Kinh Khổ

Ăn Cơm Chưa? - Bình Nguyên Lộc ( Trần Văn Giang ghi lại )

Bà sơ rút nhiệt kế ra khỏi nách tôi, chăm chú đọc nhiệt độ, mặt lộ vẻ ngạc nhiên như không tin ở điều mà bà đã thấy.


 
*  
Lời giới thiệu  
    
Tôi là người gốc Triều Châu nhưng từ nhỏ đến lớn chỉ học tiếng Việt và chỉ giao du với bạn Việt Nam và ngay cả cái nhà tôi ở cũng ngay trung tâm thành phố (ngay trước Hội Đồng Xã Tân An - Cần Thơ) và xung quanh là nhà của các công chức VN. Vốn liếng tiếng Tiều của tôi lúc đó rất ít nhưng lớn lên, cho đến giờ tôi vẫn có một suy nghĩ: Tại sao người ta gặp nhau hay hỏi "Anh khỏe không?" hay "How are you?" "你好嗎?" nhưng duy nhất thời đó người Triều Châu ở VN gặp nhau lại hỏi là "食飯未?" (“chẹ bừng quề”) có nghĩa là "Ăn cơm chưa?"  
   
Tôi cho tới giờ vẫn còn bâng khuâng đó nên vẫn muốn tìm hiểu tại sao người Tiều ở VN gặp nhau hay hỏi "Ăn cơm chưa?" mà không bao giờ hỏi "Khỏe không?" vẫn không thấy gì giải thích nào thỏa đáng trên mạng; nhưng lại may mắn tìm được một truyện ngắn của tác giả Bình Nguyên Lộc (phía dưới). Đọc hết câu chuyện trong bài viết, tôi cảm thấy nghẹn ngào, rưng rưng có lẽ nó bây giờ thắc mắc đã được giải đáp dù cho chưa thỏa mãn, nhưng cũng đáp ứng phần nào cho chút suy tư của tôi.  
   
Khuyết Danh  
   
*  
 
ĂN CƠM CHƯA? (食飯 ?)
 
Bà sơ rút nhiệt kế ra khỏi nách tôi, chăm chú đọc nhiệt độ, mặt lộ vẻ ngạc nhiên như không tin ở điều mà bà đã thấy. Bà dòm mặt tôi, đoạn đọc lại một lần nữa.  
   
Tôi đang hồi hộp vì đoán rằng có chuyện không hay thì bà đã nhảy ra khỏi phòng, làm cho tôi hốt hoảng đến cực điểm.  Tôi mắc chứng thương hàn, sốt mê man mấy tuần nay, vừa tỉnh lại chứng kiến sự bối rối của con người áo đen bé loắt choắt ấy, làm tôi ngỡ là tôi sắp chết đến nơi.  
   
Nhưng gương mặt tươi của bác sĩ Chaput hiện ra nơi khung cửa, giúp tôi an lòng lại ngay. Giờ ấy còn sớm quá, bác sĩ, chắc mới đến nhà thương, chưa kịp mặc áo choàng, còn mặc thường phục.  
Bà sơ theo sau nói:  
   
- Hắn không còn nhiệt độ nữa, chắc hắn phải lạnh lắm, vì sự thay đổi đột ngột nầy, tôi cho hắn uống “Potion de Todd,” bác sĩ nhé!  
   
- Phải đấy.  
   
Đoạn bác sĩ hỏi tôi:  
   
- Ông nghe thế nào?  
   
- Như vừa tái sanh, thưa bác sĩ.  
   
- Tốt! Mới nghe, tôi hoảng lắm, vì nhiệt độ xuống thình lình, có thể là triệu chứng của sự chảy máu ruột… nếu ông lén ăn gì.  
   
Tôi cười, một cái cười héo hon của con người sốt liên miên hăm tám ngày, mà không ăn uống gì cả trong thời gian đó. Bác sĩ dặn thêm, trước khi rời buồng tôi:  
   
- Vài hôm nữa là thèm ăn, nhưng phải nhịn, ăn là lủng ruột ngay… Ngoan lên nhé!  
   
Quên nói rõ, là tôi mắc bịnh nầy trước chiến tranh, vào thuở mà loài người chưa tìm ra thuốc trị thương hàn. Nhà thương cứ để vậy, tiêm thuốc nâng đỡ cho trái tim khỏi lụy, rồi ai kháng chết được, thì sống, ai yếu lắm, là đi luôn.  
   
Như vừa được tái sanh! Tôi không nói quá đâu. Vi trùng bệnh thương hàn phá rối sinh lý con người một cách kỳ lạ lắm. Tôi nghe yêu đời ghê hồn và dòm ra sân nhà thương tỉnh Bình Dương (bấy giờ là Thủ Dầu Một), tôi thấy khóm bông dừa, thứ bông hèn ấy, sao mà hôm nay lại đẹp lạ lùng.  
   
Trưa hôm đó, bác sĩ Chaput khoe với tôi rằng, ở trại bố thí III, một con đồng bịnh với tôi cũng vừa khỏi. Ông ta sung sướng về chuyện ấy lắm, vì con bịnh các trại bố thí chết nhiều quá, khiến dân chúng hiểu lầm, nhà thương bỏ bê người nghèo khó. Sự thật, thì sở dĩ, số tử ở đó lên cao theo tỷ lệ, vì các con bịnh nghèo, thường để thật nguy kịch mới vào nhà thương và khi vào điều trị, không có người nhà theo để săn sóc, nhà thương chỉ vừa đủ người lo thuốc men thôi. Còn những sự săn sóc (rất cần thiết) phải được người nhà lo lấy mới mong lành bịnh.  
   
