chiếm đa số (khả dĩ khoan dung?). 

Vd: bền bỉ, chói lọi, li bì, nài nỉ, niềm nở, phỉnh phờ, sa sầm, sóng soài, trơ trọi, ve vãn…


4) Hướng giải quyết các sai phạm. Có luật tất có vi phạm và ngoại lệ.

Trước tiên cần tìm hiểu nguyên nhân các sai phạm.


+ Sai phạm vị trí: từ có nghĩa đặt sau. Theo nguyên tắc thì từ có nghĩa không thể láy, vì bất biến. Do rất tình cờ, một từ có nghĩa có sẵn các điều kiện để láy đúng nên được sử dụng (và giữ nguyên hoặc đổi nghĩa), vd: bối rối, gãy gọn, bồn chồn (chồn không có nghĩa con chồn).

Và cũng có điệp từ, sao chép lại các từ có nghĩa như: đùng đùng, khàn khàn, luôn luôn, lù lù… 


+Sai phạm nhóm thanh. Trong thi phú luật gieo vần linh động, vd: vần “ang” láy đúng với ang/àng song có thể láy với “ưng/ường v.v…” Tương tự, các từ láy : “bền bỉ, hồ hởi, sơ sài, vỏn vẹn…”  dù kết hợp sai nhóm song phát âm nghe vẫn thuận tai (hài thanh) là chấp nhận được


Luật nhóm thanh chủ đích cũng chỉ để hài thanh. Kết hợp ngoài nhóm coi như hôn nhân dị chủng, không được hoan nghênh, toàn hảo song cũng là hôn nhân.


Có 2 khả năng giải quyết các sai phạm: 


     4.1- Chấp nhận ngoại lệ: khoan thứ: a) từ láy đỗ vớt, hoặc b) từ láy thứ cấp (phó bảng). 

     4.2- Phủ nhận ngoại lệ; gọi là từ giả láy, đặc biệt trường hợp sai phạm nhiều lỗi, vd: bí tỉ, bơ phờ, búa xua, cộc lốc, gọn lỏn, im lìm, tào lao, thao láo, thờ ơ, um tùm, xô bồ...  

Nếu vậy tập thể từ ghép đón nhận và sắp xếp chúng vào mục từ ghép tự do.


Tổng số các từ mang dấu hỏi ngã là 1270. Số lượng các từ láy là khoảng hai ngàn rưỡi, trên danh sách. Song còn rất nhiều từ bị bỏ sót, vd: bịn rịn, bê bối, cọc cạch, cự nự, đìu hiu, độc địa… lớ xớ, ngót nghét, sọm sẹm, võ vẽ, xét nét, xì xồ, xỉa xói… Các từ láy hợp lệ chiếm tuyệt đại đa số.

Từ láy có 1 hoặc cả 2 từ vô nghĩa, do đó số lượng từ vô nghĩa được sử dụng lên đến vài ngàn. 


V) Lời Kết. Trong tiếng Việt, từ đơn nội địa số lượng ít thay đổi; nhiều từ cũ không còn dùng, bù lại xuất hiện một số từ mới, đa số tiếng lóng: chảnh, nổ hoặc từ cũ nghĩa mới: bèo, cháy, chui… 

Từ ngoại lai thì vẫn được du nhập đều dặn, đặc biệt các từ ngữ về khoa học, kỹ thuật.


Từ ghép là nguồn cung cấp vô tận từ ngữ mới trong mọi lĩnh vực. Từ Hán Việt đóng góp vô cùng quan trọng. Vd: Trước đã có “giải thich, giải nghĩa”, nay có thêm: “kiến giải, giải trình, lý giải”.

Các thí dụ khác: trải nghiệm, quẹt thẻ, kích cỡ, sự cố, vấn nạn, thang cuốn, rửa tiền...


“Hồng hồng, tuyết tuyết. Mới ngày nào chửa biết cái chi chi… ” (Ca trù - Dương Khuê).

“Nao nao dòng nước uốn quanh. Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang…” (Kiều).

Những điệp từ các từ có nghĩa trên làm tăng tính chất thơ và khả năng biểu cảm. 

Hầu như mọi từ đều có thể lặp từ. (Tự tình - NCTrứ) (2). 


 “Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông rợ mấy nhà. (Bà huyện Thanh Quan”. Cùng với (Kiều càng) sắc sảo, mặn mà, rào rạt, tha thiết, thẹn thò, não nùng, xào xạc… các từ láy này biểu đạt thần tình nội tâm, âm thanh và ngoại cảnh, gây cảm xúc, ấn tượng. 


