Mỗi Ngày Một Chuyện
Văn Quang: Ngày Xưa Làm Báo Tết
Hằng năm cứ đến ngày giáp Tết Âm Lịch, mọi người đều thấy các cửa
hàng bán báo rực rỡ hẳn lên bởi hình bìa của những tờ báo xuân. Đủ thứ
màu sắc của những tờ báo khổ lớn treo toòng teng trên những chiếc dây
trước sạp báo phay phất phới, không khác gì những cái lồng đèn Trung
Thu. Những tờ báo khổ nhỏ, hầu hết là những tờ tuần báo hoặc đặc san nằm
dưới kệ hàng cũng được tô điểm sặc sỡ báo hiệu mùa xuân đang về. Mùa
xuân dường như bắt đầu từ đấy. Và mỗi nhà thường mua một tờ báo Xuân,
đôi khi đợi Tết trưng ra trong phòng khách cho vui cửa vui nhà. Điều đó
không hẳn là một tục lệ mà chỉ là thói quen, một thứ thói quen đáng yêu
của hầu hết người Việt chúng ta dù bất cứ ở đâu. Nó cũng như cái hình
ảnh của nhà thơ Vũ Đình Liên:
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua”
Hình ảnh ông đồ già có thể mất dần theo năm tháng, nhưng những tờ báo
thì vẫn còn y nguyên từ thời xa xưa cho tới thời nay, chắc chắn nó sẽ
còn mãi mãi, cho dù nhiều bạn lo xa rằng báo in có thể “chết dần”
bởi thời đại internet. Nhưng internet không thể bày ra bàn, không thể
trang trí cho phòng khách của ngôi nhà, không thể mang linh hồn của mùa
xuân đến từng người đọc, không thể mang hương vị ấm cúng cho cả gia đình
bạn và cũng không thể mang cả mùa xuân tô điểm cho phố phường của bạn.
Hình bìa những tờ báo thường bao giờ cũng có những người đẹp, những giai
nhân đủ loại từ ca sĩ đến tài tử màn ảnh, từ cô gái nông thôn đến thành
thị uốn lượn đủ kiểu trên sạp báo còn hơn là một cuộc thi sắc đẹp. Bạn
không thích thú sao? Ngắm free mà. Và chỉ có năm hết Tết đến mới có cái
cảnh ấy.
Tất cả những thứ đó khiến tôi nhớ đến cái không khí làm báo Tết thời xa
xưa. Hồi đó bạn làm được một tờ báo ra hằng ngày hay hằng tuần đã khó
khăn lắm rồi chứ chưa nói đến làm báo Tết. Ngày nay làm báo chỉ cần đánh
máy cho lên máy in, nó chạy rèn rẹt ra luôn ba bốn năm màu và hàng chục
ngàn số trong một vài giờ, được đóng sẵn sàng đưa ra thị trường. Ngày
xưa thì khác….
Cái thời đại typo
Vâng, phải nói chính xác đó là thời đại mới ra lò của những tờ báo,
thời đại in typo. Trước hết là những con chữ được đúc bằng kẽm hay bằng
chì, từng chữ một, mỗi chữ xếp vào một cái bát hay một ngăn dưới tay
người thợ, gọi là thợ sắp chữ. Phải sắp từng chữ một và chữ in nghiêng
phải được tác giả viết bài hay anh Tổng thư ký tòa soạn phải gạch dưới
bản thảo đánh máy hay viết tay hàng chữ “ital” chữ viết tắt của
italic. Đấy chỉ là một thí dụ. Còn có hàng chục ký hiệu như thế nữa
dành cho hàng chữ in đậm, sửa dấu sắc huyền hỏi ngã, thêm chữ vào dòng,
bớt chữ đi. Anh thợ “cả” được gọi là chef typo chịu trách nhiệm chung cho trang báo đó, phải xem lại từng trang.
Còn muốn đưa một tấm hình vào trang báo, phải làm bản kẽm. Tôi nhớ hồi
đó ở Sài Gòn có Cliché Dàu là nơi cung cấp những bản kẽm cho các nhà in
và các báo. Khuôn khổ bức hình ra sao để nó nằm gọn lỏn trong trang báo
phải được tính toán trước hết. Đến lúc thợ lên khuôn mới đưa vào bài báo
được.
Trước khi in, thợ nhà in phải làm một bản vỗ, tức là lấy tờ giấy thấm
nước như loại giấy bản, đặt lên khuôn trang có dính chút mực, vỗ nhẹ để
mực thấm vào giấy, chúng tôi gọi là morasse, người làm việc sửa morasse
được gọi là “thầy cò”. Thường morasse phải sửa đến lần thứ hai
thứ ba, lần cuối cùng do anh Tổng Thư Ký tòa soạn sửa và ký vào tờ
dernière morasse đó chịu trách nhiệm nếu có sai sót.
