Lịch Sử, Quân Sử & Huyền Thoại

Chính sách cưỡng bách Hoa kiều nhập Việt tịch của Tổng thống Ngô Đình Diệm

10 ngày sau (6-9-1956), Tổng thống Ngô Đình Diệm lại ra Dụ số 53, hạ đòn quyết định, đánh thẳng vào nồi cơm của bọn Ba Tàu. Dụ 53 chỉ định những nghề nghiệp mà các ngoại kiều, hay các hội xã, công ty ngoại quốc không được hoạt động, đó là....

Chính sách cưỡng bách Hoa kiều nhập Việt tịch 
của Tổng thống Ngô Đình Diệm
               
                           Tổng thống Ngô Đình Diệm.

A. Sơ lược bối cảnh lịch sử di dân Tàu ở Việt Nam

Đất Giao Chỉ xưa vốn thuộc Tàu, nên đã ngàn năm nay, việc người Tàu sang đây sinh sống là chuyện thường tình. Nhưng di dân Tàu ồ ạt thành đoàn thành lũ xuống phương Nam là bắt đầu từ giữa thế kỷ XVII. Họ là những kẻ bất phục Mãn Thanh, tìm sang Nam để gìn giữ nề nếp phong tục người Hán. Họ tập hợp nhau lập thành làng, gọi làng Minh Hương (làng của người Minh). Để phân biệt, ta hiểu “người Minh Hương” là những di dân chính trị. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, ta có những “Hoa kiều”, đó là những di dân kinh tế.

Không có dân tộc nào tôn thờ chữ viết như người Tàu. Nghệ thuật viết chữ được luyện thành thư pháp, như một tôn giáo để di dưỡng tâm hồn. Văn tự thành chiếc cầu nối giữa người phàm với thần linh. Lưu lạc đến bất cứ đâu, việc họ bắt tay thực hiện đầu tiên là lập hội quán, để tập hợp thành cộng đồng tương trợ nhau; kế đó là xây dựng trường học, để bảo tồn chữ Hán.

Thời Hậu Lê, người Tàu đã được hưởng quy chế ngoại kiều. Người Việt vốn chuộng hư danh phù phiếm, xem thường việc kinh thương, lại say mê đánh giết nhau, nên ngay từ Trịnh-Nguyễn phân tranh, người Tàu đã nắm trọn độc quyền khai thác khoáng sản, buôn bán gạo muối và kinh doanh vận tải; giang sơn Đại Việt chia đôi chẳng ngăn được người Tàu ở hai Đàng (Trong và Ngoài) hiệp lực với nhau, chi phối và thao túng toàn bộ kinh tế Đại Việt. Người Tàu chí thú làm ăn, cung cấp lương thực và hàng hóa cho hai phe đồng chủng Tiên Rồng đánh giết nhau, và họ trở nên giàu có, một phần nhờ ở sự hiếu chiến oai hùng của người Việt.

Sự giàu có của người Tàu được Nguyễn Huệ ghé mắt xanh, đưa vào diện quan tâm đặc biệt. Những cuộc chém giết để cướp của của người Tàu được giặc Tây Sơn tổ chức quy mô: San bằng Cù Lao Phố Đồng Nai, hủy diệt Mỹ Tho, tàn sát Chợ Lớn. Huệ thành hiện thân của quỷ dữ, người Tàu bị đẩy vào thế phải đâu lưng cùng Nguyễn Ánh để chung sức tiêu diệt hung đồ bạo ngược.

Ghi nhớ công hãn mã khuông phò của bọn người Tàu, khi lên ngôi, Gia Long đã dành cho Hoa kiều những đặc ân lớn: nhẹ thuế khóa, miễn lao dịch và không phải đóng thuế thân. Vua lại cho phép họ thành lập bảy đại bang theo phương ngữ, được quyền tự trị, là Phúc Kiến, Phúc Châu, Triều Châu, Quảng Châu, Quế Châu, Lôi Châu và Hải Nàm. Từ sau đời Minh Mạng, tuy cũng có lúc Hoa kiều bị siết chặt, ngăn ngừa họ phóng túng vô cương, nhưng Hoa kiều vẫn luôn là cộng đồng được ưu ái nhất ở Việt Nam. Đến khi người Pháp vào cai trị, những quy chế ưu đãi của Nguyễn triều dành cho Hoa kiều được duy trì hầu như không đổi, thế lực Hoa kiều cứ thế ngày một lớn mạnh.

Kể từ sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam chia thành hai miền Nam Bắc thì tình hình làm ăn của Hoa kiều không còn hanh thông như trước.

Trước đó, ngoài Bắc, khi cộng sản nắm quyền, các bang hội Tàu s9ã bị giải tán, trường dạy chữ Tàu bị đóng cửa. Không giữ được văn tự và bang hội, người Tàu đất Bắc nhanh chóng bị đồng hóa với dân bản địa, không thể phân biệt được họ với người Việt bình thường nữa. Trong Nam, chánh quyền không có được lợi thế sắt máu của chuyên chính vô sản, nên đã phải chật vật hơn rất nhiều trong việc đưa cộng đồng Hoa kiều hòa nhập vào khối đoàn kết toàn dân, đồng thời vẫn để họ giữ gìn bản sắc, cũng như phát huy sở trường kinh thương.

B. Diễn biến công cuộc bắt buộc Hoa kiều nhập Việt tịch

Nhận thấy Hoa kiều đã được hưởng lợi lộc khổng lổ ở Việt Nam nhưng lại không hề phải thực thi nghĩa vụ gì đối với quốc gia. Quy chế ngoại kiều đã giúp họ không phải đóng thuế kinh doanh; thể chế bang hội tự trị khiến họ trở thành những tiểu quốc gia trong một quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Không chịu sự tài phán của tòa án Việt Nam, chẳng cần sự bảo vệ và giúp đỡ của cảnh sát, tự họ giải quyết với nhau theo phán quyết của các Bang trưởng. Sự khép kín của cộng đồng Hoa kiều là hành vi ích kỷ và bội bạc với đất nước đã cưu mang mình.