Tôi yêu đời, và cố nhiên, yêu kẻ đồng bịnh vừa khỏi cùng một lượt với tôi. Ba hôm sau, được nuôi dưỡng bằng nước xúp và bột Ý, tôi đã chống gậy đi được, và mục tiêu phiếm du đầu tiên của tôi là trại III.  
   
Kẻ đồng bịnh với tôi là một cô gái Trung Hoa, hai mươi tuổi, con gái đang thì, cái ngực tất phải to, thế mà tôi trông cô ta xẹp lép như con cá khô. Cái mền cô ta đắp, như dán sát vào chiếu nhà thương.  
   
Người bạn đồng bịnh với tôi, đi không được như tôi. Trong cơn nóng sốt không ăn, người nhà tôi có mua “Sérum Glucosé” cho bác sĩ bơm vào tôi, nhờ thế mà tôi không suy lắm. Con bịnh nghèo nầy, thì khỏi hưởng món xa xí phẩm ấy, mà nhà thương không sắm được, vì kém tài chánh.  
   
Tuy nhiên, nhìn sơ cô gái, tôi cũng thấy là cô ta đẹp lắm. Hoa tàn kia mà còn mang dấu vết thời tươi thắm thay, huống chi đây chỉ là một đóa hoa thiếu nước lọ trong chốc lát thôi… Cứ theo người cùng trại với “Á Lìl,” tên cô, thì cô ta là một đứa bé được “mua.” Chú Xừng Hinh, chủ tiệm chạp phô ngoài chợ, năm xưa về thăm quê quán bên Tàu, gặp mùa lụt lội, đói kém, đã mua đứa bé ấy ba mươi đồng bạc. Bạc Trung Hoa với bạc Đông Dương thuở ấy tương đương giá với nhau, thì quý vị biết, con bé ấy rẻ là dường nào.  
   
Chú Xứng Hinh cũng khá, xem Á Lìl như con chú, chớ nhiều thằng khác, nó nuôi những con bé “nước lụt” ấy cho đến thời trổ mã, bắt làm lụng cho bù với số tiền mua, rồi lại hưởng luôn chúng là khác.  
   
Như chủ nó, Á Lìl là người Triều Châu. Phụ nữ Triều Châu để rìa tóc phủ lên trán, xem rất ngây thơ và có duyên. Họ lại đẹp người hơn tất cả các thứ người Trung Hoa khác. Á Lìl lại là gái dung nhan có hạng trong thứ người đẹp nầy, nên tình thương kẻ đồng bịnh của tôi, bỗng nhiên, tăng lên gấp bội, vì tôi mới có hăm ba tuổi.  
   
Nếu như ở ngoài, chắc không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện yêu một “ả nô tỳ,” cho dẫu là nó đang đẹp lộng lẫy. Nhưng ở đây, cô ta là con bịnh, đồng hạng với tất cả con bịnh khác.  
   
Một ngày, tôi chống gậy xuống trại III đến hai lần, lần nào tới nơi, tôi cũng đứng lại nơi cửa trại, để thở dốc một hơi, rồi mới vào được...  
   
Á Lìl đoán biết tình cảm của tôi đối với nó, nên lần nào, mắt nó cũng sáng lên, khi nghe tiếng gậy của tôi nện cồm cộp trên gạch.  
   
Từ năm lên chín, mãi đến bây giờ, nghĩa là từ năm bị bán và đưa sang nước “An Nam,” con “nô tỳ” nầy chưa được ai nói ngọt với nó lời nào cả. Bây giờ, bỗng nhiên có một dân mặc “bi-da-ma,” lân la thăm hỏi nó, thì làm sao nó không rưng rưng lệ sung sướng được.  
   
Mặc dầu chỉ được uống nước cháo với đường hạ, con ở Á Lìl cứ càng ngày càng hồng hào ra. Con gái, dường như, có dự trữ trong người những sức mạnh gì như cứ chực vùng lên, không cần ăn gì cho bổ lắm, họ cũng cứ béo tốt ra.  
   
Má Á Lìl cạn dần lên, trông ngon như hai trái đào ở bảy phủ Triều Châu mà Á Lìl thường ca tụng với tôi.  Trông Á Lìl, tôi nghĩ ngay đến những phi tần bên Tàu ngày xưa, cũng tuyển lựa trong đám dân “nước lụt” như vầy. Thì ra, con gái Trung Hoa, ngàn đời, vẫn đẹp và vẫn để mà tiếp tế cho các cung tần. Á Lìl sẽ làm bé chú “chệt” già đại phú nào đây, một ngày kia.  
   
Hôm ấy, Á Lìl ngồi dậy được, nhưng còn phải ăn cháo hoa với “hàm-yũu.” Cháo với vị mặn giúp Á Lìl tươi tỉnh hẳn ra. Nó tiếp tôi bằng một bài hát gì đó, tôi không hiểu, nhưng rất thích nghe. Cái giọng mũi của người Triều Châu, khi hát lên, nghe líu lo rất dễ yêu, nhứt là dễ thương, nghe như là họ khóc cảnh sống lầm than của họ.  
   
Á Lìl cắt nghĩa cho tôi biết rằng, bài hát ấy nói đến cái mặt trăng nho nhỏ và tròn tròn. Nó mới giải thích tới đó, thì người nhà chú Xừng Hinh mang cho nó một “gàu-mên” cơm. Mắt con Lìl sáng hơn là khi tôi mới vào thăm nó nữa... Tôi hỏi:  
   
- Nhà đem cơm từ bao lâu rồi?  
   
- “Ngóa” thèm quá, chỉ mới nhắn đem vô lần đầu thôi.  
   