Sau thời kỳ in typo là thời kỳ “vàng son” của kỹ thuật in
offset. Cả trang báo 4 màu chỉ cần đưa lên máy in một lần. Nhưng nói về
thời kỳ này nữa thì quá dài dòng. Xin trở với thời đại báo in typo.
Tôi suýt bị tù vì mất chữ T
Nói sơ qua như thế để bạn có thể hình dung ra phần đầu của công việc làm báo, đấy là báo thường chưa nói đến số Tết còn “ly kỳ rùng rợn” hơn. Đúng là một công việc bỏ ăn bỏ ngủ chứ không đùa. Tôi đã từng làm ở tòa soạn báo, làm từ anh viết bài đến anh “thầy cò”
rồi nhảy lên làm Trưởng ban biên tập và làm Chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng
Hòa của Quân Đội VNCH. Hồi đó báo ra bán nguyệt san, mỗi kỳ 200.000 số.
Một con số xuất bản lớn nhất vào thời đó. Báo được Bộ Quốc Phòng tài trợ
và gọi đấu thầu, nhà in tư nhân đảm trách việc in ấn. Tôi là người chịu
trách nhiệm sửa và ký tên vào bản dernière morrase tức là bản vỗ cuối
cùng. Sau này làm thêm tờ Thông Tin Chiến Sĩ ra hằng tuần nữa càng vất
vả hơn. Tòa soạn chỉ vỏn vẹn có chừng chục người.
Năm nào báo Chiến Sĩ Cộng Hòa cũng ra báo Xuân như thường lệ. Năm đó, có
lẽ là vào năm 1960 khi đó Đại Tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng Tham Mưu Trưởng
QĐVNCH (đến năm 1963 mới được vinh thăng Thống Tướng, vị Thống Tướng duy
nhất của VN). Mỗi năm thường có một Thư chúc tết của Đại Tướng Tổng
Tham Mưu Trưởng được đăng trên báo Xuân CSCH.
Khi báo ra chúng tôi đưa lên trình văn phòng Đại Tướng. Không hiểu tại
sao cuối thư đó lại ký tên Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Thì ra tên của ngài bỗng
mất biến đi chữ T.
Ông Đại Tá Hoàng Ngọc Tiêu, tức thi sĩ Cao Tiêu, làm chánh văn phòng Đại Tướng gọi điện thoại cho tôi nói ngay: “Phen này ông đi tù là cái chắc”, tôi tưởng ông nói giỡn chơi, nhưng ông nghiêm giọng nói: “Anh cứ xem lại Thư chúc Tết của Đại Tướng đi là biết ngay, tôi không nói nhiều”.
Tôi mở tờ báo ra xem, quả nhiên là chữ Tỵ mất biến chữ T ở trước, thành
ra là Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Tôi choáng người, cầm chắc đi tù rồi còn gì.
Tôi gọi nhà in, đòi xem bản vỗ cuối cùng. May quá, bản vỗ cuối cùng còn
nguyên chữ T. Đây là một lý do “giảm khinh” cho một phần lớn
tội của tôi. Nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính khi tờ báo
đưa lên trình và gửi đi khắp các đơn vị trong toàn quốc. Tôi đã không
kiểm soát lại.
Về phía nhà in, điều tra cũng chẳng ra, bởi khi bản vỗ đưa lên máy in
vẫn còn nguyên, nhưng vì là thợ xếp từng chữ nên khi bê lên bê xuống có
thể nó rơi mất chữ T. Rơi ở đâu, khi nào hay có kẻ phá hoại không ai
biết. Mà làm sao kết tội là phá hoại khi không có bằng cớ chắc chắn,
luật pháp là luật pháp thời đó rất nghiêm minh. Tôi đã chuẩn bị sẵn tư
tưởng để từ giã quân ngũ hay ít ra cũng bị “hạ tầng công tác” đi đến một đơn vị khác, rất có thể là binh nhì vì cái tội quá nặng “bôi bẩn thanh danh Đại Tướng”.
Nhưng ông Cao Tiêu chánh văn phòng Đại Tướng lại gọi điện thoại ngay
cho tôi nói là chưa kịp trình Đại Tướng vì sáng đó ông bận đi dự lễ. Ông
Cao Tiêu cũng là bạn tôi nên ông đã hủy ngay tờ báo, ông nói tôi phải
lấy chữ Tỵ khác đóng lên trên chữ Ỵ để ông mang vào trình.
Tôi cấp tốc làm ngay. Nhưng làm một tờ thì dễ, còn 200 ngàn số đưa đến
các đơn vị cũng phải làm như vậy. Thế là cả cánh thợ nhà in tư nhân và
toàn phòng báo chí của chúng tôi phải cùng làm suốt một đêm một ngày mới
xong. Lúc đó tôi mới hoàn hồn. Và cũng từ đó tôi có thêm khinh nghiệm “xương máu” về nghề làm báo cũng như sau đó sang làm ở Đài Phát Thanh Quân Đội. Tôi cẩn thận từng chữ, từng câu trong các bản tin.