Để kiến thiết kinh tế cũng như tập hợp được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, việc đưa Hoa kiều hội nhập là vấn đề quan trọng hàng đầu. Chánh phủ Ngô Đình Diệm vừa mới được thành lập ở miền Nam ngày 26-10-1955, thì chỉ hơn một tháng sau, vào ngày 7-12-1955, Thủ tướng đã ban hành Dụ số 10 quy định về Bộ Luật quốc tịch Việt Nam. Điều 12 ghi rõ: “Con chính thức mà mẹ là người Việt Nam, và cha là người Trung Hoa, nếu sinh đẻ ở Việt Nam thì là người Việt Nam”. Theo đó, tất cả những ai gốc Tàu sinh ra ở Việt Nam đều bắt buộc phải nhập Việt tịch, để được có quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Việt Nam.

Bọn người Tàu vẫn được hưởng đặc quyền đặc lợi bấy lâu, nay bỗng dưng thấy mình có nguy cơ bị thất sủng nên đã kiên quyết bất hợp tác với chánh quyền. Hơn 800.000 thần tử Hoa Hạ ở miền Nam Việt Nam chăm chú hướng về Đài Loan, trông chờ sự can thiệp của Tưởng Giới Thạch [Con số 800.000 này không tính người Minh Hương; thời điểm đó tổng dân số Việt Nam Cộng Hòa khoảng hơn 10 triệu].

Đinh ninh Thống chế Thạch sẽ “trị” được Thủ tướng Diệm, nên Hoa kiều xem Dụ lệnh số 10 như gió thoảng ngoài tai, không đáng để ý. Trước sự chây ỳ táo tợn khinh thường luật nước đó, chánh quyền ban hành tiếp Dụ số 48 (ngày 21-8-1956), Sửa đổi Bộ Luật Quốc tịch Việt Nam, Điều 16 quy định: Hoa kiều thổ sanh (sinh trưởng tại Việt Nam) sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải nhập và khai nhận quốc tịch Việt Nam, hoặc nếu không chịu nhập tịch thì có thể xin hồi hương (về Đài Loan) trước ngày 31-8-1957. Thời hạn ấn định cho những Hoa kiều sinh tại Việt Nam phải làm khai sinh để được cấp thẻ căn cước sẽ kết thúc ngày 08-4-1957, việc kiểm tra sẽ hoàn tất vào ngày 22-6-1957. Bằng Dụ lệnh này, Diệm cho thấy sự kiên quyết của chánh quyền để buộc Hoa kiều vào khuôn phép. Ai không muốn nhập tịch cứ sang Đài Loan sinh sống, mỗi người sẽ được chánh quyền cấp cho 400 đồng để “hồi hương”, đúng theo luật định.

Ngày 29-8-1956, Thủ tướng ban hành Dụ số 52 qui định Hoa kiều sinh sống tại miền Nam phải mang quốc tịch Việt. Khi có quốc tịch, họ được tự do giao dịch, đi lại và buôn bán. Người Tàu phải Việt hóa tên họ (như Trịnh, Quách, Mạch, Lâm, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trần, Trương, v.v…) chứ không được xưng các tên ngoại quốc hay tên gọi riêng (như Chú, A, Chế…) kể cả bí danh, trong những văn kiện chính thức. Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa, phải viết bằng Việt ngữ.

Một cửa hàng chạp-phô của người Tàu vào đầu thế kỷ XX.
Một cửa hàng chạp-phô của người Tàu vào đầu thế kỷ XX.

10 ngày sau (6-9-1956), Diệm lại ra Dụ số 53, hạ đòn quyết định, đánh thẳng vào nồi cơm của bọn Ba Tàu. Dụ 53 chỉ định những nghề nghiệp mà các ngoại kiều, hay các hội xã, công ty ngoại quốc không được hoạt động, đó là: 1. Buôn bán cá và thịt; 2. Buôn bán chạp-phô (tạp hóa); 3. Buôn bán than, củi; 4. Buôn bán xăng, dầu lửa và dầu nhớt (trừ các hãng nhập cảng); 5. Cầm đồ bình dân; 6. Buôn bán vải sồ, tơ lụa, chỉ sợi, …; 7. Buôn bán sắt, đồng thau vụn; 8. Nhà máy xay lúa; 9. Buôn bán ngũ cốc; 10. Chuyên chở hàng hóa, hành khách bằng xe hơi, tàu hay thuyền; 11. Trung gian ăn huê hồng. Những ngoại kiều đang hoạt động những nghề trên phải thôi các nghề đó trong vòng 6 tháng đối với các nghề từ số 1 đến số 7, và một năm đối với các nghề từ số 8 đến số 11. Những ai vi phạm Dụ này sẽ bị phạt tiền từ 50.000 cho đến 5 triệu đồng, và có thể bị trục xuất. Người Việt Nam nào thông đồng với ngoại kiều vi phạm thì bị phạt 6 tháng đến 3 năm tù ở, và bị phạt tiền giống mức ngoại kiều vi phạm.