- Lìl không nên ăn cơm vội. Bác sĩ không có dặn gì sao?  
   
- Bác sĩ nói tiếng Tây, ngóa đâu có hiểu. Bà Sơ biết chút ít tiếng Annam, dặn đừng cho ăn đồ cứng, ăn thì lủng ruột chết liền.  
   
Á Lìl nói xong cười ngặt nghẹo, một hơi, rồi tiếp:  
   
- Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi.  
   
- Lìl không hiểu, chớ ruột Lìl đã bị vi trùng làm cho mỏng lắm rồi đó.  
   
Á Lìl lại cười một giây nữa, mà rằng:  
   
- Bị thuốc của thằng Tây làm cho mỏng thì có. Thầy biết sao không? Hổm nay ông Tây chích cho “ngóa” chết mà “ngóa” không chết, nên ổng bỏ đói cho “ngóa” chết đó...  
   
Á Lìl nói rồi vừa kéo gàu-mên cơm lại, vừa nói:  
   
- Ăn cơm với gừng nấu dấm thì tốt lắm, như người “An nam” ăn với muối tiêu vậy mà, chết sao được.  
   
Tôi bối rối quá. Hôm ấy có Mẹ Bề Trên, người cai quản các bà Sơ, từ Sàigòn lên Bình Dương thanh tra, nên bà Louise bận tiếp đón bà Mẹ Bề Trên ấy, không còn ai cho tôi cầu cứu để thuyết lý Á Lìl. Các thầy khán hộ thì đã dặn con bịnh cữ kiêng xong là nghe tròn bổn phận, không theo dõi họ để ngăn cản gì nữa. Còn tôi, tôi ngại một điều, mà cũng chẳng khỏi.  
   
Khi tôi giựt lấy “gàu-mêm” cơm, thì Á Lìl giận dỗi trách:  
   
- “Cố lứ” nói thương “ngóa,” sao không cho “ngóa” ăn cơm?  
   
- Vì thương mới không cho ăn.  
   
Thật thế. Nếu Á Lìl chỉ là một cô gái xấu xí, tôi cũng không nỡ để cho nó tự tử một cách gián tiếp như vậy. Huống chi trong mấy ngày vui mừng tái sanh ấy, tôi lại điên dại mà yêu đứa “nô tỳ” nầy.  
   
Lìl cười gằn hỏi:  
   
- Thương gì lại bỏ đói?  
   
- Vì ăn thì chết ngay.  
   
- Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi.  
   
Á Lìl lập lại câu hồi nãy, rồi khóc mùi mẫn.  
   
Thật là em nhỏ, mất miếng ăn một cái là khóc bù lu, bù loa. Nhưng không sao, tôi sẽ dỗ em nhỏ, thì em nhỏ nín chớ gì.  
Tôi định bụng như thế, nhưng tôi lầm.  
   
Lần đầu tiên, tôi rờ đến Á Lìl. Tôi vuốt tóc trán nó và nói rằng:  
   
- Lìl nín đi, rán nhịn, rồi vài bữa khỏi hẳn, tôi sẽ đưa Lìl đi ăn tửu lâu Triều Châu Đại La Thiên ở Chợ Lớn, có nhiều món ngon bằng một vạn thứ cơm gừng dấm nầy. Ở Đại La Thiên có chè thịt heo nè, có cù lao nè.  
   
Nhưng Á Lìl cứ khóc, khóc như cha chết mẹ chết không bằng, lâu lắm nó mới nói được trong tấm tức, tấm tưởi:  
   
- “Ngóa” nhớ tía má của “ngóa” quá. Tía má “ngóa” vì không có cơm ăn nên chết. Tía “ngóa” chết đi được một tháng, thì má “ngóa” bán “ngóa” cho Xừng Hinh lấy tiền mua gạo cho mấy em của “ngóa” ăn. Nhưng cả nhà ăn giỏi lắm được mười ngày, chắc rồi cũng chết hết. Cơm sao lại giết người? Không cơm mới nguy chớ!  
   
Nghe Á Lìl nhắc tới nguồn gốc nó, tôi đau xót vô cùng. Cơm là giấc ác mộng của người Trung Hoa từ mấy ngàn thế hệ nay, cho đến đỗi họ gặp nhau, chào nhau bằng câu: “Ăn cơm chưa?  
Nhưng làm thế nào cho con bé dại dột nầy hiểu rằng, không cơm thì chết đã đành, mà có cơm, lắm khi cũng chết.  
   
Vả lại, Á Lìl không cả quyết ăn vì thèm nữa, mà ăn để trả thù sự chết đói của cả nhà nó, thì làm sao mà thuyết phục nó được. Có lẽ nó đang nhìn cơm, mà nói thầm: “Ừ, ngày xưa, cha mẹ tao không có mầy nên chết, bây giờ gặp mầy đây, tao có dung tha đâu! Tao ăn cho sống dai, mặc kệ lũ nó bày điều, đặt chuyện.”  
   
Biết nói làm sao cũng không xong, tôi xách “gàu-mên” mà đi.  Sau lưng tôi, Á Lìl chửi rủa om sòm bằng tiếng Tàu. Nếu nó mà rượt theo được, chắc nó một mất, một còn với tôi, để cướp cơm lại.  
   
Chiều hôm ấy, tôi trốn luôn, đến sáng ngày hôm sau mới dám chống gậy qua trại III.  Á Lìl vắng mặt trên giường. Thấy tôi ngơ ngác tìm quanh, một bà lão vừa ho sù sụ, vừa nói:  
   
- Nó chết đêm rồi thầy à, hồi năm giờ sáng.  Người ta đã khiêng nó xuống nhà xác.  
   
- Trời ơi! Sao lại chết?  
   