Lại chuyện ở Đài Phát thanh
Tôi nhớ hồi đó nhiều đoàn thể, nhiều giáo phái có tiếng nói trên các đài
phát thanh Sài Gòn cũng như Đài Phát thanh Quân đội. Một lần vào khoảng
năm 1970 hay 71, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi dự một cái lễ ở Long
Xuyên do Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức. Sau đó tổ chức này có một bản tin
gửi cho các báo trong nước. Đài Phát thanh Quân đội cũng nhận được bản
tin này. Bản tin chia làm ba hay bốn phần gì đó, cả mấy phần trên đều là
những lời lẽ ủng hộ chính phủ, đoạn cuối cùng có đề nghị chính phủ phát
súng cho giáo phái để tự giữ gìn an ninh tổ quốc.
Tôi suy nghĩ mãi mới bỏ đoạn cuối cùng này. Bởi nếu phát súng cho một tổ
chức khác chẳng khác nào một quốc gia có hai quân đội nên tôi sửa lại
chỉ tóm tắt nội dung chứ không cho đọc nguyên văn, cuối cùng chỉ loan
tin là những đề nghị khác sẽ được Tổng Thống và Chính Phủ cứu xét cẩn
trọng.
Quả nhiên bí thư của Tổng Thống lúc đó là ông Hoàng Đức Nhã, được gọi là “ông trùm truyền thông” thời đó điện thoại cho tôi hỏi “Anh có cho đọc nguyên văn bản tin của Phật Giáo Hòa Hảo không?”. Tôi thẳng thắn trả lời: “Không, tôi chỉ tóm tắt nội dung chính còn đề nghị phát súng tôi không loan bởi vì…”. Ông Hoàng Đức Nhã ngắt lời tôi ngay: “Đúng rồi, anh làm vậy là đúng lắm”. Từ đó ông Nhã nhìn tôi bằng con mắt khác. Đúng là môt câu hỏi “mẹo” rất khôn khéo của ông “trùm truyền thông”.
Đi làm phóng sự Tết
Phòng báo chí của chúng tôi có cái lệ là phải đi làm phóng sự Tết ở các đơn vị từ miền Nam đến miền Trung và Cao Nguyên. Tòa soạn quá ít người nên chính tôi cũng phải làm phóng viên. Anh em đi hết, chẳng lẽ trưởng phòng ngồi nhà nên dù mới cưới vợ cũng phải bò đi làm phóng sự Tết. Tôi nhớ năm đó, vào ngày 28 Tết có trận đá bóng giữa đội của Tổng Tham Mưu VN với một đội của Peru. Thế mà tôi phải rong ruổi ra miền Trung làm phóng sự. Tôi là dân mê đá bóng từ nhỏ nên mang theo cái radio transistor, đi trên xe lửa nghe anh Huyền Vũ tường thuật trận đấu cho đã ghiền.
Giao thừa trên đỉnh đèo Hải Vân
Ra đến Đà Nẵng tôi vào chào Trung Tướng Đỗ Cao Trí là Tư Lệnh Phó Quân
Khu 2, tôi còn một mục đích khác là lôi Thanh Nam mới bị tái ngũ học ở
trường Huấn luyện ra cùng đi. Tướng Trí ra lệnh cho Thanh Nam ra đi cùng
tôi ngay hôm đó. Chúng tôi đi qua đèo Hải Vân vào buổi chiều sắp tàn.
Nhìn thấy một tiền đồn đóng tuốt trên ngọn núi Hải Vân nằm lẫn trong
mây. Tôi thấy sinh hoạt ở đơn vị nằm cao tít tắp chín từng mây này chắc
là đặc biệt nên tôi cho xe Jeep theo đường mòn leo lên đỉnh đèo. Anh
lính gác ở đồn canh cho tôi biết đây là một trung đội Địa Phương Quân
trấn giữ mỏm núi. Phía sau còn hai trung đội khác. Tôi và Thanh Nam
quyết định ăn Giao thừa cùng anh em trong đơn vị này. Một buổi tối khác
hẳn mọi buổi tối, chúng tôi nằm giữa những đám mây mỏng không nhìn thấy
lưng đèo. Giao thừa thật thú vị với những màn lửa trại và thi hát, thi
nói chuyện vui. Có một anh tân binh nói chuyện tình yêu của chính mình
rất láu cá. Anh em chất vấn tại sao mày lấy được vợ giàu và đẹp thế? Anh
ta kể rằng bị gia đình nhà vợ phản đối, hai đứa bàn nhau “ăn cơm trước kẻng”.
Em bị con vợ em nó tát cho một cái nên thân, tưởng em lợi dụng nó. Em
nói chúng mình chỉ giả vờ thế thôi mà. Em cứ giả vờ thú nhận với mẹ em
là có bầu rồi. Con vợ em nó đồng ý. Thế là nhà nó bắt em phải làm đám
cưới ngay. Cưới xong vài tháng thì em vào địa phương quân rồi lên đây.