Tuy Dụ lệnh chỉ đề cập chung “ngoại kiều”, nhưng nhìn vào, ai cũng nhận ra, đối tượng của nó là bọn Hoa kiều, vì 11 nghề đó là những hoạt động chính của họ. Ngày 24-10-1956 thủ tướng Ngô Đình Diệm đắc cử tổng thống. Tuy nhiên, cho đến ngày 13-11-1956, theo Nguyễn Văn Vàng, Đặc ủy Trung Hoa sự vụ của chính quyền Sài Gòn lúc đó, thì “rất ít Hoa kiều đến khai nhận Việt tịch, Dụ 48 chưa đem lại kết quả khả quan”.Ngày 28-11-1956, Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng quốc gia đặc trách kinh tế mời tất cả các đại diện nghề nghiệp Hoa kiều của Văn phòng Thương mại Chợ Lớn đến để nói rõ chính sách quốc tịch của chánh phủ. Ông Thơ cảnh cáo: “Những người ngoại quốc nào còn muốn tiếp tục hoạt động kinh thương, vấn đề chính yếu là phải giải quyết cho xong vấn đề quốc tịch. Đừng nghĩ rằng chánh phủ sẽ không có biện pháp đối với những ai không muốn tiếp tục hành nghề và chịu thất nghiệp. Giải pháp đã có sẵn, nó nằm trong tầm tay của mỗi quí vị, và quí vị hãy tự quyết định lấy”.

Với hai Dụ lệnh 52 và 53, quy chế ngoại kiều ưu đãi bao đời nay dành cho bọn Ba Tàu đã hoàn toàn bị bãi bỏ. Bị choáng bởi liều thuốc quá sốc, phản ứng của họ rất dữ. Họ tẩy chay thuốc lá điếu và không tiêu thụ thịt heo (là hai ngành nghề chính của người Việt lúc bấy giờ mới hình thành), thành lập Hội Hoa kiều tẩy chay hàng hóa Mỹ tại Việt Nam (nhằm làm áp lực buộc Hoa Kỳ phải góp phần can thiệp để Diệm thu hồi các Dụ lệnh trên). Chính quyền một mặt xoa dịu dư luận bằng cách cấp cho Hoa kiều thất nghiệp mỗi người được 200.000 đồng, nhưng hiệu lực của Dụ lệnh vẫn cứ y nguyên giá trị, bất dịch.

Cảnh sát Sài Gòn được phép bắt giữ và tịch thu thẻ căn cước Đài Loan của Hoa kiều để cấp lại thẻ căn cước Việt Nam cho họ. Cửa hàng của Hoa kiều kinh doanh 11 ngành nghề nói trên phải gấp rút chuyển tên người sở hữu để đứng tên thay thế.

Kinh tế miền Nam trong tháng 7 và 8-1957 bị ngừng trệ, hầu như tê liệt. Người Tàu ồ ạt rút hết tiền ký thác trong các ngân hàng, tổng số tiền rút ra từ tháng 11-1956 đến tháng 7-1957 là từ 800 triệu đến 1,5 tỷ đồng, tương đương 1/6 lượng tiền mặt đang lưu hành trên toàn quốc. Đồng bạc Việt Nam tại thị trường chứng khoán Hồng Kông liên tiếp bị mất giá từ 35 đồng/1 USD (1956) tăng lên 90 đồng (1957) và 105 đồng trên thị trường chợ đen.

Tiếp sức đồng hương, Hoa kiều Đông Nam Á cũng làm áp lực bằng cách tẩy chay hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam mà không do người Tàu bán. Cụ thể Hồng Kông từ chối mua 40.000 tấn gạo mặc dầu đã ký hợp đồng từ trước, số gạo này khi được chở qua Singapore thì cũng bị bọn Tàu Sing từ chối không chịu mua. Báo chí Hoa ngữ ở Đông Nam Á đồng loạt lên tiếng đả kích chế độ Diệm bài Hoa. Trung cộng nhân dịp này cũng chỉ trích chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa nhằm tranh thủ cảm tình của Ba Tàu hải ngoại. Việt cộng đẩy mạnh “công tác Hoa vận” ở Sài Gòn-Chợ Lớn, lôi kéo người Tàu theo “cách mạng”. Đất nước vừa mới thành lập đã gặp phải ngay cơn thử thách lớn, tình hình cực kỳ nguy hiểm quyết định tồn vong của chế độ Cộng hòa non trẻ.

Thật ra, người Tàu cũng nhận biết sự kinh doanh miễn thuế của mình là bất lương; không gì đáng hỗ thẹn bằng thụ hưởng lợi ích từ một đất nước đã cưu mang mình mà lại không phải đóng góp gì để đền đáp lại. Nhưng vấn đề họ lấy làm lo sợ nhất khi nhập Việt tịch là… phải thi hành quân dịch. Đã xa rồi cái thời người Tàu liều thân xông pha sa trường đền ơn tri ngộ của các Chúa Nguyễn. Những thế hệ Ba Tàu sau này lớn lên đã trở lại bẩm tính thiên phú là kinh doanh, mưu cầu lợi nhuận, họ không muốn phải tham gia vào trò chơi chiến tranh của người Việt. Tài sản dẫu tiêu tán thoòng vẫn có thể gầy dựng lại, nhưng sinh mạng nếu lỡ mất đi thì không thể thu hồi.

Giờ đây, họ bị bắt buộc phải lựa chọn giữa việc tiếp tục kinh doanh với điều kiện phải cho phép con em mình tham gia chiến tranh, tái diễn trò Quốc-Cộng sinh tử ở Việt Nam; và một bên là phải rời bỏ mảnh đất mình đã mấy đời gắn bó này. Huống chi, Hoa Kỳ đang ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa, cơ hội đầu tư đang mở rộng hơn bao giờ hết. Cuối năm ấy, hầu hết Hoa kiều đang sinh sống ở Nam Việt Nam đều nhập Việt tịch, chỉ hơn 40.000 người “hồi hương” về Đài Loan. Cuối cùng “cắc chú” đã phải hiểu ra: không thể sinh sống trên một đất nước mà không tuân thủ luật pháp của nước đó. Từ nay, máu của người Tàu đã cùng hội nhập với máu của người Việt anh em, để gìn giữ nền Cộng Hòa.

Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Input symbols

Chính sách cưỡng bách Hoa kiều nhập Việt tịch của Tổng thống Ngô Đình Diệm

10 ngày sau (6-9-1956), Tổng thống Ngô Đình Diệm lại ra Dụ số 53, hạ đòn quyết định, đánh thẳng vào nồi cơm của bọn Ba Tàu. Dụ 53 chỉ định những nghề nghiệp mà các ngoại kiều, hay các hội xã, công ty ngoại quốc không được hoạt động, đó là....

Chính sách cưỡng bách Hoa kiều nhập Việt tịch 
của Tổng thống Ngô Đình Diệm
               
                           Tổng thống Ngô Đình Diệm.

A. Sơ lược bối cảnh lịch sử di dân Tàu ở Việt Nam

Đất Giao Chỉ xưa vốn thuộc Tàu, nên đã ngàn năm nay, việc người Tàu sang đây sinh sống là chuyện thường tình. Nhưng di dân Tàu ồ ạt thành đoàn thành lũ xuống phương Nam là bắt đầu từ giữa thế kỷ XVII. Họ là những kẻ bất phục Mãn Thanh, tìm sang Nam để gìn giữ nề nếp phong tục người Hán. Họ tập hợp nhau lập thành làng, gọi làng Minh Hương (làng của người Minh). Để phân biệt, ta hiểu “người Minh Hương” là những di dân chính trị. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, ta có những “Hoa kiều”, đó là những di dân kinh tế.

Không có dân tộc nào tôn thờ chữ viết như người Tàu. Nghệ thuật viết chữ được luyện thành thư pháp, như một tôn giáo để di dưỡng tâm hồn. Văn tự thành chiếc cầu nối giữa người phàm với thần linh. Lưu lạc đến bất cứ đâu, việc họ bắt tay thực hiện đầu tiên là lập hội quán, để tập hợp thành cộng đồng tương trợ nhau; kế đó là xây dựng trường học, để bảo tồn chữ Hán.

Thời Hậu Lê, người Tàu đã được hưởng quy chế ngoại kiều. Người Việt vốn chuộng hư danh phù phiếm, xem thường việc kinh thương, lại say mê đánh giết nhau, nên ngay từ Trịnh-Nguyễn phân tranh, người Tàu đã nắm trọn độc quyền khai thác khoáng sản, buôn bán gạo muối và kinh doanh vận tải; giang sơn Đại Việt chia đôi chẳng ngăn được người Tàu ở hai Đàng (Trong và Ngoài) hiệp lực với nhau, chi phối và thao túng toàn bộ kinh tế Đại Việt. Người Tàu chí thú làm ăn, cung cấp lương thực và hàng hóa cho hai phe đồng chủng Tiên Rồng đánh giết nhau, và họ trở nên giàu có, một phần nhờ ở sự hiếu chiến oai hùng của người Việt.

Sự giàu có của người Tàu được Nguyễn Huệ ghé mắt xanh, đưa vào diện quan tâm đặc biệt. Những cuộc chém giết để cướp của của người Tàu được giặc Tây Sơn tổ chức quy mô: San bằng Cù Lao Phố Đồng Nai, hủy diệt Mỹ Tho, tàn sát Chợ Lớn. Huệ thành hiện thân của quỷ dữ, người Tàu bị đẩy vào thế phải đâu lưng cùng Nguyễn Ánh để chung sức tiêu diệt hung đồ bạo ngược.

Ghi nhớ công hãn mã khuông phò của bọn người Tàu, khi lên ngôi, Gia Long đã dành cho Hoa kiều những đặc ân lớn: nhẹ thuế khóa, miễn lao dịch và không phải đóng thuế thân. Vua lại cho phép họ thành lập bảy đại bang theo phương ngữ, được quyền tự trị, là Phúc Kiến, Phúc Châu, Triều Châu, Quảng Châu, Quế Châu, Lôi Châu và Hải Nàm. Từ sau đời Minh Mạng, tuy cũng có lúc Hoa kiều bị siết chặt, ngăn ngừa họ phóng túng vô cương, nhưng Hoa kiều vẫn luôn là cộng đồng được ưu ái nhất ở Việt Nam. Đến khi người Pháp vào cai trị, những quy chế ưu đãi của Nguyễn triều dành cho Hoa kiều được duy trì hầu như không đổi, thế lực Hoa kiều cứ thế ngày một lớn mạnh.

Kể từ sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam chia thành hai miền Nam Bắc thì tình hình làm ăn của Hoa kiều không còn hanh thông như trước.

Trước đó, ngoài Bắc, khi cộng sản nắm quyền, các bang hội Tàu s9ã bị giải tán, trường dạy chữ Tàu bị đóng cửa. Không giữ được văn tự và bang hội, người Tàu đất Bắc nhanh chóng bị đồng hóa với dân bản địa, không thể phân biệt được họ với người Việt bình thường nữa. Trong Nam, chánh quyền không có được lợi thế sắt máu của chuyên chính vô sản, nên đã phải chật vật hơn rất nhiều trong việc đưa cộng đồng Hoa kiều hòa nhập vào khối đoàn kết toàn dân, đồng thời vẫn để họ giữ gìn bản sắc, cũng như phát huy sở trường kinh thương.

B. Diễn biến công cuộc bắt buộc Hoa kiều nhập Việt tịch

Nhận thấy Hoa kiều đã được hưởng lợi lộc khổng lổ ở Việt Nam nhưng lại không hề phải thực thi nghĩa vụ gì đối với quốc gia. Quy chế ngoại kiều đã giúp họ không phải đóng thuế kinh doanh; thể chế bang hội tự trị khiến họ trở thành những tiểu quốc gia trong một quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Không chịu sự tài phán của tòa án Việt Nam, chẳng cần sự bảo vệ và giúp đỡ của cảnh sát, tự họ giải quyết với nhau theo phán quyết của các Bang trưởng. Sự khép kín của cộng đồng Hoa kiều là hành vi ích kỷ và bội bạc với đất nước đã cưu mang mình.