Tôi giậm chân mà hỏi câu ngớ ngẩn ấy.  
   
Người khán hộ ở đâu sau lưng tôi đáp hộ bà lão:  
   
- Chảy máu ruột!  
   
- Sao lại chảy máu ruột?  
   
- Vì ăn!  
   
- Trời ơi!  
   
Bà lão ho, rồi lại nói:  
   
- Thầy giựt cơm của nó mà trốn đi, thì chiều lại, người nhà nó đem cơm vô nữa. Nó ăn xong, tối lại kêu đau bụng, vằn vật tới khuya mới chết.  
   
- Sao bà không mời bác sĩ dùm nó?  
   
- Có, tôi có cho bà Sơ hay, bả có kêu thầy đây.  
   
Bà chỉ vào thầy khán hộ, thầy ta lắc đầu thở ra và giải thích:  
   
- Tôi có tiêm thuốc cho nó, nhưng không gọi bác sĩ...  
   
- Sao vậy?  
   
- Vô ích. Chỉ có sang máu mới có một chút xíu hy vọng cứu nó; Nhưng ai sẽ cho máu nó? Còn thuê người để lấy máu thì tiền đâu?  
   
Là con trai, tôi không khóc được. Nhưng lòng tôi đã tơi bời như áo mục phơi dưới gió to…  
   
Đứng tần ngần giây lâu, tôi hỏi bà lão:  
   
- Nó có nói gì hay không bà, lúc nó hấp hối?  
   
- Có. Nó có kêu thầy...  
   
- Kêu tôi? Có nhắn gì hay không ?  
   
Nó kêu khóc rằng:  
   
“Thầy hai ơi, té ra, quả thật không cơm cũng chết, mà ăn cơm cũng chết.. ‘Ngóa’ nghèo dốt, biết đâu. Trước kia tía má của ‘ngóa’ nghèo nên không ăn cơm, ngày nay ‘ngóa’ nghèo nên không biết, hai lần đều chết. Thầy hai ơi, ở lại mạnh giỏi nhá!”  
   
Tôi không còn là con trai nữa, nhưng tôi không khóc tiếc thương một cô gái đẹp. Tôi chỉ khóc vì một gia đình sống không tên, không tuổi bị thảm kịch cơm làm tuyệt nòi, chỉ còn một mống thôi. Mống ấy trôi dạt đi xa ngàn dặm, qua cái xứ có cơm nhiều nầy, mà lại cũng không thoát khỏi thảm kịch cơm.  
   
Ngày nay, mỗi khi nghe một người Trung Hoa chào ai: “Ăn cơm chưa?” tôi bâng khuâng nhớ lại mối tình yêu đầu và nao nao buồn mối tình thương đầu của tôi.  
   
Bình Nguyên Lộc  
   
Trần Văn Giang (ghi lại)

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Ăn Cơm Chưa? - Bình Nguyên Lộc ( Trần Văn Giang ghi lại )

Bà sơ rút nhiệt kế ra khỏi nách tôi, chăm chú đọc nhiệt độ, mặt lộ vẻ ngạc nhiên như không tin ở điều mà bà đã thấy.


 
*  
Lời giới thiệu  
    
Tôi là người gốc Triều Châu nhưng từ nhỏ đến lớn chỉ học tiếng Việt và chỉ giao du với bạn Việt Nam và ngay cả cái nhà tôi ở cũng ngay trung tâm thành phố (ngay trước Hội Đồng Xã Tân An - Cần Thơ) và xung quanh là nhà của các công chức VN. Vốn liếng tiếng Tiều của tôi lúc đó rất ít nhưng lớn lên, cho đến giờ tôi vẫn có một suy nghĩ: Tại sao người ta gặp nhau hay hỏi "Anh khỏe không?" hay "How are you?" "你好嗎?" nhưng duy nhất thời đó người Triều Châu ở VN gặp nhau lại hỏi là "食飯未?" (“chẹ bừng quề”) có nghĩa là "Ăn cơm chưa?"  
   
Tôi cho tới giờ vẫn còn bâng khuâng đó nên vẫn muốn tìm hiểu tại sao người Tiều ở VN gặp nhau hay hỏi "Ăn cơm chưa?" mà không bao giờ hỏi "Khỏe không?" vẫn không thấy gì giải thích nào thỏa đáng trên mạng; nhưng lại may mắn tìm được một truyện ngắn của tác giả Bình Nguyên Lộc (phía dưới). Đọc hết câu chuyện trong bài viết, tôi cảm thấy nghẹn ngào, rưng rưng có lẽ nó bây giờ thắc mắc đã được giải đáp dù cho chưa thỏa mãn, nhưng cũng đáp ứng phần nào cho chút suy tư của tôi.  
   
Khuyết Danh  
   
*  
 
ĂN CƠM CHƯA? (食飯 ?)
 
Bà sơ rút nhiệt kế ra khỏi nách tôi, chăm chú đọc nhiệt độ, mặt lộ vẻ ngạc nhiên như không tin ở điều mà bà đã thấy. Bà dòm mặt tôi, đoạn đọc lại một lần nữa.  
   
Tôi đang hồi hộp vì đoán rằng có chuyện không hay thì bà đã nhảy ra khỏi phòng, làm cho tôi hốt hoảng đến cực điểm.  Tôi mắc chứng thương hàn, sốt mê man mấy tuần nay, vừa tỉnh lại chứng kiến sự bối rối của con người áo đen bé loắt choắt ấy, làm tôi ngỡ là tôi sắp chết đến nơi.  
   