Thanh Nam khoái chí bèn tặng ngay cái khăn quàng mà cô bồ là ca sĩ trẻ
đẹp vừa gửi tôi mang ra tặng chàng làm quà Tết. Trong đời tôi sẽ không
bao giờ có được một đêm giao thừa như thế nữa.
Nhưng làm báo ngoài thì sướng
Hồi đó tôi thường viết khá nhiều feuilleton cho các báo. Mỗi dịp xuân
về, chẳng cần biết các ông ở tòa soạn bận rộn ra sao, chúng tôi chỉ
việc gửi bài rồi ung dung chờ lãnh tiền lương tháng 13 và dự tiệc tất
niên của chủ báo. Có lẽ làm với báo Truyện Phim của ông Nguyễn Ngọc Linh
vào khoảng những năm 58-60 là khoái hơn cả. Tờ báo lớn đầu tiên về điện
ảnh quốc tế và VN do anh em ông Linh sáng lập ở đường Ký Con. Cái tòa
soạn bé tẹo nhưng rất… Ăng Lê. Chủ nhiệm ngồi một mình trong phòng kính.
Bên ngoài là bàn giấy của Tổng Thư Ký tòa soạn, hồi đó là ông Quốc
Phong nên chúng tôi gọi là “ông Tổng Cóc”, cạnh đó là chiếc bàn nhỏ xíu cùa biên tập viên Gia Tuấn đeo kính trắng, gọi là “Gia Tuấn Sì Cốp”.
Tờ báo được hầu hết các bạn trẻ, học sinh, sinh viên đón đọc hằng tuần.
Tất nhiên năm nào cũng có báo xuân và đặc biệt khán giả mua báo được
tặng một cuốn lịch thật đẹp của hãng Paramount Pictures, in màu trên
giấy couché trắng nõn với 12 tấm hình tài tử thượng thặng quốc tế như
Marilyn Monroe, Ava Gardner, Audrey Hepbur, Grace Kelly… cũng nõn nà
chết người. Riêng anh em cộng tác, cuối năm còn được tặng một tập báo đủ
12 tháng đóng gáy da mạ chữ vàng cẩn thận. Sau đó lại là một chầu ăn
uống nhảy nhót tưng bừng tại một nhà hàng lớn, tăng 2 có thể đi có thể
không tùy thích. Tôi chưa bao giờ quên được những kỷ niệm đó.
Nhật báo Chính Luận và ông chủ nhiệm đáng yêu của tôi
Đó là phía tuần báo còn phía nhật báo có tờ báo lớn là Chính Luận, do
bác sĩ Đặng Văn Sung làm chủ nhiệm. Cuối năm cũng có chầu tất niên tưng
bừng nhưng ông chủ nhiệm đứng đắn nên không cho anh em “múa tay múa chân” ở vũ trường. Ông tổ chức đánh phé ở nhà ông thủ quỹ Lê Tâm Việt.
Tôi nhớ năm đó vừa lãnh lương xong, về chơi phé với anh em trong tòa
soạn. Chẳng may thua nhẵn túi. Tôi đứng dậy ra về thì ông chủ nhiệm hất
đầu cho anh thủ quỹ Lê Tâm Việt ra lệnh “Phát cho cậu ấy lương tháng 13 đi”. Lê Tâm Việt nói em phát rồi. Ông BS Sung cười hiền lành “Nó thua hết rồi, lấy gì cho nó ăn Tết, phát cho cậu ấy ngay đi”.
Thế là tôi lãnh thêm 1 tháng lương nữa rồi ra về, hồi đó tháng lương
viết feuilleton cho báo Chính Luận tôi nhớ mang máng là 12.000 VNĐ. Bằng
ấy là một khoản tiền khá lớn rồi lại có “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh ở nhà”. Thật thú vị cho một năm mệt nhoài người vì viết, nhưng hồi đó viết là viết chứ không phải lách như bây giờ.
Bạn đã thấy công việc của dân làm báo hay nói chung làm truyền thông xã
hội không hề dễ dàng chút nào. Nhưng tôi vẫn nhớ, vẫn chưa bao giờ từ bỏ
được cái “nghiệp” của tôi. Tính ra bây giờ là hơn 60 năm rồi,
cuộc đời tôi vẫn chẳng làm được nghề ngỗng gì ngoài viết và viết. Tết
cũng chẳng bao giờ được nghỉ vì “báo bà nghỉ thì báo ông ra”
cho nên cứ phải có đủ bài cho báo. Năm nay cũng vậy thôi. Nhưng đã trở
thành thói quen, tôi chưa bao giờ ân hận vì cái nghề này.
Đấy cái nghề làm báo nó long đong như thế, nhưng các bạn trẻ vào nghề
rồi khó lòng dứt áo ra đi cho đành. Nó có ma lực quyến rũ đấy các bạn ạ.