Các từ “xấu, nhỏ” thì “xấu xí, nhỏ nhắn” mô tả ngoại hình, “xấu xa, nhỏ nhen ” chỉ tâm hồn.

Từ ghép thì có xấu tốt, xấu đẹp, xấu bụng, xấu mặt… nhỏ to, nhỏ mọn, nhỏ nhẹ, nhỏ con…  


Từ láy là tuyệt tác, phong phú song đáng tiếc, không tạo thêm. Nguồn từ mới, chính là từ ghép.


Lê Bá Vận. (HNPD)


Chú Thích.


(1) Các từ láy có đối tượng tính từ, động từ và từ vô nghĩa, vd: khéo thì khéo léo, vụng thì vụng về, gầy thì gầy gò, mập thì mập mạp, lại còn “đẹp đẽ, xấu xí, méo mó, tròn trịa, đỏ đắn, trắng trẻo, vàng vọt, xanh xao... chạy chọt, nhảy nhót, lôi thôi lếch thếch”.  

Danh từ ít thích hợp cho láy từ, số lượng các danh từ được láy theo là giới hạn, vd: bạn bè, cây cối, mùa màng, máy móc, nợ nần, giặc giã, đất đai, chùa chiền, tuổi tác, gốc gác, chim chóc, ruột rà, thịt thà, xương xảu… đều có nghĩa khái quát, tổng hợp. 


Trường hợp danh từ đôi định tên, gồm 2 từ đơn vô nghĩa, thì đó là tên được đặt như vậy, vd: “ba ba, bòng bong, kền kền, chích chòe, chôm chôm, thuồng luồng, tò vò, thò lò...” có thể là từ láy, song  nên sắp xếp chúng vào loại từ đơn đa âm tiết dạng láy. 

Tên người thì có “Băng Băng, Doanh Doanh, Trân Trân, Ánh Anh…” đều là từ Hán ghép.


(2) Tự tình - Vất vất vơ vơ cũng nực cười! Căm căm cúi cúi có hơn ai ?
  Nay còn chị chị anh anh đó, Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
  Có có không không, lo hết kiếp, Khôn khôn, dại dại chết xong đời.
  Cho bằng láo láo lơ lơ vậy, Ngủ ngủ, ăn ăn, nói chuyện chơi. (Nguyễn Công Trứ?).

Các từ đôi: “vất vơ, căm cúi… ăn ngủ” điệp từ thành từ phức bốn từ, láy hoặc ghép tùy sự hiện diện từ vô nghĩa vd:  “vất vất vơ vơ”= láy và “ông ông mụ mụ”= ghép chính chính. 

--------


      

BẢN TIN MỚI NHẤT

Mắm Huế

Huế có nhiều loại mắm như mắm cá rò, tôm chua, mắm ruốc..., mỗi loại được dùng cho một món ăn khác nhau, tạo nên hương vị riêng.

Xem Thêm

Khúc giò chặt nhất phố

Nắng Hà Nội em đi mà chợt bão

Xem Thêm

Một cảnh sát New York bị bắt vì nghi là gián điệp của Trung Quốc --- (Tác giả : Nguyễn Minh-NTDVN)

Cảnh sát New York Angwang bị buộc tội làm gián điệp cho chính quyền Trung Quốc, thực hiện hành vi gian lận điện tử, khai báo gian dối và cản trở một việc thi hành công vụ.

Xem Thêm

Khi đấ nước tôi không còn chiến tranh... - Nguyễn Bá Chổi.

(HNPD) Khi đấ nước tôi không còn chiến tranh... - Nguyễn Bá Chổi.

Xem Thêm

Thế giới hôm nay: 23/09/2020

Thượng nghị sĩ Mitt Romney cho biết ông sẽ ủng hộ tổ chức bỏ phiếu ứng cử viên Tòa án Tối cao của Tổng thống Donald Trump.

Xem Thêm

Bắc Kinh không che giấu quan ngại về tân bộ trưởng Quốc Phòng Nhật Bản

Tuy nhiên, một thay đổi ở chức vụ then chốt là bộ trưởng Quốc Phòng đã rất được chú ý, đặc biệt là từ phía Trung Quốc. Bắc Kinh đã để lộ thái độ quan ngại.