Nhưng gương mặt tươi của bác sĩ Chaput hiện ra nơi khung cửa, giúp tôi an lòng lại ngay. Giờ ấy còn sớm quá, bác sĩ, chắc mới đến nhà thương, chưa kịp mặc áo choàng, còn mặc thường phục.  
Bà sơ theo sau nói:  
   
- Hắn không còn nhiệt độ nữa, chắc hắn phải lạnh lắm, vì sự thay đổi đột ngột nầy, tôi cho hắn uống “Potion de Todd,” bác sĩ nhé!  
   
- Phải đấy.  
   
Đoạn bác sĩ hỏi tôi:  
   
- Ông nghe thế nào?  
   
- Như vừa tái sanh, thưa bác sĩ.  
   
- Tốt! Mới nghe, tôi hoảng lắm, vì nhiệt độ xuống thình lình, có thể là triệu chứng của sự chảy máu ruột… nếu ông lén ăn gì.  
   
Tôi cười, một cái cười héo hon của con người sốt liên miên hăm tám ngày, mà không ăn uống gì cả trong thời gian đó. Bác sĩ dặn thêm, trước khi rời buồng tôi:  
   
- Vài hôm nữa là thèm ăn, nhưng phải nhịn, ăn là lủng ruột ngay… Ngoan lên nhé!  
   
Quên nói rõ, là tôi mắc bịnh nầy trước chiến tranh, vào thuở mà loài người chưa tìm ra thuốc trị thương hàn. Nhà thương cứ để vậy, tiêm thuốc nâng đỡ cho trái tim khỏi lụy, rồi ai kháng chết được, thì sống, ai yếu lắm, là đi luôn.  
   
Như vừa được tái sanh! Tôi không nói quá đâu. Vi trùng bệnh thương hàn phá rối sinh lý con người một cách kỳ lạ lắm. Tôi nghe yêu đời ghê hồn và dòm ra sân nhà thương tỉnh Bình Dương (bấy giờ là Thủ Dầu Một), tôi thấy khóm bông dừa, thứ bông hèn ấy, sao mà hôm nay lại đẹp lạ lùng.  
   
Trưa hôm đó, bác sĩ Chaput khoe với tôi rằng, ở trại bố thí III, một con đồng bịnh với tôi cũng vừa khỏi. Ông ta sung sướng về chuyện ấy lắm, vì con bịnh các trại bố thí chết nhiều quá, khiến dân chúng hiểu lầm, nhà thương bỏ bê người nghèo khó. Sự thật, thì sở dĩ, số tử ở đó lên cao theo tỷ lệ, vì các con bịnh nghèo, thường để thật nguy kịch mới vào nhà thương và khi vào điều trị, không có người nhà theo để săn sóc, nhà thương chỉ vừa đủ người lo thuốc men thôi. Còn những sự săn sóc (rất cần thiết) phải được người nhà lo lấy mới mong lành bịnh.  
   
Tôi yêu đời, và cố nhiên, yêu kẻ đồng bịnh vừa khỏi cùng một lượt với tôi. Ba hôm sau, được nuôi dưỡng bằng nước xúp và bột Ý, tôi đã chống gậy đi được, và mục tiêu phiếm du đầu tiên của tôi là trại III.  
   
Kẻ đồng bịnh với tôi là một cô gái Trung Hoa, hai mươi tuổi, con gái đang thì, cái ngực tất phải to, thế mà tôi trông cô ta xẹp lép như con cá khô. Cái mền cô ta đắp, như dán sát vào chiếu nhà thương.  
   
Người bạn đồng bịnh với tôi, đi không được như tôi. Trong cơn nóng sốt không ăn, người nhà tôi có mua “Sérum Glucosé” cho bác sĩ bơm vào tôi, nhờ thế mà tôi không suy lắm. Con bịnh nghèo nầy, thì khỏi hưởng món xa xí phẩm ấy, mà nhà thương không sắm được, vì kém tài chánh.  
   
Tuy nhiên, nhìn sơ cô gái, tôi cũng thấy là cô ta đẹp lắm. Hoa tàn kia mà còn mang dấu vết thời tươi thắm thay, huống chi đây chỉ là một đóa hoa thiếu nước lọ trong chốc lát thôi… Cứ theo người cùng trại với “Á Lìl,” tên cô, thì cô ta là một đứa bé được “mua.” Chú Xừng Hinh, chủ tiệm chạp phô ngoài chợ, năm xưa về thăm quê quán bên Tàu, gặp mùa lụt lội, đói kém, đã mua đứa bé ấy ba mươi đồng bạc. Bạc Trung Hoa với bạc Đông Dương thuở ấy tương đương giá với nhau, thì quý vị biết, con bé ấy rẻ là dường nào.  
   
Chú Xứng Hinh cũng khá, xem Á Lìl như con chú, chớ nhiều thằng khác, nó nuôi những con bé “nước lụt” ấy cho đến thời trổ mã, bắt làm lụng cho bù với số tiền mua, rồi lại hưởng luôn chúng là khác.  
   
Như chủ nó, Á Lìl là người Triều Châu. Phụ nữ Triều Châu để rìa tóc phủ lên trán, xem rất ngây thơ và có duyên. Họ lại đẹp người hơn tất cả các thứ người Trung Hoa khác. Á Lìl lại là gái dung nhan có hạng trong thứ người đẹp nầy, nên tình thương kẻ đồng bịnh của tôi, bỗng nhiên, tăng lên gấp bội, vì tôi mới có hăm ba tuổi.  
   
Nếu như ở ngoài, chắc không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện yêu một “ả nô tỳ,” cho dẫu là nó đang đẹp lộng lẫy. Nhưng ở đây, cô ta là con bịnh, đồng hạng với tất cả con bịnh khác.  
   