Văn Quang
Bàn ra tán vào (0)
Các tin đã đăng
Văn Quang: Ngày Xưa Làm Báo Tết
Hằng năm cứ đến ngày giáp Tết Âm Lịch, mọi người đều thấy các cửa
hàng bán báo rực rỡ hẳn lên bởi hình bìa của những tờ báo xuân. Đủ thứ
màu sắc của những tờ báo khổ lớn treo toòng teng trên những chiếc dây
trước sạp báo phay phất phới, không khác gì những cái lồng đèn Trung
Thu. Những tờ báo khổ nhỏ, hầu hết là những tờ tuần báo hoặc đặc san nằm
dưới kệ hàng cũng được tô điểm sặc sỡ báo hiệu mùa xuân đang về. Mùa
xuân dường như bắt đầu từ đấy. Và mỗi nhà thường mua một tờ báo Xuân,
đôi khi đợi Tết trưng ra trong phòng khách cho vui cửa vui nhà. Điều đó
không hẳn là một tục lệ mà chỉ là thói quen, một thứ thói quen đáng yêu
của hầu hết người Việt chúng ta dù bất cứ ở đâu. Nó cũng như cái hình
ảnh của nhà thơ Vũ Đình Liên:
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua”
Hình ảnh ông đồ già có thể mất dần theo năm tháng, nhưng những tờ báo
thì vẫn còn y nguyên từ thời xa xưa cho tới thời nay, chắc chắn nó sẽ
còn mãi mãi, cho dù nhiều bạn lo xa rằng báo in có thể “chết dần”
bởi thời đại internet. Nhưng internet không thể bày ra bàn, không thể
trang trí cho phòng khách của ngôi nhà, không thể mang linh hồn của mùa
xuân đến từng người đọc, không thể mang hương vị ấm cúng cho cả gia đình
bạn và cũng không thể mang cả mùa xuân tô điểm cho phố phường của bạn.
Hình bìa những tờ báo thường bao giờ cũng có những người đẹp, những giai
nhân đủ loại từ ca sĩ đến tài tử màn ảnh, từ cô gái nông thôn đến thành
thị uốn lượn đủ kiểu trên sạp báo còn hơn là một cuộc thi sắc đẹp. Bạn
không thích thú sao? Ngắm free mà. Và chỉ có năm hết Tết đến mới có cái
cảnh ấy.
Tất cả những thứ đó khiến tôi nhớ đến cái không khí làm báo Tết thời xa
xưa. Hồi đó bạn làm được một tờ báo ra hằng ngày hay hằng tuần đã khó
khăn lắm rồi chứ chưa nói đến làm báo Tết. Ngày nay làm báo chỉ cần đánh
máy cho lên máy in, nó chạy rèn rẹt ra luôn ba bốn năm màu và hàng chục
ngàn số trong một vài giờ, được đóng sẵn sàng đưa ra thị trường. Ngày
xưa thì khác….
Cái thời đại typo
Vâng, phải nói chính xác đó là thời đại mới ra lò của những tờ báo,
thời đại in typo. Trước hết là những con chữ được đúc bằng kẽm hay bằng
chì, từng chữ một, mỗi chữ xếp vào một cái bát hay một ngăn dưới tay
người thợ, gọi là thợ sắp chữ. Phải sắp từng chữ một và chữ in nghiêng
phải được tác giả viết bài hay anh Tổng thư ký tòa soạn phải gạch dưới
bản thảo đánh máy hay viết tay hàng chữ “ital” chữ viết tắt của
italic. Đấy chỉ là một thí dụ. Còn có hàng chục ký hiệu như thế nữa
dành cho hàng chữ in đậm, sửa dấu sắc huyền hỏi ngã, thêm chữ vào dòng,
bớt chữ đi. Anh thợ “cả” được gọi là chef typo chịu trách nhiệm chung cho trang báo đó, phải xem lại từng trang.
Còn muốn đưa một tấm hình vào trang báo, phải làm bản kẽm. Tôi nhớ hồi
đó ở Sài Gòn có Cliché Dàu là nơi cung cấp những bản kẽm cho các nhà in
và các báo. Khuôn khổ bức hình ra sao để nó nằm gọn lỏn trong trang báo
phải được tính toán trước hết. Đến lúc thợ lên khuôn mới đưa vào bài báo
được.
Trước khi in, thợ nhà in phải làm một bản vỗ, tức là lấy tờ giấy thấm
nước như loại giấy bản, đặt lên khuôn trang có dính chút mực, vỗ nhẹ để
mực thấm vào giấy, chúng tôi gọi là morasse, người làm việc sửa morasse
được gọi là “thầy cò”. Thường morasse phải sửa đến lần thứ hai
thứ ba, lần cuối cùng do anh Tổng Thư Ký tòa soạn sửa và ký vào tờ
dernière morasse đó chịu trách nhiệm nếu có sai sót.