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Video Một số người Việt hợp tác với BLM đến nhà ông Tony Phạm, Giám đốc ICE quấy phá, gây rối

Da sang duoc den noi nay,noi ma rat dong nguoi,moi nuoc tren the gioi deu mo uoc.Thi da la mot may man,vay hay hoc hoi nhung cai tot cua ho va loai bo nhung cai xau cua minh.Hay tuan thu moi luat phap cua nuoc da mo rong vong tay cho minh dung than.Nhung vi pham luat phap du voi ly do nao chang nua,cung phai bi xet xu,Khi do dung meu mao,dung keu oan vi PHAP BAT VI THAN.Hay bo chut thi gio nhin lai phia sau lung minh,dung vi mot chut it loi loc ma mang hoa vao than.Xin nhac lai My no rat ngu,chinh vi vay ma no dung dau the gioi.

Xem Thêm

Đề bài :Ngôn Ngữ Luật Rừng

Ngộ thiệt, ở nước CHXHCNVN, những người làm lớn, những người thuộc hạng tinh hoa của đất nước mang danh tri thức để khai phóng dân trí, m̃ỗi khi phát biểu thì toàn những lời ngáo đá...?? quái dị....??, vô nghĩa vậy mà họ vẫn không cảm thấy xấu hổ chút nào...?? Học tặp và làm theo tư tưởng đạo đức của Bác..mà như vậy sao..?? Phải chăng cái nền gíao dục bạo lực cách mạng nó phải thế mới là người kiểu mẫu trong xã hội chủ nghĩa...?? Bó tay với đạo đức xã hội VN đang bị nguy hiểm.....???

Xem Thêm

Đề bài :'Nam giới mặc áo dài, mang giày Tây đen đi làm mới đẹp'

Mặc quần áo thế này sao mà làm việc đi vệ sinh được😖😫😷😷??????

Xem Thêm

Đề bài :Ông Biden sẽ trừng phạt các hoạt động ở nước ngoài và khuyến khích sản xuất trong nước

Viec cho gi ma ong cu phai loay hoay tim kiem ke sach nay no?Ke sach thi day day ngay ben canh,Ong co tai ngui toc de phan biet mui vi,thi can phai hoc hoi them thoi ken saxo va khi do thi ong cung can lay gan,lay hoi de thoi bang cach cui gap minh.Con cai vu noi lao thi phai hoi mu nancy.Oi ! bai hoc va ke sach day day,so vao dau cung co san.A ! con cai vu hay qui,ong da di dung bai ban khi chon lua nguoi dung ke can ben minh.No da mang than ra lam cai thang tien than thi : Hop nhau nha!Chuc mung Dan !

Xem Thêm

Đề bài :Ngôn Ngữ Luật Rừng

Luật sư ??? Cái luật "tiên sư nó" thì có !!! Con quỷ cái này sẽ gặp quả báo không đâm đầu vào ô tô thì cũng cửa nhà tan nát. Xin thắp một nén hương để tưởng nhớ đến cụ Lê Đình Kình.

Xem Thêm

Đề bài :Vị Thủ Tướng Thông Minh Nhất Thế Giới

Thằng Niểng ba xạo nầy làm thủ vĩ thi đúng như Lary De King nói: Việt Nam - Một đất nước thật tộ nghiệp"

Xem Thêm

Đề bài :Cảnh báo: Trò lừa vote by Mail

Dang no lay bieu tuong la LUA,thi di nhien trong dang ,tu thuong tang dang truong obama den thang( con ) tep riu deu LUA ca,bay gio dua ten DAN ra thi no cung la pho dang LUA.Vi vay he cai dang LUA nay no noi,no lam thi can than keo MAC LUA ca nuoc. Cu nhin thang dang truong,pho dang va bon LUA dan anh-lua dan chi trong ha vien thi thay ngay,no la phai cam cui viet tay va mat cong di bo vao thung cho no LUA a !?!

Xem Thêm

Đề bài :Con gái Huỳnh Thục Vy không được đến trường vì ‘là con phản động’

Đọc tin này ai mà không phẫn nộ trước chính sách trù đập của VGCS, còn hơn cả thời phong kiến....VGCS chỉ nói để bịp dân là hay, còn trên thực tế thì đang theo đuổi một chính sách trù dập ba thế hệ mới thoả lòng căm thù dân.... Những tên Bưng bô/Dlv/AK47/Bò đỏ/phản phé/ăn no rửng mỡ trong và ngoài nước luôn luôn to mồm nói NNVC là nhà nước văn minh dăn chủ, công băng với mọi người... Khi đọc tin này hãy thử viết vài lời bênh vực cho NNVC coi có xuông không...??? Không nén được tiếng thét Đờ Mờ VGCS...!!! Nhân dân VN đã sáng mắt chưa..?? hay vẫn nói con cháu mình còn được đi học là OK...???