Để kiến thiết kinh tế cũng như tập hợp được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, việc đưa Hoa kiều hội nhập là vấn đề quan trọng hàng đầu. Chánh phủ Ngô Đình Diệm vừa mới được thành lập ở miền Nam ngày 26-10-1955, thì chỉ hơn một tháng sau, vào ngày 7-12-1955, Thủ tướng đã ban hành Dụ số 10 quy định về Bộ Luật quốc tịch Việt Nam. Điều 12 ghi rõ: “Con chính thức mà mẹ là người Việt Nam, và cha là người Trung Hoa, nếu sinh đẻ ở Việt Nam thì là người Việt Nam”. Theo đó, tất cả những ai gốc Tàu sinh ra ở Việt Nam đều bắt buộc phải nhập Việt tịch, để được có quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Việt Nam.

Bọn người Tàu vẫn được hưởng đặc quyền đặc lợi bấy lâu, nay bỗng dưng thấy mình có nguy cơ bị thất sủng nên đã kiên quyết bất hợp tác với chánh quyền. Hơn 800.000 thần tử Hoa Hạ ở miền Nam Việt Nam chăm chú hướng về Đài Loan, trông chờ sự can thiệp của Tưởng Giới Thạch [Con số 800.000 này không tính người Minh Hương; thời điểm đó tổng dân số Việt Nam Cộng Hòa khoảng hơn 10 triệu].

Đinh ninh Thống chế Thạch sẽ “trị” được Thủ tướng Diệm, nên Hoa kiều xem Dụ lệnh số 10 như gió thoảng ngoài tai, không đáng để ý. Trước sự chây ỳ táo tợn khinh thường luật nước đó, chánh quyền ban hành tiếp Dụ số 48 (ngày 21-8-1956), Sửa đổi Bộ Luật Quốc tịch Việt Nam, Điều 16 quy định: Hoa kiều thổ sanh (sinh trưởng tại Việt Nam) sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải nhập và khai nhận quốc tịch Việt Nam, hoặc nếu không chịu nhập tịch thì có thể xin hồi hương (về Đài Loan) trước ngày 31-8-1957. Thời hạn ấn định cho những Hoa kiều sinh tại Việt Nam phải làm khai sinh để được cấp thẻ căn cước sẽ kết thúc ngày 08-4-1957, việc kiểm tra sẽ hoàn tất vào ngày 22-6-1957. Bằng Dụ lệnh này, Diệm cho thấy sự kiên quyết của chánh quyền để buộc Hoa kiều vào khuôn phép. Ai không muốn nhập tịch cứ sang Đài Loan sinh sống, mỗi người sẽ được chánh quyền cấp cho 400 đồng để “hồi hương”, đúng theo luật định.

Ngày 29-8-1956, Thủ tướng ban hành Dụ số 52 qui định Hoa kiều sinh sống tại miền Nam phải mang quốc tịch Việt. Khi có quốc tịch, họ được tự do giao dịch, đi lại và buôn bán. Người Tàu phải Việt hóa tên họ (như Trịnh, Quách, Mạch, Lâm, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trần, Trương, v.v…) chứ không được xưng các tên ngoại quốc hay tên gọi riêng (như Chú, A, Chế…) kể cả bí danh, trong những văn kiện chính thức. Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa, phải viết bằng Việt ngữ.

Một cửa hàng chạp-phô của người Tàu vào đầu thế kỷ XX.
Một cửa hàng chạp-phô của người Tàu vào đầu thế kỷ XX.

10 ngày sau (6-9-1956), Diệm lại ra Dụ số 53, hạ đòn quyết định, đánh thẳng vào nồi cơm của bọn Ba Tàu. Dụ 53 chỉ định những nghề nghiệp mà các ngoại kiều, hay các hội xã, công ty ngoại quốc không được hoạt động, đó là: 1. Buôn bán cá và thịt; 2. Buôn bán chạp-phô (tạp hóa); 3. Buôn bán than, củi; 4. Buôn bán xăng, dầu lửa và dầu nhớt (trừ các hãng nhập cảng); 5. Cầm đồ bình dân; 6. Buôn bán vải sồ, tơ lụa, chỉ sợi, …; 7. Buôn bán sắt, đồng thau vụn; 8. Nhà máy xay lúa; 9. Buôn bán ngũ cốc; 10. Chuyên chở hàng hóa, hành khách bằng xe hơi, tàu hay thuyền; 11. Trung gian ăn huê hồng. Những ngoại kiều đang hoạt động những nghề trên phải thôi các nghề đó trong vòng 6 tháng đối với các nghề từ số 1 đến số 7, và một năm đối với các nghề từ số 8 đến số 11. Những ai vi phạm Dụ này sẽ bị phạt tiền từ 50.000 cho đến 5 triệu đồng, và có thể bị trục xuất. Người Việt Nam nào thông đồng với ngoại kiều vi phạm thì bị phạt 6 tháng đến 3 năm tù ở, và bị phạt tiền giống mức ngoại kiều vi phạm.