Sau thời kỳ in typo là thời kỳ “vàng son” của kỹ thuật in
offset. Cả trang báo 4 màu chỉ cần đưa lên máy in một lần. Nhưng nói về
thời kỳ này nữa thì quá dài dòng. Xin trở với thời đại báo in typo.
Tôi suýt bị tù vì mất chữ T
Nói sơ qua như thế để bạn có thể hình dung ra phần đầu của công việc làm báo, đấy là báo thường chưa nói đến số Tết còn “ly kỳ rùng rợn” hơn. Đúng là một công việc bỏ ăn bỏ ngủ chứ không đùa. Tôi đã từng làm ở tòa soạn báo, làm từ anh viết bài đến anh “thầy cò”
rồi nhảy lên làm Trưởng ban biên tập và làm Chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng
Hòa của Quân Đội VNCH. Hồi đó báo ra bán nguyệt san, mỗi kỳ 200.000 số.
Một con số xuất bản lớn nhất vào thời đó. Báo được Bộ Quốc Phòng tài trợ
và gọi đấu thầu, nhà in tư nhân đảm trách việc in ấn. Tôi là người chịu
trách nhiệm sửa và ký tên vào bản dernière morrase tức là bản vỗ cuối
cùng. Sau này làm thêm tờ Thông Tin Chiến Sĩ ra hằng tuần nữa càng vất
vả hơn. Tòa soạn chỉ vỏn vẹn có chừng chục người.
Năm nào báo Chiến Sĩ Cộng Hòa cũng ra báo Xuân như thường lệ. Năm đó, có
lẽ là vào năm 1960 khi đó Đại Tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng Tham Mưu Trưởng
QĐVNCH (đến năm 1963 mới được vinh thăng Thống Tướng, vị Thống Tướng duy
nhất của VN). Mỗi năm thường có một Thư chúc tết của Đại Tướng Tổng
Tham Mưu Trưởng được đăng trên báo Xuân CSCH.
Khi báo ra chúng tôi đưa lên trình văn phòng Đại Tướng. Không hiểu tại
sao cuối thư đó lại ký tên Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Thì ra tên của ngài bỗng
mất biến đi chữ T.
Ông Đại Tá Hoàng Ngọc Tiêu, tức thi sĩ Cao Tiêu, làm chánh văn phòng Đại Tướng gọi điện thoại cho tôi nói ngay: “Phen này ông đi tù là cái chắc”, tôi tưởng ông nói giỡn chơi, nhưng ông nghiêm giọng nói: “Anh cứ xem lại Thư chúc Tết của Đại Tướng đi là biết ngay, tôi không nói nhiều”.
Tôi mở tờ báo ra xem, quả nhiên là chữ Tỵ mất biến chữ T ở trước, thành
ra là Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Tôi choáng người, cầm chắc đi tù rồi còn gì.
Tôi gọi nhà in, đòi xem bản vỗ cuối cùng. May quá, bản vỗ cuối cùng còn
nguyên chữ T. Đây là một lý do “giảm khinh” cho một phần lớn
tội của tôi. Nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính khi tờ báo
đưa lên trình và gửi đi khắp các đơn vị trong toàn quốc. Tôi đã không
kiểm soát lại.
Về phía nhà in, điều tra cũng chẳng ra, bởi khi bản vỗ đưa lên máy in
vẫn còn nguyên, nhưng vì là thợ xếp từng chữ nên khi bê lên bê xuống có
thể nó rơi mất chữ T. Rơi ở đâu, khi nào hay có kẻ phá hoại không ai
biết. Mà làm sao kết tội là phá hoại khi không có bằng cớ chắc chắn,
luật pháp là luật pháp thời đó rất nghiêm minh. Tôi đã chuẩn bị sẵn tư
tưởng để từ giã quân ngũ hay ít ra cũng bị “hạ tầng công tác” đi đến một đơn vị khác, rất có thể là binh nhì vì cái tội quá nặng “bôi bẩn thanh danh Đại Tướng”.
Nhưng ông Cao Tiêu chánh văn phòng Đại Tướng lại gọi điện thoại ngay
cho tôi nói là chưa kịp trình Đại Tướng vì sáng đó ông bận đi dự lễ. Ông
Cao Tiêu cũng là bạn tôi nên ông đã hủy ngay tờ báo, ông nói tôi phải
lấy chữ Tỵ khác đóng lên trên chữ Ỵ để ông mang vào trình.
Tôi cấp tốc làm ngay. Nhưng làm một tờ thì dễ, còn 200 ngàn số đưa đến
các đơn vị cũng phải làm như vậy. Thế là cả cánh thợ nhà in tư nhân và
toàn phòng báo chí của chúng tôi phải cùng làm suốt một đêm một ngày mới
xong. Lúc đó tôi mới hoàn hồn. Và cũng từ đó tôi có thêm khinh nghiệm “xương máu” về nghề làm báo cũng như sau đó sang làm ở Đài Phát Thanh Quân Đội. Tôi cẩn thận từng chữ, từng câu trong các bản tin.