Một ngày, tôi chống gậy xuống trại III đến hai lần, lần nào tới nơi, tôi cũng đứng lại nơi cửa trại, để thở dốc một hơi, rồi mới vào được...  
   
Á Lìl đoán biết tình cảm của tôi đối với nó, nên lần nào, mắt nó cũng sáng lên, khi nghe tiếng gậy của tôi nện cồm cộp trên gạch.  
   
Từ năm lên chín, mãi đến bây giờ, nghĩa là từ năm bị bán và đưa sang nước “An Nam,” con “nô tỳ” nầy chưa được ai nói ngọt với nó lời nào cả. Bây giờ, bỗng nhiên có một dân mặc “bi-da-ma,” lân la thăm hỏi nó, thì làm sao nó không rưng rưng lệ sung sướng được.  
   
Mặc dầu chỉ được uống nước cháo với đường hạ, con ở Á Lìl cứ càng ngày càng hồng hào ra. Con gái, dường như, có dự trữ trong người những sức mạnh gì như cứ chực vùng lên, không cần ăn gì cho bổ lắm, họ cũng cứ béo tốt ra.  
   
Má Á Lìl cạn dần lên, trông ngon như hai trái đào ở bảy phủ Triều Châu mà Á Lìl thường ca tụng với tôi.  Trông Á Lìl, tôi nghĩ ngay đến những phi tần bên Tàu ngày xưa, cũng tuyển lựa trong đám dân “nước lụt” như vầy. Thì ra, con gái Trung Hoa, ngàn đời, vẫn đẹp và vẫn để mà tiếp tế cho các cung tần. Á Lìl sẽ làm bé chú “chệt” già đại phú nào đây, một ngày kia.  
   
Hôm ấy, Á Lìl ngồi dậy được, nhưng còn phải ăn cháo hoa với “hàm-yũu.” Cháo với vị mặn giúp Á Lìl tươi tỉnh hẳn ra. Nó tiếp tôi bằng một bài hát gì đó, tôi không hiểu, nhưng rất thích nghe. Cái giọng mũi của người Triều Châu, khi hát lên, nghe líu lo rất dễ yêu, nhứt là dễ thương, nghe như là họ khóc cảnh sống lầm than của họ.  
   
Á Lìl cắt nghĩa cho tôi biết rằng, bài hát ấy nói đến cái mặt trăng nho nhỏ và tròn tròn. Nó mới giải thích tới đó, thì người nhà chú Xừng Hinh mang cho nó một “gàu-mên” cơm. Mắt con Lìl sáng hơn là khi tôi mới vào thăm nó nữa... Tôi hỏi:  
   
- Nhà đem cơm từ bao lâu rồi?  
   
- “Ngóa” thèm quá, chỉ mới nhắn đem vô lần đầu thôi.  
   
- Lìl không nên ăn cơm vội. Bác sĩ không có dặn gì sao?  
   
- Bác sĩ nói tiếng Tây, ngóa đâu có hiểu. Bà Sơ biết chút ít tiếng Annam, dặn đừng cho ăn đồ cứng, ăn thì lủng ruột chết liền.  
   
Á Lìl nói xong cười ngặt nghẹo, một hơi, rồi tiếp:  
   
- Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi.  
   
- Lìl không hiểu, chớ ruột Lìl đã bị vi trùng làm cho mỏng lắm rồi đó.  
   
Á Lìl lại cười một giây nữa, mà rằng:  
   
- Bị thuốc của thằng Tây làm cho mỏng thì có. Thầy biết sao không? Hổm nay ông Tây chích cho “ngóa” chết mà “ngóa” không chết, nên ổng bỏ đói cho “ngóa” chết đó...  
   
Á Lìl nói rồi vừa kéo gàu-mên cơm lại, vừa nói:  
   
- Ăn cơm với gừng nấu dấm thì tốt lắm, như người “An nam” ăn với muối tiêu vậy mà, chết sao được.  
   
Tôi bối rối quá. Hôm ấy có Mẹ Bề Trên, người cai quản các bà Sơ, từ Sàigòn lên Bình Dương thanh tra, nên bà Louise bận tiếp đón bà Mẹ Bề Trên ấy, không còn ai cho tôi cầu cứu để thuyết lý Á Lìl. Các thầy khán hộ thì đã dặn con bịnh cữ kiêng xong là nghe tròn bổn phận, không theo dõi họ để ngăn cản gì nữa. Còn tôi, tôi ngại một điều, mà cũng chẳng khỏi.  
   
Khi tôi giựt lấy “gàu-mêm” cơm, thì Á Lìl giận dỗi trách:  
   
- “Cố lứ” nói thương “ngóa,” sao không cho “ngóa” ăn cơm?  
   
- Vì thương mới không cho ăn.  
   
Thật thế. Nếu Á Lìl chỉ là một cô gái xấu xí, tôi cũng không nỡ để cho nó tự tử một cách gián tiếp như vậy. Huống chi trong mấy ngày vui mừng tái sanh ấy, tôi lại điên dại mà yêu đứa “nô tỳ” nầy.  
   
Lìl cười gằn hỏi:  
   
- Thương gì lại bỏ đói?  
   
- Vì ăn thì chết ngay.  
   
- Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi.  
   
Á Lìl lập lại câu hồi nãy, rồi khóc mùi mẫn.  
   
Thật là em nhỏ, mất miếng ăn một cái là khóc bù lu, bù loa. Nhưng không sao, tôi sẽ dỗ em nhỏ, thì em nhỏ nín chớ gì.  
Tôi định bụng như thế, nhưng tôi lầm.  
   