Tuy Dụ lệnh chỉ đề cập chung “ngoại kiều”, nhưng nhìn vào, ai cũng nhận ra, đối tượng của nó là bọn Hoa kiều, vì 11 nghề đó là những hoạt động chính của họ. Ngày 24-10-1956 thủ tướng Ngô Đình Diệm đắc cử tổng thống. Tuy nhiên, cho đến ngày 13-11-1956, theo Nguyễn Văn Vàng, Đặc ủy Trung Hoa sự vụ của chính quyền Sài Gòn lúc đó, thì “rất ít Hoa kiều đến khai nhận Việt tịch, Dụ 48 chưa đem lại kết quả khả quan”.Ngày 28-11-1956, Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng quốc gia đặc trách kinh tế mời tất cả các đại diện nghề nghiệp Hoa kiều của Văn phòng Thương mại Chợ Lớn đến để nói rõ chính sách quốc tịch của chánh phủ. Ông Thơ cảnh cáo: “Những người ngoại quốc nào còn muốn tiếp tục hoạt động kinh thương, vấn đề chính yếu là phải giải quyết cho xong vấn đề quốc tịch. Đừng nghĩ rằng chánh phủ sẽ không có biện pháp đối với những ai không muốn tiếp tục hành nghề và chịu thất nghiệp. Giải pháp đã có sẵn, nó nằm trong tầm tay của mỗi quí vị, và quí vị hãy tự quyết định lấy”.

Với hai Dụ lệnh 52 và 53, quy chế ngoại kiều ưu đãi bao đời nay dành cho bọn Ba Tàu đã hoàn toàn bị bãi bỏ. Bị choáng bởi liều thuốc quá sốc, phản ứng của họ rất dữ. Họ tẩy chay thuốc lá điếu và không tiêu thụ thịt heo (là hai ngành nghề chính của người Việt lúc bấy giờ mới hình thành), thành lập Hội Hoa kiều tẩy chay hàng hóa Mỹ tại Việt Nam (nhằm làm áp lực buộc Hoa Kỳ phải góp phần can thiệp để Diệm thu hồi các Dụ lệnh trên). Chính quyền một mặt xoa dịu dư luận bằng cách cấp cho Hoa kiều thất nghiệp mỗi người được 200.000 đồng, nhưng hiệu lực của Dụ lệnh vẫn cứ y nguyên giá trị, bất dịch.

Cảnh sát Sài Gòn được phép bắt giữ và tịch thu thẻ căn cước Đài Loan của Hoa kiều để cấp lại thẻ căn cước Việt Nam cho họ. Cửa hàng của Hoa kiều kinh doanh 11 ngành nghề nói trên phải gấp rút chuyển tên người sở hữu để đứng tên thay thế.

Kinh tế miền Nam trong tháng 7 và 8-1957 bị ngừng trệ, hầu như tê liệt. Người Tàu ồ ạt rút hết tiền ký thác trong các ngân hàng, tổng số tiền rút ra từ tháng 11-1956 đến tháng 7-1957 là từ 800 triệu đến 1,5 tỷ đồng, tương đương 1/6 lượng tiền mặt đang lưu hành trên toàn quốc. Đồng bạc Việt Nam tại thị trường chứng khoán Hồng Kông liên tiếp bị mất giá từ 35 đồng/1 USD (1956) tăng lên 90 đồng (1957) và 105 đồng trên thị trường chợ đen.

Tiếp sức đồng hương, Hoa kiều Đông Nam Á cũng làm áp lực bằng cách tẩy chay hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam mà không do người Tàu bán. Cụ thể Hồng Kông từ chối mua 40.000 tấn gạo mặc dầu đã ký hợp đồng từ trước, số gạo này khi được chở qua Singapore thì cũng bị bọn Tàu Sing từ chối không chịu mua. Báo chí Hoa ngữ ở Đông Nam Á đồng loạt lên tiếng đả kích chế độ Diệm bài Hoa. Trung cộng nhân dịp này cũng chỉ trích chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa nhằm tranh thủ cảm tình của Ba Tàu hải ngoại. Việt cộng đẩy mạnh “công tác Hoa vận” ở Sài Gòn-Chợ Lớn, lôi kéo người Tàu theo “cách mạng”. Đất nước vừa mới thành lập đã gặp phải ngay cơn thử thách lớn, tình hình cực kỳ nguy hiểm quyết định tồn vong của chế độ Cộng hòa non trẻ.

Thật ra, người Tàu cũng nhận biết sự kinh doanh miễn thuế của mình là bất lương; không gì đáng hỗ thẹn bằng thụ hưởng lợi ích từ một đất nước đã cưu mang mình mà lại không phải đóng góp gì để đền đáp lại. Nhưng vấn đề họ lấy làm lo sợ nhất khi nhập Việt tịch là… phải thi hành quân dịch. Đã xa rồi cái thời người Tàu liều thân xông pha sa trường đền ơn tri ngộ của các Chúa Nguyễn. Những thế hệ Ba Tàu sau này lớn lên đã trở lại bẩm tính thiên phú là kinh doanh, mưu cầu lợi nhuận, họ không muốn phải tham gia vào trò chơi chiến tranh của người Việt. Tài sản dẫu tiêu tán thoòng vẫn có thể gầy dựng lại, nhưng sinh mạng nếu lỡ mất đi thì không thể thu hồi.

Giờ đây, họ bị bắt buộc phải lựa chọn giữa việc tiếp tục kinh doanh với điều kiện phải cho phép con em mình tham gia chiến tranh, tái diễn trò Quốc-Cộng sinh tử ở Việt Nam; và một bên là phải rời bỏ mảnh đất mình đã mấy đời gắn bó này. Huống chi, Hoa Kỳ đang ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa, cơ hội đầu tư đang mở rộng hơn bao giờ hết. Cuối năm ấy, hầu hết Hoa kiều đang sinh sống ở Nam Việt Nam đều nhập Việt tịch, chỉ hơn 40.000 người “hồi hương” về Đài Loan. Cuối cùng “cắc chú” đã phải hiểu ra: không thể sinh sống trên một đất nước mà không tuân thủ luật pháp của nước đó. Từ nay, máu của người Tàu đã cùng hội nhập với máu của người Việt anh em, để gìn giữ nền Cộng Hòa.