Lại chuyện ở Đài Phát thanh
Tôi nhớ hồi đó nhiều đoàn thể, nhiều giáo phái có tiếng nói trên các đài
phát thanh Sài Gòn cũng như Đài Phát thanh Quân đội. Một lần vào khoảng
năm 1970 hay 71, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi dự một cái lễ ở Long
Xuyên do Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức. Sau đó tổ chức này có một bản tin
gửi cho các báo trong nước. Đài Phát thanh Quân đội cũng nhận được bản
tin này. Bản tin chia làm ba hay bốn phần gì đó, cả mấy phần trên đều là
những lời lẽ ủng hộ chính phủ, đoạn cuối cùng có đề nghị chính phủ phát
súng cho giáo phái để tự giữ gìn an ninh tổ quốc.
Tôi suy nghĩ mãi mới bỏ đoạn cuối cùng này. Bởi nếu phát súng cho một tổ
chức khác chẳng khác nào một quốc gia có hai quân đội nên tôi sửa lại
chỉ tóm tắt nội dung chứ không cho đọc nguyên văn, cuối cùng chỉ loan
tin là những đề nghị khác sẽ được Tổng Thống và Chính Phủ cứu xét cẩn
trọng.
Quả nhiên bí thư của Tổng Thống lúc đó là ông Hoàng Đức Nhã, được gọi là “ông trùm truyền thông” thời đó điện thoại cho tôi hỏi “Anh có cho đọc nguyên văn bản tin của Phật Giáo Hòa Hảo không?”. Tôi thẳng thắn trả lời: “Không, tôi chỉ tóm tắt nội dung chính còn đề nghị phát súng tôi không loan bởi vì…”. Ông Hoàng Đức Nhã ngắt lời tôi ngay: “Đúng rồi, anh làm vậy là đúng lắm”. Từ đó ông Nhã nhìn tôi bằng con mắt khác. Đúng là môt câu hỏi “mẹo” rất khôn khéo của ông “trùm truyền thông”.
Đi làm phóng sự Tết
Phòng báo chí của chúng tôi có cái lệ là phải đi làm phóng sự Tết ở các đơn vị từ miền Nam đến miền Trung và Cao Nguyên. Tòa soạn quá ít người nên chính tôi cũng phải làm phóng viên. Anh em đi hết, chẳng lẽ trưởng phòng ngồi nhà nên dù mới cưới vợ cũng phải bò đi làm phóng sự Tết. Tôi nhớ năm đó, vào ngày 28 Tết có trận đá bóng giữa đội của Tổng Tham Mưu VN với một đội của Peru. Thế mà tôi phải rong ruổi ra miền Trung làm phóng sự. Tôi là dân mê đá bóng từ nhỏ nên mang theo cái radio transistor, đi trên xe lửa nghe anh Huyền Vũ tường thuật trận đấu cho đã ghiền.
Giao thừa trên đỉnh đèo Hải Vân
Ra đến Đà Nẵng tôi vào chào Trung Tướng Đỗ Cao Trí là Tư Lệnh Phó Quân
Khu 2, tôi còn một mục đích khác là lôi Thanh Nam mới bị tái ngũ học ở
trường Huấn luyện ra cùng đi. Tướng Trí ra lệnh cho Thanh Nam ra đi cùng
tôi ngay hôm đó. Chúng tôi đi qua đèo Hải Vân vào buổi chiều sắp tàn.
Nhìn thấy một tiền đồn đóng tuốt trên ngọn núi Hải Vân nằm lẫn trong
mây. Tôi thấy sinh hoạt ở đơn vị nằm cao tít tắp chín từng mây này chắc
là đặc biệt nên tôi cho xe Jeep theo đường mòn leo lên đỉnh đèo. Anh
lính gác ở đồn canh cho tôi biết đây là một trung đội Địa Phương Quân
trấn giữ mỏm núi. Phía sau còn hai trung đội khác. Tôi và Thanh Nam
quyết định ăn Giao thừa cùng anh em trong đơn vị này. Một buổi tối khác
hẳn mọi buổi tối, chúng tôi nằm giữa những đám mây mỏng không nhìn thấy
lưng đèo. Giao thừa thật thú vị với những màn lửa trại và thi hát, thi
nói chuyện vui. Có một anh tân binh nói chuyện tình yêu của chính mình
rất láu cá. Anh em chất vấn tại sao mày lấy được vợ giàu và đẹp thế? Anh
ta kể rằng bị gia đình nhà vợ phản đối, hai đứa bàn nhau “ăn cơm trước kẻng”.
Em bị con vợ em nó tát cho một cái nên thân, tưởng em lợi dụng nó. Em
nói chúng mình chỉ giả vờ thế thôi mà. Em cứ giả vờ thú nhận với mẹ em
là có bầu rồi. Con vợ em nó đồng ý. Thế là nhà nó bắt em phải làm đám
cưới ngay. Cưới xong vài tháng thì em vào địa phương quân rồi lên đây.