Lần đầu tiên, tôi rờ đến Á Lìl. Tôi vuốt tóc trán nó và nói rằng:  
   
- Lìl nín đi, rán nhịn, rồi vài bữa khỏi hẳn, tôi sẽ đưa Lìl đi ăn tửu lâu Triều Châu Đại La Thiên ở Chợ Lớn, có nhiều món ngon bằng một vạn thứ cơm gừng dấm nầy. Ở Đại La Thiên có chè thịt heo nè, có cù lao nè.  
   
Nhưng Á Lìl cứ khóc, khóc như cha chết mẹ chết không bằng, lâu lắm nó mới nói được trong tấm tức, tấm tưởi:  
   
- “Ngóa” nhớ tía má của “ngóa” quá. Tía má “ngóa” vì không có cơm ăn nên chết. Tía “ngóa” chết đi được một tháng, thì má “ngóa” bán “ngóa” cho Xừng Hinh lấy tiền mua gạo cho mấy em của “ngóa” ăn. Nhưng cả nhà ăn giỏi lắm được mười ngày, chắc rồi cũng chết hết. Cơm sao lại giết người? Không cơm mới nguy chớ!  
   
Nghe Á Lìl nhắc tới nguồn gốc nó, tôi đau xót vô cùng. Cơm là giấc ác mộng của người Trung Hoa từ mấy ngàn thế hệ nay, cho đến đỗi họ gặp nhau, chào nhau bằng câu: “Ăn cơm chưa?  
Nhưng làm thế nào cho con bé dại dột nầy hiểu rằng, không cơm thì chết đã đành, mà có cơm, lắm khi cũng chết.  
   
Vả lại, Á Lìl không cả quyết ăn vì thèm nữa, mà ăn để trả thù sự chết đói của cả nhà nó, thì làm sao mà thuyết phục nó được. Có lẽ nó đang nhìn cơm, mà nói thầm: “Ừ, ngày xưa, cha mẹ tao không có mầy nên chết, bây giờ gặp mầy đây, tao có dung tha đâu! Tao ăn cho sống dai, mặc kệ lũ nó bày điều, đặt chuyện.”  
   
Biết nói làm sao cũng không xong, tôi xách “gàu-mên” mà đi.  Sau lưng tôi, Á Lìl chửi rủa om sòm bằng tiếng Tàu. Nếu nó mà rượt theo được, chắc nó một mất, một còn với tôi, để cướp cơm lại.  
   
Chiều hôm ấy, tôi trốn luôn, đến sáng ngày hôm sau mới dám chống gậy qua trại III.  Á Lìl vắng mặt trên giường. Thấy tôi ngơ ngác tìm quanh, một bà lão vừa ho sù sụ, vừa nói:  
   
- Nó chết đêm rồi thầy à, hồi năm giờ sáng.  Người ta đã khiêng nó xuống nhà xác.  
   
- Trời ơi! Sao lại chết?  
   
Tôi giậm chân mà hỏi câu ngớ ngẩn ấy.  
   
Người khán hộ ở đâu sau lưng tôi đáp hộ bà lão:  
   
- Chảy máu ruột!  
   
- Sao lại chảy máu ruột?  
   
- Vì ăn!  
   
- Trời ơi!  
   
Bà lão ho, rồi lại nói:  
   
- Thầy giựt cơm của nó mà trốn đi, thì chiều lại, người nhà nó đem cơm vô nữa. Nó ăn xong, tối lại kêu đau bụng, vằn vật tới khuya mới chết.  
   
- Sao bà không mời bác sĩ dùm nó?  
   
- Có, tôi có cho bà Sơ hay, bả có kêu thầy đây.  
   
Bà chỉ vào thầy khán hộ, thầy ta lắc đầu thở ra và giải thích:  
   
- Tôi có tiêm thuốc cho nó, nhưng không gọi bác sĩ...  
   
- Sao vậy?  
   
- Vô ích. Chỉ có sang máu mới có một chút xíu hy vọng cứu nó; Nhưng ai sẽ cho máu nó? Còn thuê người để lấy máu thì tiền đâu?  
   
Là con trai, tôi không khóc được. Nhưng lòng tôi đã tơi bời như áo mục phơi dưới gió to…  
   
Đứng tần ngần giây lâu, tôi hỏi bà lão:  
   
- Nó có nói gì hay không bà, lúc nó hấp hối?  
   
- Có. Nó có kêu thầy...  
   
- Kêu tôi? Có nhắn gì hay không ?  
   
Nó kêu khóc rằng:  
   
“Thầy hai ơi, té ra, quả thật không cơm cũng chết, mà ăn cơm cũng chết.. ‘Ngóa’ nghèo dốt, biết đâu. Trước kia tía má của ‘ngóa’ nghèo nên không ăn cơm, ngày nay ‘ngóa’ nghèo nên không biết, hai lần đều chết. Thầy hai ơi, ở lại mạnh giỏi nhá!”  
   
Tôi không còn là con trai nữa, nhưng tôi không khóc tiếc thương một cô gái đẹp. Tôi chỉ khóc vì một gia đình sống không tên, không tuổi bị thảm kịch cơm làm tuyệt nòi, chỉ còn một mống thôi. Mống ấy trôi dạt đi xa ngàn dặm, qua cái xứ có cơm nhiều nầy, mà lại cũng không thoát khỏi thảm kịch cơm.  
   
Ngày nay, mỗi khi nghe một người Trung Hoa chào ai: “Ăn cơm chưa?” tôi bâng khuâng nhớ lại mối tình yêu đầu và nao nao buồn mối tình thương đầu của tôi.  
   