BẢN TIN MỚI NHẤT

XUÂN VẪN NỒNG NÀN - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Tưởng là hoa sầu vô ưu Hoá ra rực trời nhung nhớ Mùa xuân vẫn nồng nàn đó Chẳng hề hư hao mộng mơ

Xem Thêm

50 năm từ Tết Mậu Thân đến Mậu Tuất

Vào những ngày chuẩn bị đón năm mới này, một lần nữa dư luận lại dậy sóng vì câu chuyện của 50 năm trước, biến cố Mậu Thân 1968.

Xem Thêm

Hung thủ xả súng khiến 17 người thiệt mạng đã ra cảnh báo từ một năm trước?

Theo đài CNN, anh Ben Bennight, một blogger 36 tuổi trên YouTube sống tại Mississippi, là người phát hiện thấy một bình luận gây lo ngại với một video anh đưa lên trang YouTube.

Xem Thêm

Dấu ấn tuần qua: Thực tế man rợ đằng sau cuộc ‘tấn công quyến rũ’ của Triều Tiên ở Olympic PyeongChang

Tuy nhiên, các trại cải tạo này chỉ đơn giản là nhà tù nằm trong một nhà tù lớn hơn. Toàn bộ đất nước này là một nhà tù khổng lồ. Bởi tình trạng suy dinh dưỡng lan rộng, người Triều Tiên thấp hơn người Hàn Quốc từ 30mm đến 78 mm.

Xem Thêm

MÙNG HAI TẾT - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Mùng hai tôi khai bút hơi quá tải hay lạm phát chút. Xin lỗi quý vị "nhĩ mục quan chiêm" giai phẩm Lá Cải, bước vô thềm năm mới vạn sự tốt lành, để còn chúc tụng những mùa xuân trước mặt tràn đầy hương sắc nhân gian chân thiện mỹ bất tận tuyệt vời chứ.

Xem Thêm

Đêm qua em mơ gặp con Tuất - Nguyễn Bá Chổi

( HNPD ) Sau khi lì xì chúc mừng năm mới cho bạn gái đồng sàng đồng mộng, Cu Tèo chưa chịu lăn đùng ra ngủ

Xem Thêm

BÀN RA TÁN VÀO

Đề bài :Ông giáo già gốc Huế ở đất Bắc làm thơ như hơi thở...

Đảng"ta" nói CÓ là KHÔNG......Nói KHÔNG là CÓ;nói TRONG là NGOÀI......Nòi NGẮN phải hiểu là DÀI......MƯỜI NGÀY,có thể là VÀI CHỤC NĂM.....TƯ DO là bị HÃM GIAM......NGôi TÙ ,đ̉ng nói là NẰM HILTON.....

Xem Thêm

Đề bài :Không chửi không được - Việt Nhân

Đảng "ta" đáng chửi vô cùng.......Bao che.không chửi thì khùng hoặc GIAN.....Chửi phường bán nước buôn dân......Chính là bộc bạch thiện tâm con người.....Đã yêu CHÂN,THIỆN,MỸ rồi.....Đương nhiên ghét lũ gian,hôi tham hèn....

Xem Thêm

Đề bài :THIẾU KÍNH TRỌNG VÀ LỄ ĐỘ TRƯỚC MẮT THẾ GIỚI

Ca`ng nga`y dan My~ ca`ng tha'y ro~ bo.ma.t pha?n dan ha.i nuo'c cua ca'i dang luu manh goi la` dang Dan chu. Ho.cong khai ra ma.t cho'ng la.i moi chi'nh sa'ch cua chi'nh phu Trump, ung ho. he't mi`nh bon illegals DACA va` to? tha'i do. ma't da.y khi TT Trump doc dien van Lien bang. Mong ra`ng cu?tri se~ sa'ng suo't loa.i ra nhung con sau mo.t na`y trong ky` ba`u cu? tha'ng 11 nam nay.

Xem Thêm

Đề bài :Bài viết chối tội mới nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Lời cuối cho câu chuyện quá buồn

thăng này vô ý tự thú cái BẢN CHÂT GIAN ,MẠO DANH ,VƠ VÀO...Nỏ đã GIAN như vây thì ...hết ý ! ! !

Xem Thêm

Đề bài :THIẾU KÍNH TRỌNG VÀ LỄ ĐỘ TRƯỚC MẮT THẾ GIỚI

Thời kỳ TT Obama,tôi đã ko bàu cho đang CH bất cứ phiếu nào chỉ vì tôi thấy các vị dân cử của đảng CH hầu như chống lại mọi kế hoạch của Obama...Nhưng bây giờ tôi thấy rõ hơn,các vị dân cử của DC còn tệ hơn nhiều lần.Họ ko còn đủ tư cách của 1 vị dân cử nữa.Dân biểu mà ko chào đón TT của QG thì chỉ có loại vô học,ngay cả tại VN,sách Quốc văn Giáo khoa thư đã dạy học trò phải biết kính trọng người lớn hơn mình,người đại diện dân tộc các nước khác,...Họ phải từ chức cho nước Mỹ khỏi xấu hổ.

Xem Thêm

Đề bài : Đá bóng - Hà Thượng Thủ

Đá bóng chỉ là môn thể thao.......Nhưng là cơ hội để tự hào :.....Khoe mông,khoe vú,khoe"mặt bác"......."Cụ Hồ" của tớ cũng xôn xao....

Xem Thêm

Đề bài :Mang quốc tịch Việt Cộng nhục nhã đủ đường?