Thanh Nam khoái chí bèn tặng ngay cái khăn quàng mà cô bồ là ca sĩ trẻ
đẹp vừa gửi tôi mang ra tặng chàng làm quà Tết. Trong đời tôi sẽ không
bao giờ có được một đêm giao thừa như thế nữa.
Nhưng làm báo ngoài thì sướng
Hồi đó tôi thường viết khá nhiều feuilleton cho các báo. Mỗi dịp xuân
về, chẳng cần biết các ông ở tòa soạn bận rộn ra sao, chúng tôi chỉ
việc gửi bài rồi ung dung chờ lãnh tiền lương tháng 13 và dự tiệc tất
niên của chủ báo. Có lẽ làm với báo Truyện Phim của ông Nguyễn Ngọc Linh
vào khoảng những năm 58-60 là khoái hơn cả. Tờ báo lớn đầu tiên về điện
ảnh quốc tế và VN do anh em ông Linh sáng lập ở đường Ký Con. Cái tòa
soạn bé tẹo nhưng rất… Ăng Lê. Chủ nhiệm ngồi một mình trong phòng kính.
Bên ngoài là bàn giấy của Tổng Thư Ký tòa soạn, hồi đó là ông Quốc
Phong nên chúng tôi gọi là “ông Tổng Cóc”, cạnh đó là chiếc bàn nhỏ xíu cùa biên tập viên Gia Tuấn đeo kính trắng, gọi là “Gia Tuấn Sì Cốp”.
Tờ báo được hầu hết các bạn trẻ, học sinh, sinh viên đón đọc hằng tuần.
Tất nhiên năm nào cũng có báo xuân và đặc biệt khán giả mua báo được
tặng một cuốn lịch thật đẹp của hãng Paramount Pictures, in màu trên
giấy couché trắng nõn với 12 tấm hình tài tử thượng thặng quốc tế như
Marilyn Monroe, Ava Gardner, Audrey Hepbur, Grace Kelly… cũng nõn nà
chết người. Riêng anh em cộng tác, cuối năm còn được tặng một tập báo đủ
12 tháng đóng gáy da mạ chữ vàng cẩn thận. Sau đó lại là một chầu ăn
uống nhảy nhót tưng bừng tại một nhà hàng lớn, tăng 2 có thể đi có thể
không tùy thích. Tôi chưa bao giờ quên được những kỷ niệm đó.
Nhật báo Chính Luận và ông chủ nhiệm đáng yêu của tôi
Đó là phía tuần báo còn phía nhật báo có tờ báo lớn là Chính Luận, do
bác sĩ Đặng Văn Sung làm chủ nhiệm. Cuối năm cũng có chầu tất niên tưng
bừng nhưng ông chủ nhiệm đứng đắn nên không cho anh em “múa tay múa chân” ở vũ trường. Ông tổ chức đánh phé ở nhà ông thủ quỹ Lê Tâm Việt.
Tôi nhớ năm đó vừa lãnh lương xong, về chơi phé với anh em trong tòa
soạn. Chẳng may thua nhẵn túi. Tôi đứng dậy ra về thì ông chủ nhiệm hất
đầu cho anh thủ quỹ Lê Tâm Việt ra lệnh “Phát cho cậu ấy lương tháng 13 đi”. Lê Tâm Việt nói em phát rồi. Ông BS Sung cười hiền lành “Nó thua hết rồi, lấy gì cho nó ăn Tết, phát cho cậu ấy ngay đi”.
Thế là tôi lãnh thêm 1 tháng lương nữa rồi ra về, hồi đó tháng lương
viết feuilleton cho báo Chính Luận tôi nhớ mang máng là 12.000 VNĐ. Bằng
ấy là một khoản tiền khá lớn rồi lại có “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh ở nhà”. Thật thú vị cho một năm mệt nhoài người vì viết, nhưng hồi đó viết là viết chứ không phải lách như bây giờ.
Bạn đã thấy công việc của dân làm báo hay nói chung làm truyền thông xã
hội không hề dễ dàng chút nào. Nhưng tôi vẫn nhớ, vẫn chưa bao giờ từ bỏ
được cái “nghiệp” của tôi. Tính ra bây giờ là hơn 60 năm rồi,
cuộc đời tôi vẫn chẳng làm được nghề ngỗng gì ngoài viết và viết. Tết
cũng chẳng bao giờ được nghỉ vì “báo bà nghỉ thì báo ông ra”
cho nên cứ phải có đủ bài cho báo. Năm nay cũng vậy thôi. Nhưng đã trở
thành thói quen, tôi chưa bao giờ ân hận vì cái nghề này.
Đấy cái nghề làm báo nó long đong như thế, nhưng các bạn trẻ vào nghề
rồi khó lòng dứt áo ra đi cho đành. Nó có ma lực quyến rũ đấy các bạn ạ.
Văn Quang