Xem Thêm

Đề bài :Liệu Mỹ có ‘nguy cơ’ biến thành một nước Xã Hội Chủ Nghĩa như Việt Nam hay không?

Neu XHCN tot dep,Neu chu nghia CS tot dep,thi : Khong he co nguoi nao tren the gioi nay di TY NAN CONG SAN.Nguoc thoi gian,hay nhin buc tuong Berlin,hay nhin quoc gia gan nhat sat nach minh CUBA va hang ngay truyen thong quoc te da noi gi ve CS N.Korea ? da noi gi ve china virus cua china CS.Da noi gi ve CS Vietnam...etc...Dung de bon cho de lua bip nua.Dung de chung ho hao dat nuoc la cua chung,dung de chung ho hao nha giau boc lot,nhung hay nhin vao cac lanh tu cua china CS:Tai san cua ho day ap cac ngan hang Thuy si.Hay nhin o california,gioi tu ban do mua nha-bat dong san hoan toan bang tien mat,trong khi do :hay nhin dan chung cua cac nuoc CS ho song ra sao ? Ly thuyet CS rat tot dep cho nhung nguoi luoi bieng,ngheo doi vi khong chiu di lam,rat tot cho nhung nguoi ngheo vi du moi ly do,Nhung xin bao cho qui ban biet,Nguoi ngheo nhat o My cung co may lanh,cung biet xu dung may giat-may xay-cung co tu lanh chua do an va tren het,KHONG PHAI XEP HANG CHO CHUC CA NGAY DE XIN MIENG AN do la Cong San va do la CNXH.

Xem Thêm

TIN MỚI

Khi đấ nước tôi không còn chiến tranh... - Nguyễn Bá Chổi.

(HNPD) Khi đấ nước tôi không còn chiến tranh... - Nguyễn Bá Chổi.

Xem Thêm

Thế giới hôm nay: 23/09/2020

Thượng nghị sĩ Mitt Romney cho biết ông sẽ ủng hộ tổ chức bỏ phiếu ứng cử viên Tòa án Tối cao của Tổng thống Donald Trump.

Xem Thêm

Bắc Kinh không che giấu quan ngại về tân bộ trưởng Quốc Phòng Nhật Bản

Tuy nhiên, một thay đổi ở chức vụ then chốt là bộ trưởng Quốc Phòng đã rất được chú ý, đặc biệt là từ phía Trung Quốc. Bắc Kinh đã để lộ thái độ quan ngại.

Xem Thêm

Người Nữ Tu trong Cô Nhi Viện Pleiku - Phạm Tín An Ninh

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số.

Xem Thêm

HỨNG OAN KHIÊN. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Con khẩn cầu ngài mau cứu thế Lòng con tan nát tự hôm nay...

Xem Thêm

Thế Nào là Police, Thế Nào là Sheriff?

Tại Hoa Kỳ vì mước quá lớn và có nhiều trách nhiệm khác nhau được phân định rõ ràng do đó nó có nhiều cái tên khác nhau.

Xem Thêm

Sài Gòn xưa: Bia La De Trái Thơm – Sự thật và truyền thuyết - TS Phan Văn Song

Câu chuyện thường được mọi người nhớ về bia La De, thường hỏi tôi, là chuyện chai La De lớn đặc biệt gọi là La De Trái Thơm.

Xem Thêm

Vươn ra biển lớn - Nguyễn Bá Chổi.

(HNPD) Vươn ra biển lớn - Nguyễn Bá Chổi.

Xem Thêm

Thế giới hôm nay: 22/09/2020

Cổ phiếu toàn cầu giảm khi ngày càng có nhiều dự đoán các chính phủ châu Âu sẽ áp đặt các biện pháp phong tỏa mới để kiểm soát covid-19.

Xem Thêm

Lá cờ Vàng vẫn mãi mãi nằm trong tim người lính Mỹ.

Một nỗi nhức nhối mà người Mỹ không thể nào quên.

Xem Thêm