Trong chế độ VGCS đứa nào càng làm bậy lại càng được đề bạt lên chưc vụ lớn hơn..Như tên LVB ăn trôm sò tại Mỹ bây giờ là ĐS VGCS tại LHQ..Oai như cóc...??vv..vv Nên nhớ những tên VC làm bậy này , theo luật của VGCS thì họ chỉ có phạm luật dân sự . nhưng không có vi phạm gì đối với luật Đảng, vì luật Đảng còn trên cả Hiến Pháp, nên những vi phạ̣m luật nước đều nhẹ, do đó tên VC nào từ nhỏ tới lớn đều được xử nhẹ hều..Cái gì tham ô được cứ tự nhiên xử dụng, đảng không truy thu, vì của đó là của dân chứ không phải của đảng..Cứ vô tư..Đó là phân thưởng cho những ai trung thành phục vụ Đảng.!

Xem Thêm

Đề bài :Mang quốc tịch Việt Cộng nhục nhã đủ đường?

Con chó ốm yếu vì thiếu ăn thì chủ nuôi mắc cở,xấu hổ.....Việt cộng man rợ thì người Việt tự trọng phải nhục lây (dù chính VC không biết nhục)Thật là : "CHÓ GẦY HỔ MẶT NGƯỜI NUÔI "........CỘNG NÔ MAN RỢ,DÂN TÔI BẼ BÀNG.......

Xem Thêm

Đề bài :Mang quốc tịch Việt Cộng nhục nhã đủ đường?

Mot bai rat duoc hoan ho va cho nguoi tre mo dau ra va dung bang hai chan tai VN chung ta theo toi nghi VN chung ta nhung nhuoi me VN chung ta sinh ra ho hoan thieu dinh duong nen ho chi bo khong thoi mot nuoc thay xau ho tu lanh dao cho toi nguoi dan toan thu vo hoc .

Xem Thêm

Đề bài :SAU 50 NĂM HUẾ 1968 - CAO MỴ NHÂN

Neu cac tuong lanh dao VNCH khong ra lenh tra tu do cho sinh vien tranh dau Hue thang 11/1963 thi nhung ke noi tuyen cho VC nhu HP Ngoc Tuong, Ngoc Phan, Ng Dac Xuan, Ton That Duong Ky, van con nam trong tu va khong co co hoi chi diem quan can chanh VNCH cho CS chon song. Ve cai chet cua dan Hue nam Mau Than, phe Cong San va cac tuong lanh VNCH nhu Duong van Minh, N V Thieu, Ng Cao Ky deu nhuom mau. Mot ben CS nam vung lam sat thu, mot ben cac tuong lanh dao tha cac dao phu thu ra hoat dong de tan sat dan, hai ben deu co toi.

Xem Thêm

TIN MỚI

XUÂN VẪN NỒNG NÀN - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Tưởng là hoa sầu vô ưu Hoá ra rực trời nhung nhớ Mùa xuân vẫn nồng nàn đó Chẳng hề hư hao mộng mơ

Xem Thêm

50 năm từ Tết Mậu Thân đến Mậu Tuất

Vào những ngày chuẩn bị đón năm mới này, một lần nữa dư luận lại dậy sóng vì câu chuyện của 50 năm trước, biến cố Mậu Thân 1968.

Xem Thêm

Hung thủ xả súng khiến 17 người thiệt mạng đã ra cảnh báo từ một năm trước?

Theo đài CNN, anh Ben Bennight, một blogger 36 tuổi trên YouTube sống tại Mississippi, là người phát hiện thấy một bình luận gây lo ngại với một video anh đưa lên trang YouTube.

Xem Thêm

Dấu ấn tuần qua: Thực tế man rợ đằng sau cuộc ‘tấn công quyến rũ’ của Triều Tiên ở Olympic PyeongChang

Tuy nhiên, các trại cải tạo này chỉ đơn giản là nhà tù nằm trong một nhà tù lớn hơn. Toàn bộ đất nước này là một nhà tù khổng lồ. Bởi tình trạng suy dinh dưỡng lan rộng, người Triều Tiên thấp hơn người Hàn Quốc từ 30mm đến 78 mm.

Xem Thêm

MÙNG HAI TẾT - CAO MỴ NHÂN

(HNPD) Mùng hai tôi khai bút hơi quá tải hay lạm phát chút. Xin lỗi quý vị "nhĩ mục quan chiêm" giai phẩm Lá Cải, bước vô thềm năm mới vạn sự tốt lành, để còn chúc tụng những mùa xuân trước mặt tràn đầy hương sắc nhân gian chân thiện mỹ bất tận tuyệt vời chứ.

Xem Thêm

Đêm qua em mơ gặp con Tuất - Nguyễn Bá Chổi

( HNPD ) Sau khi lì xì chúc mừng năm mới cho bạn gái đồng sàng đồng mộng, Cu Tèo chưa chịu lăn đùng ra ngủ

Xem Thêm

QUÊN MỜI GỌI HỒN THƠ - PHẠM ĐỨC NHÌ

( HNPD ) Cách đây mấy tháng tôi đã có hân hạnh viết lời bình cho bài thơ Con Về Ngõ Nhỏ của Ngọc Mai

Xem Thêm

CUNG CHÚC TÂN XUÂN HẢI NGOẠI PHIẾM ĐÀM VẠN SỰ TỐT LÀNH THĂNG TIẾN THÀNH CÔNG - CMN

(HNPD) So với tháng năm vừa kết thúc Như bằng tâm ý mới canh tân

Xem Thêm

Phạm Quỳnh: TÂM LÝ NGÀY TẾT

TẾT không phải hoàn toàn không có nghĩa lý, mà lại còn bao trùm cả một “triết lý”.

Xem Thêm

460 năm Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (1558-2018)

Nay ta thử tìm hiểu về sự kiện tạm gọi là nghi án Nguyễn Uông trong mối quan hệ Nguyễn Kim, Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng với Trịnh Kiểm.

Xem Thêm