Bình Nguyên Lộc  
   
Trần Văn Giang (ghi lại)

BẢN TIN MỚI NHẤT

NHẶT NẮNG XUÂN. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Nở tràn đường lữ thứ Xuân bên anh ngậm ngùi

Xem Thêm

VAI DIỄN. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Bây giờ giữ mảnh hồn suông Để năm tháng đóng hết tuồng thế nhân

Xem Thêm

Cha già dâm tặc - Nguyễn Bá Chổi

Cha già dâm tặc - Nguyễn Bá Chổi

Xem Thêm

Đố Vui các Bạn - Lão Phan

Với những gì đã xảy ra, cặp đôi này được mệnh danh là đen đủi nhất thế giới.

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Người Việt Nam Nghĩ Gì? -Từ Đức Minh ( Trần Văn Giang ghi lại )

Nhan dinh cua saigonpots ma bac Tran van Giang ghi lai.Doc xong nghe cay dang nao long.Du su that no ranh ranh.Nhung tuoi gia cung co mot hy vong cho du la mong manh va mo ao. hy vong con hon la that vong ?

Xem Thêm

Đề bài :Hình cũ - Hà Thượng Thủ

Ngắm lại hình xưa chịu mấy ông Những Linh, Tùng, Duẫn với Mười, Đồng Mặt mày ai lại đi hồ hởi Phấn khởi khi Tàu cướp Biển Đông Phải chăng “quý” mặt đã thành mông Con mắt nay đà có nhưng không Nên mới chổng khu vào hải đảo Gia tài gấm vóc của tổ tông?

Xem Thêm

Đề bài :Nói thật - Hà Thượng Thủ

Loi tuyen bo cua Bo truong han la phai dung ! Vay ra tu truoc toi nay,bang gia- hoc gia- tu nghiep gia...tat ca deu gia. Vay cai gi la that ?chang phai duoi che do CS,tat ca deu la gia tra,.gian doi,lua dao...Tat ca deu da duoc dao tao bang lao toet ngay tu khi con la thieu nhi .

Xem Thêm

Đề bài :Nói thật - Hà Thượng Thủ

Loi tuyen bo cua Bo truong han la phai dung ! Vay ra tu truoc toi nay,bang gia- hoc gia- tu nghiep gia...tat ca deu gia. Vay cai gi la that ?chang phai duoi che do CS,tat ca deu la gia tra,.gian doi,lua dao...Tat ca deu da duoc dao tao bang lao toet ngay tu khi con la thieu nhi .

Xem Thêm

Đề bài :Nói thật - Hà Thượng Thủ

Loi tuyen bo cua Bo truong han la phai dung ! Vay ra tu truoc toi nay,bang gia- hoc gia- tu nghiep gia...tat ca deu gia. Vay cai gi la that ?chang phai duoi che do CS,tat ca deu la gia tra,.gian doi,lua dao...Tat ca deu da duoc dao tao bang lao toet ngay tu khi con la thieu nhi .

Xem Thêm

Đề bài :Tiên đoán - Hà Thượng Thủ ( Câu: "Phản bội đồng minh nên quả báo" cay đắng quá ! )

Cai gi cung co mat phai va mat trai.Tuc ngu :" doi cha an man,doi con khat nuoc".Luat tuan hoan vay tra,tra vay.Thien ac dao dau...vv...Oan hon cua cac tu si,nan nhan chien cuoc vi bao ve non song.Oan hon cua nhung nguoi vuot bien+duong bo tim tu do bi vui thay o bien dong+rung nui...Nhung oan khuat,uat han tu toi...ngay dem keu gao su tra le cong ly cho su mat mat chinh dang cua ho."Thien vong khoi khoi,thua ma khong lot.Van te Thap loai chung sinh.Van te cac tu si hy sinh vi bao ve non song dat nuoc van con vang ren moi nam vao ngay ky niem cua ho...

Xem Thêm

Đề bài :Philippines muốn đổi y tá lấy vaccine Covid-19

Xuất khẫu Lao động kiễu Philippine mới nên gọi là xuất khẩu lao động... Còn xuất khẩu lao đông kiễu XHCNVN chỉ đi làm cu li, bán sức lao đông với gía rẻ, còn bị đám đầu nậu trong nước nó hút thêm máu... BAo giờ XHCNVN mới có loại lao động cao cấp này để hãnh diện với đời là VN ta vô Địt...?? còn không chỉ là bán băp thit kiếm ăn...Làm nhiều mà hưởng ít...!!!! B́ất hạnh cho dân VN...thông minh,cần cù mà không được hướng nghiệp đúng cách....??????

Xem Thêm

TIN MỚI

VAI DIỄN. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Bây giờ giữ mảnh hồn suông Để năm tháng đóng hết tuồng thế nhân

Xem Thêm

Cha già dâm tặc - Nguyễn Bá Chổi

Cha già dâm tặc - Nguyễn Bá Chổi

Xem Thêm

Đố Vui các Bạn - Lão Phan

Với những gì đã xảy ra, cặp đôi này được mệnh danh là đen đủi nhất thế giới.

Xem Thêm

BÀI LẠC THIÊN. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Đứng ở ven trời mùa dĩ vãng Lạc Thiên sao níu mãi chiều tan

Xem Thêm

Bác đã vô chùa - Nguyễn Bá Chổi

Bác đã vô chùa - Nguyễn Bá Chổi

Xem Thêm

Trang Lá cải ngày 13 -01 -2022: Mặt Bác Hồ giống Đồ con đĩ

Giữa tối đến nhà bạn thân, đẩy cửa vào thấy luôn chồng đang "tăng ca" ở đó

Xem Thêm

TƯỞNG ĐÃ TRĂM NĂM. - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Sóng người đi mãi chập chùng Mà không thấy được nỗi lòng ta xưa

Xem Thêm